Luận văn "Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO tới ngành xuất khẩu gạo" - Pdf 16

Luận văn
Đề tài: "Tác động của việc Việt Nam gia
nhập WTO tới ngành xuất khẩu gạo"
1
Mục lục
Luận văn 1
Đề tài: "Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO tới ngành xuất khẩu gạo" 1
Mục lục 2
PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN HAI: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XUẤT KHẨU “GẠO” VIỆT NAM: 4
1.1. Vai trò của ngành xuất khẩu “gạo”: 4
1.2. Tình hình xuất khẩu “gạo” của Việt Nam từ khi gia nhập WTO: 6
CHƯƠNG II: MA TRẬN KẾT HỢP “SWOT” CỦA XUẤT KHẨU “GẠO”: 10
2.1. Điểm mạnh bên trong: (S – Strength) 13
2.2. Điểm yếu bên trong: ( W- Weakness) 16
2.3. Cơ hội bên ngoài: ( O – Opportunities ) 19
2.4. Thách thức bên ngoài: ( T – Theats ) 22
2.5. Phối hợp SO: 24
2.6. Phối hợp SW: 25
2.7. Phối hợp WO: 26
2.8. Phối hợp WT 27
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP 28
PHẦN BA : KẾT LUẬN 30
2
PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, ngành sản xuất lúa gạo thường chiếm 50% tổng diện tích gieo
trồng nông nghiệp và đang là nguồn kế sinh chính của hơn 60% dân số cả nước,
ảnh hưởng trực tiếp đến 2/3 hộ gia đình làm nông nghiệp trong đó có 44% số hộ
thuộc diện khó khăn và có nguy cơ tiềm ẩn tái nghèo. Với vị trí quan trọng như
vậy, ngành xuất khẩu “gạo” chính là chìa khóa của sự ổn định và phát triển nền

không những góp phần tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và tác động gián tiếp
vào nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ sở cho phát triển hạ tầng là một mục tiêu
quan trọng nhất của chính sách thương mại. Nhà nước đã và đang thực hiện các
biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu, khuyến khích khu vực
tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập, ngoại tệ
cho đất nước.
1.1.1.Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất
nước:
Quá trình công nghiệp hoá cần một lượng vốn lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị kĩ thuật công nghệ cao để có thể theo kịp nền công nghiệp hiện đại của các
nước đã phát triển. Nguồn vốn cho nhập khẩu được hình thành từ rất nhiều nguồn
vốn khác nhau:
o Đầu tư nước ngoài
o Vay nợ, viện trợ
o Thu từ hoạt động du lịch
o Xuất khẩu…
Các nguồn vốn khác quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay
cách khác ở thời kỳ sau. Nguồn vốn quan trọng nhất vẫn là xuất khẩu, xuất khẩu
quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
4
Hiện nay các nước xuất khẩu “gạo” với khối lượng lớn chủ yếu là các nước
đang phát triển: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Pakistan…Chính vì thế nguồn
ngoại tệ thu về từ xuất khẩu gạo đối các nước này là rất quan trọng.
1.1.2. Xuất khẩu đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất
phát triển:
Ngày nay với xu thế hội nhập, cơ hội và thách thức rất nhiều, các nước đều
phải phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế
và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế hoặc lợi thế so với các sản phẩm
khác nhỏ hơn. Khi gạo đã trở thành một lợi thế trong xuất khẩu của một nước thì
các nước đó sẽ tập trung vào sản xuất lúa gạo với quy mô lớn, trình độ thâm canh

