MỘT SỐ CHỈ TIÊU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI.
● Tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Đây là tiêu thức thường được nêu ra đầu tiên, để so sánh, đánh
giá qui mô, mức độ phát triển kinh tế và mức sống giữa các nước. GNP là tổng giá trị toàn bộ các sản phẩm
cuối cùng và các hoạt động dịch vụ được tạo ra hàng năm của mỗi nước; GNP không kể các sản phẩm trung
gian và các phần giá trị phải chi trả cho người nước ngoài, nhưng lại bao gồm cả phần giá trị được tạo ra ở
nước ngoài mà thuộc quyền sở hữu của người trong nước.
● Tổng sản phẩm trong nước (GDP). Là tiêu thức so sánh cũng thường được dùng với GNP (hoặc
thay thế GNP). GDP khác GNP ở chỗ GDP không bao gồm phần giá trị của người trong nước được tạo ra ở
nước ngoài, nhưng lại bao gồm cả những phần giá trị của người nước ngoài được tạo ra trong lãnh thổ quốc
gia. GNP nhấn mạnh khía cạnh chủ sở hữu của các giá trị được tạo ra, bất kể được tạo ra ở nơi nào. Còn
GDP nhấn mạnh khía cạnh không gian lãnh thổ của các giá trị được tạo ra, bất kể nó thuộc về ai, về quốc gia
nào. Như vậy, trong cùng một niên hạn thống kê, cùng một biểu tính và chuyển đổi thì các chỉ số GNP và
GDP chỉ bằng nhau trong 3 trường hợp sau:
(1) Khi tổng hợp trên qui mô toàn thế giới, không phân biệt quốc gia, lãnh thổ và chủ sở hữu.
(2) Những quốc gia có nền kinh tế khép kín, không đầu tư kinh doanh sản xuất ở nước ngoài, cũng
không buôn bán, liên doanh, nhận đầu tư của các nước ngoài.
(3) Nước có phần giá trị thu về từ nước ngoài cân bằng với phần giá trị phải trả cho người nước
ngoài ở trong nước (trường hợp này ít xảy ra).
▪ Hầu hết các quốc gia trên thế giới nằm trong hai trường hợp sau đây:
+ Những quốc gia có GNP > GDP: là những nước chủ đầu tư lớn, có nhiều cơ sở kinh doanh sản
xuất ở nước ngoài và nhận đầu tư của nước ngoài vào trong nước ít hơn. Đó là những nước mạnh, có nguồn
thu nhập lớn ở ngoài lãnh thổ của họ.
+ Nước có GNP < GDP: là những nước có ít nguồn lực đầu tư ra nước ngoài và chấp nhận nhiều
nguồn vốn đầu tư của nước ngoài vào trong nước; thường là những nước đang phát triển, những nước còn
lạc hậu; hoặc những nước có nhiều nguồn tài nguyên, lao động phong phú nhưng thiếu vốn đầu tư và các
phương tiện khai thác có hiệu quả.
Vì vậy, khi sử dụng GNP và GDP làm tiêu thức so sánh qui mô và mức độ phát triển kinh tế xã hội
giữa các nước trên thế giới, cần lưu ý: Tránh nhầm lẫn và đồng nhất giữa GNP và GDP. Những chỉ số GNP
và GDP là cần thiết để phác hoạ những nét lớn bộ mặt KT-XH của một quốc gia, nhưng cũng chưa đủ là
“thước đo ngắn gọn” và “tốt nhất” về tầm vóc một nền kinh tế cũng như mức sống của người dân. Ví dụ
Trung Quốc, Ấn Độ và Iran là những nước có GNP nằm trong số 20 nước dẫn đầu TG, nhưng trình độ phát
a. Nền kinh tế thế giới sau chiến tranh lần thứ II: Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, nền kinh tế
thế giới trải qua nhiều giai đoạn phát triển phức tạp. Có hai cực phát triển đối lập nhau và nền kinh tế cũng
phát triển theo 2 hướng khác nhau, đó là TBCN và XHCN.
- Hệ thống kinh tế XHCN được xây dựng trên cơ sở công hữu hoá về tư liệu sản xuất, vận hành theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu giữa các nước XHCN đã có mối liên kết kinh tế và thương mại,
hình thành tổ chức liên kết kinh tế lớn - Hội đồng tương trợ kinh tế (XEV-1949).