tuyệt đối của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Trong quá trình sản xuất lúa gạo,
Việt Nam đã thu được những kết quả to lớn từ một nước nhập khẩu trở thành một
nước xuất khẩu thứ hai thế giới. Tuy nhiên xuất khẩu gạo Việt Nam còn chưa
tương xứng với tiềm năng sẵn có. Cần có giải pháp cụ thể cho vấn đề này.
1.2. Tình hình xuất khẩu “gạo” của Việt Nam từ khi gia nhập
WTO:
1.2.1. Kim ngạch xuất khẩu:
Công tác xuất khẩu “gạo” trong những năm qua đã đạt được nhiều thành
tích đáng khích lệ. Qui mô xuất khẩu gạo ngày càng mở rộng với khối lượng và
kim ngạch tăng với tốc độ khá cao. Xét về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu từ khi
Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, bên cạnh một số sản phẩm nông sản mang tính
truyền thống như lạc nhân, hạt tiêu, cà phê, đỗ tương, gạo đã trở thành một mặt
hàng nông sản mang về cho đất nước một nguồn ngoại tệ xuất khẩu rất lớn. Tốc độ
tăng trưởng về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu “gạo” tăng lên một cách đáng
kinh ngạc.
Năm 2007,
6
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, lượng gạo cả nước xuất khẩu đến
nay đã đạt mức 4,5 triệu tấn với kim ngạch trị giá 1,5 tỷ USD. Đặc biệt trong năm
này, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng đáng kể và lần đầu tiên ngang giá với
gạo Thái Lan. Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, trong bài Xuất khẩu nông
sản: "Bay qua vùng thời tiết xấu”, năm 2008 xuất khẩu gạo đạt 4,7 triệu tấn, kim
ngạch đạt 2,9 tỉ đô la Mỹ (tính ra, giá bán bình quân 617,02 đô la Mỹ/tấn).
Năm 2009, thị trường hàng hoá thế giới chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trong đó có lúa gạo. Dưới sự điều hành
xuất khẩu linh hoạt của Chính phủ, năm qua, cả nước đã xuất khẩu được 6,052
triệu tấn gạo, kim ngạch XK gần 2,7 tỉ USD, đây là năm có số lượng xuất khẩu
nhiều nhất từ trước đến nay; trong đó chủng loại gạo cao cấp chiếm đến 40, 25%.
Tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,463 tỉ USD (giá FOB); về số lượng tăng 29,35% so
năm 2008. Đặc biệt, tỷ lệ gạo cao cấp XK đã đạt 50% (những năm trước chỉ

Philippines vẫn dẫn đầu cả về lượng và kim ngạch, riêng tháng 4/2010 xuất
sang Philippines 229.030 tấn gạo, trị giá 153,5 triệu USD (chiếm 31,56% về lượng
và 42,48% về kim ngạch). Tính cả 4 tháng xuất sang Philippines hơn 1 triệu tấn
gạo, trị giá 640,7 triệu USD (chiếm 46,64% về lượng và 55,5% về kim ngạch).
8
Trong tháng 4/2010 cũng có thêm 4 thị trường xuất khẩu gạo đạt trên 10
triệu USD là: Singapore 43,4 triệu USD; Đài Loan 28,4 triệu USD; Malaysia 21,6
triệu USD; Hồng Kông 11,3 triệu USD.
Xuất khẩu gạo sang các thị trường trong tháng 4/2010 đa số đều giảm về
lượng và trị giá so với tháng 3/2010; trong đó dẫn đầu về sự sụt giảm là thị trường
Cu Ba chỉ đạt 1.275 tấn, trị giá 0,51 triệu USD, giảm 98,7% về lượng và 98,84%
về kim ngạch; đứng thứ 2 về mức sụt giảm là thị trường Tiểu vương Quốc Ả Rập
thống nhất (-94,59% về lượng và -95,56% về kim ngạch); tiếp đến Italia (-86,06%
về lượng và -87,33% về kim ngạch); Indonesia (-73,97% về lượng và -78,44% về
kim ngạch); Philippines (-70,73% về lượng và 68,49% về kim ngạch); Malaysia (-
58,01% về lượng và -59,66% về kim ngạch); Nga (-52,47% về lượng và -55,8%
về kim ngạch)…
Chỉ có 5 thị trường tăng cả lượng và kim ngạch so với tháng 3/2010, dẫn
đầu về mức tăng trưởng dương là thị trường Pháp (+118,15% về lượng và
+78,84% về kim ngạch); thứ 2 là thị trường Hồng Kông (+113,61% về lượng và
+70,95% về kim ngạch); tiếp theo là Australia (+73,37% về lượng và +25,74% về
kim ngạch); Nam Phi (+61,26% về lượng và +49,66% về kim ngạch); Singapore
(+34,75% về lượng và +17,57% về kim ngạch). Riêng lượng gạo xuất sang
Ucraina trong tháng 4/2010 tăng 17,45% về lượng nhưng giảm 0,78% về kim
ngạch so với tháng 3/2010.
Trong tháng 4/2010 có 2 thị trường không tham gia xuất khẩu gạo là Tây Ban Nha
và Hà Lan.
Thị trường xuất khẩu gạo tháng 4/2010