- Hệ thống kinh tế TBCN lại hoạt động trên nền tảng sở hữu tư nhân về TLSX, vận hành theo cơ chế
thị trường. Hệ thống này bao gồm các nước tư bản phát triển công nghiệp (20 nước) và các nước thuộc địa
hoặc nửa thuộc địa (trên 160 nước).
b. Nền kinh tế thế giới từ sau 1990 đến nay: Cuối những năm 1980, hệ thống các nước XHCN ở
Đông Âu và Liên Xô (cũ) tan rã. Cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới kết thúc, tình hình chính trị thế giới đã
chuyển từ hai cực sang đa cực, nền kinh tế thế giới cũng trở nên rất đa dạng ở từng khu vực và mỗi quốc
gia, tính chất và con đường phát triển cũng khác nhau, nhưng trong thời kỳ này nền kinh tế thế giới vẫn
chứa nhiều mâu thuẫn. Đó là: Mâu thuẫn giữa các nước phương Bắc (giàu có)
↔
các nước phương Nam
(nghèo đói); Mâu thuẫn giữa các nước phương Tây (phát triển)
↔
các nước phương Đông (chậm phát triển).
Mâu thuẫn giữa Liên hiệp châu Âu
↔
Hoa Kỳ, Nhật Bản; Mâu thuẫn trong nội bộ từng khối .v.v. Tuy
nhiên, đây cũng chỉ là những mâu thuẫn tất yếu trong quá trình phát triển. Các mặt đối lập trong tổng thể
nền kinh tế thế giới - nền kinh tế của các quốc gia ngày càng liên quan, phụ thuộc lẫn nhau, biểu hiện sự
thống nhất đa dạng.
c. Sự phân chia các nhóm nước theo trình độ trình độ phát triển:
● Nhóm 1: Các nước công nghiệp đã phát triển.
▪ Nhóm 1a. Các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Bao gồm Mỹ, Nhật, Đức, Pháp,
Ý, Anh, Canađa (thường gọi là nhóm G7). Nhóm này chiếm 70% GNP và 75% tổng sản phẩm CN toàn thế
giới. Những nước này TNBQ/người lớn nhất thế giới (> 15.000USD). Đều có CNCB' hiện đại, phát triển
đông nhất. Tiềm lực kinh tế của nhóm này vẫn dựa chủ yếu vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên. Những
nước này đều đang tiến hành CNH’, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên qui mô và tốc độ CNH’
còn hạn chế. Các nước này nằm rải rác ở Bắc Phi, Nam Phi, Trung Nam Mỹ, ĐNÁ (có thể kể thêm hai nước
khổng lồ trên thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ).
▪ Nhóm 2.c. Gồm các nước chậm phát triển (LDC). Năm 1985 LHQ ghi nhận có 33-36 nước. Đặc
trưng của những nước này là GNP/người < 330 USD, tỉ lệ mù chữ > 20%, CNCB' chiếm tỉ lệ < 10% GDP.
Đến 1990, tăng lên 42 nước (với số dân là 340 triệu người). Phân bố như sau: Châu Phi (27), châu Á (11),
châu Úc (3), châu Mỹ Latinh (1). Các nước này không chỉ nghèo về cơ sở hiện có, mà nghèo cả về tiềm
năng phát triển; nợ nước ngoài chồng chất, thường xuyên nhận trợ cấp của LHQ Quốc (chưa kể đến thiên
tai, chiến tranh sắc tộc, tôn giáo đang diễn ra ở nhiều nước).
d. Một số tổ chức liên kết kinh tế lớn hiện nay trên thế giới. Dưới tác động của cuộc cách mạng
KH-KT-CN hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và khu vực theo hướng quốc tế hoá và khu vực
hoá. Cuộc CM này đã hình thành từ giữa thế kỷ XX, hiện nay đang phát triển rất mạnh cả về chiều rộng và
chiều sâu, mang sắc thái mới của công nghệ thông tin (bao gồm cả tin học và viễn thông). Trên thế giới lại
đang xuất hiện các cuộc điều chỉnh mới, nhằm thúc đẩy nhanh chóng NSLĐ và tiến bộ xã hội. Cùng với nó
là sự kết thúc của chiến tranh lạnh, không còn sự đối đầu giữa 2 cường quốc lớn (Xô-Mỹ), xu thế hoà dịu,
hình thành thế giới đa cực. CM KH-KT-CN hiện đại đang thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá kinh tế; Xu hướng tăng cường hợp tác và nhất thể hoá kinh tế thế giới và khu vực ngày càng thể hiện rõ.