Thị trường

Indonesia 3.385 1.773.925 16.390 10.000.920 -73,97 -78,44
Australia 1.543 696.333 2.433 1.250.125 +73,37 +25,74
Cu Ba 1.275 510.000 99.325 44.356.958 -98,70 -98,84
Pháp 613 230.314 894 359.093 +118,15 +78,84
Ba Lan 275 126.100 750 345.336 -42,11 -42,47
Italia 46 23.000 376 204.521 -86,06 -87,33
Tiểu vương
Quốc Ả
Rập thống
nhất
50 20.521 974 482.976 -94,59 -95,56
Hà Lan 0 0 327 191.000 * *
Tây Ban
Nha
0 0 119 80.290 *
CHƯƠNG II: MA TRẬN KẾT HỢP “SWOT” CỦA XUẤT
KHẨU “GẠO”:
Từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế
Giới – WTO, nền kinh tế nói chung cũng như ngành xuất khẩu “gạo” nói riêng đã
có những bước phát triển không ngừng nhờ vào những điểm mạnh cũng như cơ
hội mà WTO mang lại cho Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng không
10
thể không nhắc đến những khó khăn, thách thức mà WTO đã tác động tới. Chính
vì vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu: Ma trận kết hợp “SWOT” của ngành xuất
khẩu “gạo” trong thời gian Việt Nam đã gia nhập vào WTO:
Ma trận kết hợp SWOT
của ngành xuất khẩu
“gạo” Việt Nam sau khi
gia nhập WTO
Cơ hội

Nam có nhiều cam kết tạo
nên thế mạnh cho ngành
xuất khẩu “gạo” như cam
kết IRN, cam kết trợ cấp
nông nghiệp…
2. Được hưởng những
Phối hợp SO
1. Chiến lược thâm nhập
thị trường:
(S1, S3, O1, O2).
2. Chiến lược phát triển
thị trường
( S1, S2, S4, O1, O2).
3. Chiến lược phát triển
Phối hợp ST
Phát triển sản phẩm
với chất lượng cao (S1,
S3,S4, W1, W4).
11
ưu đãi, đối xử công bằng
như các quốc gia trohg
WTO.
3. Thị trường tiềm
năng lớn.
4.Thị trường trong
nước tiếp tục ổn định.
sản phẩm theo hướng
nâng cao chất lượng sản
phẩm (S1, S2, S4, O3,
O4)

(W1, W2, T1, T4)
12
2.1. Điểm mạnh bên trong: (S – Strength)
Thứ nhất, khi gia nhập WTO, Việt Nam có nhiều cam kết tạo nên thế mạnh
cho ngành xuất khẩu “gạo” như cam kết IRN, cam kết trợ cấp nông nghiệp: Khi
gia nhập WTO, trong cam kết mở cửa thị trường nông sản trong đó có xuất khẩu
“gạo” có cam kết “quyền đàm phán ban đầu (INR) nghĩa là trong quá trình thực
hiện cam kết, một số trường hợp nhất định không lường trước được, Việt Nam có
thể tăng thuế nhập khẩu “gạo” cao hơn mức cam kết. Trường hợp đó, Việt Nam
phải đàm phán trước với những nước dành được Quyền đàm phán ban đầu (tên
những nước đó được ghi bên cạnh mỗi dòng sản phẩm trong Biểu cam kết).
Những nước đề nghị INR đối với nông sản của Việt nam chủ yếu là Mỹ, Úc, New
Zealand, Braxin. Điều này cho thấy thuận lợi cho việc bảo hộ ngành xuất khẩu
“gạo” cũng như nâng cao lợi thế cạnh tranh, khẳng định thương hiệu gạo của Việt
Nam với các quốc gia cùng ngành.
Trong cam kết về trợ cấp nông nghiệp: Việt Nam có quyền được trợ cấp nội
địa thuộc “hộp xanh lá cây”, không phải cắt giảm, cũng không bị các nước khác
khiếu kiện, các doanh nghiệp xuất khẩu “gạo” có thể đề xuất nhà nước áp dụng mà
không vi phạm cam kết trong WTO như:
Nhóm trợ cấp các dịch vụ chung: như trợ cấp nghiên cứu khoa học về
phân bón, đất đai, giống, kiểm soát dịch bệnh, kết cấu hạ tầng gồm điện,
đường, thủy lợi Điều này giúp cho năng suất lúa cao hơn, chất lượng
tốt, giá thành rẻ hơn, tạo được lòng tin từ nông dân giúp ngành xuất khẩu
“gạo” tốt hơn tạo được lợi thế về giá và có nguồn cung dồi dào so với các
nước khác.
Nhóm hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai: như hỗ trợ các khoản chi phí nhằm
phục hồi sản xuất nông nghiệp cho những vùng bị thiên tai về giống,
thuốc bảo vệ thực vật, san ủi đồng ruộng. Với nhóm hỗ trợ này giúp cho
bà con nông dân an tâm hơn trong việc canh tác dẫn đến chất lượng tốt
hơn, diện tích đất trồng lúa không những không bị thu hẹp mà có thể còn