Các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ hình thành và đang hoạt động rộng rãi trong các
lĩnh vực thương mại khoa học và công nghệ, văn hoá-xã hội .v.v. Trong đó, có những hình thức tổ chức
kinh tế và thương mại quốc tế, và các tổ chức liên kết kinh tế khu vực đặc thù (tự do hoá kinh tế, thương
mại, đầu tư, thông tin) đã tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá
kinh tế. Trên thế giới đã có hàng trăm tổ chức liên kết chính phủ và hàng ngàn tổ chức phi chính phủ hoạt
động ở dạng trên. Đáng kể nhất là các tổ chức sau:
● Tổ chức thương mại thế giới (WTO). WTO được thành lập do kết quả của Hội nghị “Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (GATT)”. GATT được 30 nước ký ngày 30/10/1947. Nội dung chủ yếu
là giảm thuế quan và chống lại các biện pháp buôn bán chế tài. GATT có hiệu lực sau phiên họp đầu tiên ở
La Habana (Cu Ba) năm 1948, hội nghị thảo luận về số lượng các điều khoản giảm thuế và các mức cắt
giảm thuế quan ngày càng nhiều. Đến 1986, các Bộ trưởng thương mại GATT đàm phán lần thứ 8 tại
Urugoay với chủ đề: “Buôn bán hàng hoá và dịch vụ”, vòng đàm phán này dự kiến kéo dài 4 năm, nhưng đã
Kata, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất, Kô oét; châu Phi có 4 nước (Gabông, Nigiêria, Libi, Algiêri);
châu Mỹ La tinh có 2 nước (Vênêxuêla, Êqudo); Đông Nam Á có 1 nước (Inđônêxia). Mục đích của tổ chức
này là bảo vệ quyền lợi dân tộc của các quốc gia XK dầu lửa; hạn chế ảnh hưởng của 5 Công ty dầu lửa lớn
của Mỹ, 2 của Anh và 1 của Pháp đang hoạt động ở các nước này. Khi mới thành lập, OPEC có tác dụng
điều chỉnh giá cả, phân chia thị trường, hạn chế mức sản xuất và xuất khẩu. Đến năm 1986, do mâu thuẫn về
quyền lợi giữa các quốc gia, tổ chức này bị phân hoá. Vào những năm cuối của thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90,
do nhu cầu về dầu lửa thế giới tăng OPEC trở lại với vai trò quan trọng của mình trong hoạt động kinh tế-
thương mại. Hiện nay, OPEC chiếm 1/3 tổng sản lượng dầu mỏ TG (dẫn đầu là Arập Xêút 8,5% và Irắc
4,2% sản lượng dầu mỏ thế giới). Trên thị trường các nước TBCN thì OPEC cung cấp 45% nhu cầu. Nhưng
các nước này, CNCB' hiện đại chưa phát triển, phải nhập nhiều HTD, LT - TP.
● Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Hình thành năm 1961, chủ yếu là những nước tư
bản giàu mạnh tập hợp xung quanh Mỹ. Hiện nay có 29 nước; Bắc Mỹ 3 nước (Hoa Kỳ, Canađa, Mêhicô);
Châu Á có 3 nước (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ); Châu Úc-Đại Dương có 2 nước (Ôxtrâylia, Niu
Dilân); 15 nước EU; Ở Bắc Âu có 3 nước (Thụy Sỹ, Thuỵ Điển, Phần Lan); Ở Đông Âu có 3 nước (Séc,
Hung Ga Ri, Ba Lan). OECD là nguồn đầu tư to lớn sang các nước đang phát triển và giữ vai trò quan trọng
trong hoạt động kinh tế - thương mại thế giới, chiếm 80% kim ngạch XK và 75% GNP toàn TG.
● Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Thành lập 1967, ban đầu gồm 5 nước (Thái Lan,
Malaixia, Inđônêxia, Philipin và Singapo); Năm 1984 thêm Bruney; Năm 1995 thêm Việt Nam; Năm 1997
thêm Mianma và Lào và năm 1999 tại Hà Nội kết nạp Cămpuchia là nước thứ 10, hiện nay tính thêm Đông
Timo. Trong khu vực (trừ Singapo và Bruney) có mức thu nhập cao hơn mức trung bình của thế giới, còn lại
đều có mức thu nhập thấp hơn mức trung bình của thế giới (khoảng 1.280USD/người - chung cho cả khối,
năm 1996). Đều rất đông dân, gia tăng dân số còn cao (2%). ASEAN có thế mạnh về một số nông sản nhiệt
đới (lúa gạo, cao su, cà phê, ), khoáng sản (thiếc chiếm 35% sản lượng thế giới), dầu mỏ. Hầu hết các
nước này đều là nước nông- CN (trừ Singapo có CNCB' hiện đại khá phát triển, đã tham gia nhiều vào thị
trường thế giới). Trong khoảng 30 năm gần đây, các nước như Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia có tốc độ tăng
trưởng nền kinh tế khá cao, đã chiếm vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới. Hiện nay, ASEAN có tốc độ
phát triển kinh tế khá mạnh, có ảnh hưởng lớn trong khu vực Đông Nam Á.
● Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Tổ chức này được thành lập do
sáng kiến của Ôxtrâylia tại “Hội nghị Bộ trưởng kinh tế-thương mại và ngoại thương” của 12 nước khu vực
Châu Á-TBD họp tại Can-bơ-rơ (thủ đô Ôxtrâylia) tháng 11/1989. Hiện nay, APEC có 18 nước thành viên.
“Thị trường chung Nam Mỹ-MERCOSUR) đi vào hoạt động, gồm 4 nước (Achentina, Braxin, Urugoay, và
Paragoay). Dân số khoảng 200 triệu người, GNP khoảng 750 tỉ USD (chiếm 1/2 của châu Mỹ La tinh). Tuy
ra đời muộn, nhưng MERCOSUR được coi là một thị trường lớn thứ 4 trên thế giới. Mục đích của khối là
khuyến khích hợp tác, trao đổi kinh tế, thương mại trong khu vực và giữa MERCOSUR với các khu vực
khác (trước hết là với khu vực châu Á-TBD, trong đó có ASEAN). Nhờ việc xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa
các nước thành viên, hàng hoá trao đổi không bị đánh thuế (xuất-nhập khẩu), nên buôn bán của
MERCOSUR tăng đáng kể, đạt gần 1,5 tỉ USD. MERCOSUR chủ trương khuyến khích các nhà đầu tư trên
thế giới vào làm ăn tại đây, nhằm tạo ra một thị trường mở cửa để hàng hoá-dịch vụ-lao đông-vốn được tự
do lưu thông. Gần đây, Bôlivia, Pêru, và Chilê đã tiến hành thương lượng và xin nhập vào nhóm này,
Vênêxuêla cũng có kế hoạch thiết lập khu vực buôn bán tự do với MERCOSUR.
Ngoài ra, hiện nay trên thế giới cũng đã và đang hình thành một số tổ chức khác, nhưng chưa có vị
trí lớn và ít có quan hệ với Việt Nam. Như vậy, có thể nói toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế là những quá
trình khách quan, chúng tạo ra những cơ hội lớn chưa từng có trong lịch sử, nhưng đồng thời cũng là những
thách thức lớn đối với sự phát triển của từng quốc gia, từng khu vực. Việc lựa chọn chiến lược phát triển
quốc gia trong những điều kiện mới, nhất thiết phải tính đến quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá KTế.
3. Vị trí của Việt Nam trong phân công lao động quốc tế và khu vực
3.1. Những lợi thế của Việt Nam.
● Về vị trí địa lý (VTĐL). VTĐL ở đây không chỉ giới hạn trong toạ độ địa lý đơn thuần, mà bản
chất kinh tế của VTĐL là “địa tô chênh lệch”. VTĐL càng thuận lợi thì cho phép thu được địa tô chênh lệch
cao, (và ngược lại) VTĐL không thuận lợi chỉ đem lại “địa tô chênh lệch” thấp, thậm chí không có “địa tô
chênh lệch”, như vậy VTĐL thuận lợi chính là “lợi thế so sánh”. Nước ta, VTĐL thuận lợi được thể hiện ở
các mặt sau:
- Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á; Ở ngã tư nơi gặp gỡ của các luồng gió xuất
phát từ các trung tâm lớn bao quan. Vì vậy, tự nhiên của nước ta rất đa dạng và phong phú. Đặc điểm này có
tác động sâu sắc đến qui mô, cơ cấu và hướng phát triển kinh tế, xã hội.