14
Thứ ba, thị trường tiềm năng lớn: Hiện nay các Bộ, ngành đã dành sự quan
tâm thích đáng cho việc ban hành các văn bản pháp lý để thực hiện cam kết mở
cửa thị trường nông sản điển hình là việc nhập khẩu “gạo”. Một trong số những
cam kết đó là cam kết về thuế quan: mức thuế nhập khẩu của sản phẩm “gạo” thì
giảm rất ít hoặc không giảm và việc cắt giảm này cam kết được thực hiện trong
vòng từ 3-5 năm kể từ khi gia nhập WTO, mức giảm thuế sẽ được chia đều cho
mỗi năm trong lộ trình cắt giảm. Điều này giúp củng cố niềm tin của cộng đồng
quốc tế vào quyết tâm của Chính phủ Việt Nam thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ
thành viên bên cạnh đó hiện nay Việt Nam đang áp dụng mức thuế nhập khẩu thấp
hơn so với cam kết đây là một vấn đề không đáng lo ngại bởi vì chúng ta có thể
tăng thuế trở lại trong tương lai khi có nhu cầu bảo hộ đối với ngành xuất khẩu
gạo trong nước, thiết lập được mối quan hệ ngoại giao để có cơ hội xâm nhập vào
những thị trường tiềm năng mới và hội nhập với thị trường gạo thế giới.
Thứ tư, thị trường trong nước tiếp tục ổn định: Việt Nam đã thành công trong
đàm phán gia nhập WTO về nông nghiệp và được giữ nguyên mức bảo hộ thuế
nhập khẩu nông sản nói chung và thuế nhập khẩu “gạo” nói chung ở mức như
trước khi gia nhập. Điển hình như cam kết thuế quan của Việt Nam đối với mặt
hàng gạo bình quân trong WTO là 40% (trừ giống lúa), đây là mức thuế bằng với
mức MFN hiện nay và mức thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập này sẽ vẫn
được giữ ở mức 40% mà không phải giảm nữa. Như vậy, sau 11/1/2007 (thời điểm
gia nhập WTO), thuế và các điều kiện nhập khẩu khác là hầu như không có sự
thay đổi so với trước khi gia nhập WTO. Thị trường trong nước vì thế ổn định,
không phải chịu sự cạnh tranh gay gắt đến từ phía “gạo” nước ngoài (từ góc độ
thuế quan).
Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, từ khi trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO, đã tạo cho Việt Nam rất nhiều thuận lợi như
các chính sách hỗ trợ…Những hoạt động này giúp cho ngành xuất khẩu “gạo”
15
tăng thêm lợi thế cạnh tranh và tạo dựng được thương hiệu của mình trên thị

vào sản xuất cũng như gieo trồng lúa. Đây chính là điểm yếu mà chúng ta cần
khắc phục để đẩy mạnh việc xuất khẩu “gạo” bằng hình thức tạo ra một nguồn
cung ứng dồi dào.
Bên cạnh đó, từ khi gia nhập WTO, thị trường xuất khẩu “gạo” của chúng ta
có thêm thị trường mới đó là những nước phát triển như Mỹ, những thị trường này
có giá cao hơn và tất nhiên là chất lượng sản phẩm cũng phải tương xứng và gạo
xuất khẩu của Việt Nam luôn có giá thấp nhất nếu so với gạo cùng loại của các
nước khác do chất lượng gạo của chúng ta không đồng đều, quy trình sản xuất,
bảo quản còn yếu.
Thứ ba, năng lực tài chính còn hạn hẹp, nguồn thông tin và nhân lực như các
chuyên gia trình độ dự báo cung cầu còn nhiều hạn chế:
Sau khi gia nhập WTO thị trường xuất khẩu “gạo” của chúng ta ngày càng
mở rộng đòi hỏi phải có hệ thống thông tin cũng như các chuyên gia giỏi để cung
cấp các thông tin về dự báo lượng cung - cầu trong và ngoài nước giúp cho các
doanh nghiệp xuất khẩu có những chiến lược phù hợp với năng lực của mình.
Nhưng khó khăn lớn nhất mà chúng ta cần giải quyết đó là nguồn nhân lực vừa
thiếu vừa yếu "những người làm công tác dự báo hiện nay đang trong cảnh lực bất
tòng tâm". Lực lượng phân tích, dự báo nhu cầu gạo trên thế giới để giúp cho nhà
xuất khẩu định hướng xem thị trường nào là tiềm năng, cơ hội thành công là bao
nhiêu, “nên xuất hay chờ” đang thiếu những chuyên gia đầu ngành ở trình độ cao.
Đội ngũ hiện có không đủ cán bộ chuyên môn và nghiệp vụ để trải rộng, để dự báo
thường xuyên các chỉ tiêu vi mô về cung - cầu, về thị trường, về giá cả… ở trong
nước và nước ngoài. Trình độ ngoại ngữ của các cán bộ nghiên cứu cũng còn hạn
chế nên khó khăn khi tiếp cận các nguồn thông tin nước ngoài. Bên cạnh đó, sự
thành bại của các dự báo kinh tế phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống thông tin,
số liệu. Nhưng cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có hệ thống thông tin kinh tế hoàn
17
chỉnh. Nguồn thông tin, tư liệu của nước ngoài đã rất thiếu lại còn bị phân tán,
chia cắt, rời rạc, thiếu thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý. Đặc biệt, hệ
thống các thông tin và dữ liệu chuyên ngành phục vụ trực tiếp công tác dự báo và

doanh lương thực mua gạo không thể tổ chức được việc mua tới tận nông dân.
Toàn bộ việc thu mua, phơi sấy, xay xát để chuyển lúa thành gạo bán cho các
doanh nghiệp đều do các thương lái nhiều cấp thực hiện. Nông dân không có điều
kiện để dự trữ, nhìn chung thu hoạch xong phải bán ngay. Nhiều nông dân bán đầu
vụ thì được trên 3.000 đồng/kg, còn đến giữa vụ thu hoạch rộ chỉ khoảng 2.600-
2.700 đồng/kg trong khi thủ tướng chỉ đạo ra lệnh mua với giá sàn là 3.800
đồng/kg. Nguyên nhân của sự việc này la do khâu trung gian hưởng quá nhiều,
nông dân làm trên 50% khối lượng công việc. Những người mua bán gạo chỉ làm
10% công việc nhưng lại chiếm tới 67% giá trị tăng thêm. Khâu trung gian như
vậy hưởng nhiều quá. Nông dân vất vả, chịu nhiều rủi ro thì lại được hưởng phần
quá ít còn lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn cung đầu vào của xuất
khẩu “gạo” do nó tác động tiêu cực đến tâm lý của bà con nông dân như thu hẹp
diện tích canh tác. Bởi vậy, chính phủ và các bộ phận chức năng cần xem xét mọi
vấn đề để đưa ra quyết định đúng đắn nhất tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất
khẩu cũng như bà con nông dân.
2.3. Cơ hội bên ngoài: ( O – Opportunities )
Thứ nhất, thị trường nước ngoài chưa bão hòa: sau khi trở thành thành viên
của tổ chức thương mại thế giới WTO, chúng ta có cơ hội thâm nhập vào những
thị trường tiềm năng mới, hơn thế nữa chúng ta còn được hưởng những ưu đãi đặc
biệt. Trong khi đó, thị trường nước ngoài chưa bão hòa như vậy sẽ xuất hiện được
những cơ hội mới để chúng ta có thể tiến hành đàm phán và có thêm những hợp
đồng xuất khẩu “gạo” mới.
Thứ hai, các rào cản thuế quan và phi thuế quan được phá vỡ nên cơ hội phát
triển là rất lớn:
19
Bộ Công thương đang tập trung tăng cường các cơ hội tiếp cận thị trường cho
hàng hoá xuất khẩu Việt Nam. Theo hướng này, Bộ Công Thương đang chủ trì
tiến hành đàm phán về các khu vực mậu dịch tự do với Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Australia, New Zealand, Ấn Độ nhằm dỡ bỏ các rào cản thuế, phi
thuế quan giúp cho xuất khẩu “gạo” của Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển và