- Nằm ở rìa đông bán đảo Đông Dương; gần trung tâm Đông Nam Á. Nước ta trở thành một đầu mối
giao thông quan trọng từ TBD-ÂĐD và châu Úc-Đại Dương (hoặc ngược lại). Vùng biển chủ quyền nước ta
rộng lớn giàu tiềm năng. Vị trí này cho phép Việt Nam có thể dễ dàng phát triển các mối quan hệ kinh tế -
thương mại; văn hoá, KH - KT với các nước trong khu vực và TG.
- Nằm trong khu vực đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nhất trên thế giới trong thế kỷ XXI
kỷ mới (thế kỷ XXI). Khởi đầu của Thiên niên kỷ này là những thành công trong công cuộc đổi mới nền
KT-XH trước đó đã đạt được. Điều này càng khẳng định con đường đổi mới là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp
với tình hình thực tế đất nước, tiếp cận được với những tiến bộ của cách mạng KH-KT-CN hiện đại trên thế
giới.
Những kết quả đã đạt được từ sau đổi mới: Tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế trong cơ
cấu GDP > 7,5%; Cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phát triển ổn định và tương đối toàn diện; Một số
sản phẩm công nghiệp quan trọng (điện, than, dầu khí, vật liệu xây dựng ) tăng nhiều so với trước; Nhập
siêu giảm. Giá cả ổn định; Lạm phát về cơ bản đã được đẩy lùi, có tích luỹ nội bộ; Vấn đề lao động việc làm
cơ bản đã khắc phục được; GD-YT-VH và các chính sách xã hội có bước phát triển mới; An ninh-chính trị
ổn định; Quan hệ đối ngoại mở rộng, đầu tư của nước ngoài tăng mạnh, vị trí của nước ta được nâng cao
hơn trên trường quốc tế.
● Vị trí của Việt Nam trong tổng thể kinh tế thế giới được xếp như sau: Theo báo cáo của
UNDP phân các nước thành 3 nhóm theo chỉ tiêu GNP/người (1992, có 173 nước thống kê): Nhóm thu nhập
cao (
≥
6.000USD -38 nước). Nhóm có thu nhập trung bình (từ 651 USD-6.000USD -82 nước). Nhóm có
thu nhập thấp (
≤
651USD -53 nước). Việt Nam đứng thứ 150/173 nước. Theo trình độ phát triển CN: các
nước CN phát triển (46 nước); đang phát triển, trong đó có một số nước chậm phát triển (LDC) là 127 nước.
Việt Nam thuộc nhóm TB (không thuộc LDC). Về chỉ số HDI: Nhóm cao (0,8-1,0) có 53 nước; nhóm TB
(0,5-0,79) có 65 nước và nhóm thấp (<0,5) có 55 nước. Việt Nam có chỉ số HDI là 0,514 (1992), xếp
116/173 (thuộc nhóm TB)
● Vị trí của Việt Nam trong khu vực ĐNÁ: Việt Nam đứng thứ 3 về dân số (1992) và đứng thứ 4
về diện tích lãnh thổ. GNP đứng thứ 6, GDP đứng thứ 5, bình quân GDP/ng và GDP/người còn thấp (thứ 8
và 9). Qui mô xuất khẩu chỉ chiếm 2% tổng giá trị xuất khẩu trong khu vực.
3.2. Một số hạn chế (hay thách thức)
Do nhiều nguyên nhân cả (về chủ quan và khách quan), cho nên sự phát triển KT-XH của nước ta
còn chưa vững chắc; hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao; còn nhiều yếu tố chưa đảm bảo tăng trưởng và
phát triển bền vững. Cụ thể: Trong sản xuất, xây dựng và tiêu dùng còn lãng phí lớn; Tích luỹ nội bộ còn