Nam. Thực hiện các cam kết gia nhập WTO liên quan đến tiếp cận thị trường và
đối xử quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, NHNN đã triển khai các hành
động cụ thể:
o Về việc thiết lập hiện diện thương mại của các tổ chức tín dụng nước
ngoài tại Việt Nam: Quyết định sửa đổi nội dung Giấy phép mở chi nhánh
ngân hàng nước ngoài và Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng
liên doanh, quy chế quy định về việc mở và quản lý hoạt động của văn
phòng đại diện, chi nhánh của các tổ chức nước ngoài không phải là tổ
chức tín dụng có hoạt động ngân hàng và NHNN cũng đang dự thảo mẫu
giấy phép cấp cho ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Tính đến nay, đã có
các TCTD của 22 quốc gia và vùng lãnh thổ được NHNN cấp giấy phép
hiện diện thương mại hoặc đặt Văn phòng đại diện tại Việt Nam. Điều
này giúp cho việc mở L/C, cũng như việc thanh toán tiền hàng cho vấn đề
xuất khẩu “gạo” giữa Việt Nam và các quốc gia khác thuận tiện hơn,
tránh được các rủi ro trong hợp đồng xuất khẩu như khi nhà nhập khẩu
không có khả năng trả nợ
o Về việc tham gia cổ phần, góp vốn dưới hình thức mua cổ phần và
phát hành thẻ tín dụng của các tổ chức tín dụng nước ngoài: Tính đến nay
đã có 9 NHTMCP của Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài
và một số NHTMCP khác đang xem xét để gọi nhà đầu tư nước ngoài
tham gia góp vốn, mua cổ phần. Ngoài ra, kể từ khi Việt Nam gia nhập
WTO, các tổ chức tín dụng nước ngoài được phép phát hành thẻ tín dụng
trên cơ sở đối xử quốc gia. Hành động này giúp cho các ngân hàng trong
21
nước có thêm vốn đầu tư cho ngành xuất khẩu “gạo” phát triển về cơ sở
vật chất cũng như công nghệ, tăng sức cạnh tranh về tài chính…
2.4. Thách thức bên ngoài: ( T – Theats )
Thứ nhất, khủng hoảng tài chính toàn cầu: trong một số năm khó khăn cho sản
xuất lương thực, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, hầu hết các
quốc gia trong tổ chức WTO đều phải gánh chịu hậu quả. Khi đó các quốc gia có

Thứ ba, xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới như myanmar, pakistan: Sau khi gia
nhập WTO, Việt Nam có những thuận lợi đó là có thêm thị trường nhập khẩu mới
nhưng đồng thời cũng có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh mới đó là phải đối đầu với
2 đối thủ cạnh tranh lớn đó là Ấn Độ và Thái Lan. Theo diễn biến gạo thế giới
năm 2009 thì nguồn cung của hai đại gia này đang khá lớn trong khi cầu của một
số nước nhập khẩu như Indonesia lại giảm do sản lượng tự cung của họ lại tăng
lên. Điều này dẫn đến, khi hai đại gia này bán ra thì chắc chắn giá gạo sẽ rẻ gây
khó khăn cho Việt Nam vấn đề cạnh tranh về giá, và khi đó chúng ta có hai lựa
chọn nếu lưu kho không bán vì giá thấp thì sẽ phải tăng thêm chi phí lưu kho, và
trong thời gian sau giá vẫn không tăng thì hậu quả thua lỗ sẽ rất lớn, nếu xuất khẩu
luôn thì chắc chắn sẽ lỗ. Lúc này, xuất khẩu gạo của Việt Nam rơi vào tình thế tiến
thoái lưỡng nan đây có thể là thách thức lớn đòi hỏi các chuyên gia và nhà xuất
nhập khẩu cần có biện pháp hợp lý để hạn chế mức rủi ro. Không chỉ dừng lại ở
đó, năm 2010 Việt Nam xuất hiện đối thủ canh tranh mới đó là myanmar. Năm
2009 nước này xuất khẩu 900.000 tấn gạo và kế hoạch năm 2010 tăng lên 1,5 triệu
tấn. Điều đáng quan tâm là giá gạo Myanmar chỉ khoảng 320-330 USD/tấn, thấp
hơn 100 USD/tấn so với gạo VN. Đây sẽ là đối thủ cạnh tranh chính của VN chứ
không phải Thái Lan vì chủng loại gạo xuất khẩu của Thái Lan chủ yếu là gạo
thơm và gạo đồ, khác với VN. Đây là một thách thức lớn đối với ngành xuất khẩu
gạo Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải có biện pháp làm sao để sản xuất với giá
thành thấp nhất nâng cao vị thế cạnh tranh, giữ vững được thị phần.
23
Thứ tư, xu hướng bảo hộ mậu dịch có chiều hướng gia tăng: Do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên hầu hết các nước trong tổ chức WTO
đang gia tăng xu hướng bảo hộ mậu dịch tăng xuất khẩu và giảm xuất khẩu. Để
đối phó, chính phủ nhiều nước phát triển đã áp dụng một loạt chính sách mang
tính bảo hộ như thuế quan, trợ giá và bảo lãnh tài chính, tạo nên sự cạnh tranh
không bình đẳng với những nước nghèo hơn trong đó có Việt Nam. Đây chính là
thách thức đối với ngành xuất khẩu “gạo” ở Việt Nam bởi vì với tình hình như thế
này thì khi xuất khẩu chúng ta sẽ phải chịu mức thuế cao, hơn thế nữa nguồn lực

từ bên ngoài mang đến giúp cho chất lượng gạo của chúng ta tốt hơn, đồng đều
hơn từ đó dẫn đến giá gạo cao hơn, doanh thu tăng và khi đó lợi nhuận cũng sẽ
tăng.
2.6. Phối hợp SW:
Phát triển sản phẩm với chất lượng cao (S1, S3,S4, W1, W4): Sau khi gia
nhập WTO, các trợ cấp cho xuất khẩu đều bị cắt bỏ thêm vào đó là những biện
pháp mà chính phủ đưa ra không những không thúc đẩy ngành xuất khẩu “gạo”
phát triển mà vô hình dung còn hạn chế và có tác động đến người dân làm cho
chất lượng cũng như sản lượng gạo ngày một xấu hơn do ý thức chủ quan của
người dân. Để khắc phục những điểm yếu đó chúng ta phải kết hợp nó với các
điểm mạnh như phát triển cũng như tận dụng tối đa các trợ cấp nông nghiệp để lấy
lại niềm tin nơi người nông dân để chất lượng được tốt hơn, nguồn đầu vào ổn
định thêm vào đó do thị trường tiềm năng lớn nên khả năng mang lại lợi nhuận là
rất cao từ đó tạo thêm thu nhập cho người dân để không những củng cố tinh thần
mà còn củng cố chất lượng gạo tốt hơn. Như vậy ngành xuất khẩu “gạo” góp phần
nâng cao ngân sách nhà nước từ đó tạo thêm nguồn vốn cho chính phủ có thể tập
trung đầu tư nghiên cứu để cho ra những quyết định hợp lý, khả thi và đổi mới nó
thay thê cho các kế hoạch cũ để làm sao đó tạo điều kiện tốt nhất cho ngành xuất
khẩu phát triển.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status