PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, ngành sản xuất lúa gạo thường chiếm 50% tổng diện tích gieo
trồng nông nghiệp và đang là nguồn kế sinh chính của hơn 60% dân số cả nước, ảnh
hưởng trực tiếp đến 2/3 hộ gia đình làm nông nghiệp trong đó có 44% số hộ thuộc
diện khó khăn và có nguy cơ tiềm ẩn tái nghèo. Với vị trí quan trọng như vậy,
ngành xuất khẩu “gạo” chính là chìa khóa của sự ổn định và phát triển nền kinh tế
của đất nước cũng như cải thiện mức sống đối với người dân. Đặc biệt, sau khi gia
nhập WTO, ngành xuất khẩu “gạo” có thêm những cơ hội phát triển cũng như
những lợi ích tiềm năng mà WTO mang lại như mở rộng thị trường xuất khẩu, thu
hút được đầu tư của nước ngoài về cơ sở hạ tầng như hệ thống máy móc tại cảng
biển... Đồng thời Việt Nam cũng có tiếng nói chung với 149 nước khác khi khi gia
nhập WTO, từ đó chúng ta đã tạo dựng lên các mối quan hệ tốt đẹp và có thể học
hỏi được kinh nghiệm cũng như chuyển giao máy móc công nghệ phục vụ cho việc
sản xuất gạo với các nước phát triển như Mỹ, Nhật để đảm bảo có được năng suất
cao, nguồn cung dồi dào, chất lượng tốt, giá thành rẻ, nâng cao vị thế cạnh tranh,
khẳng định thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, nông nghiệp nói
chung và ngành ngành xuất khẩu “gạo” nói riêng được coi là ngành chịu nhiều tác
động nhất trong quá trình gia nhập WTO của Việt Nam. Nhiều lo ngại, thách thức
cũng như những yếu điểm về sức cạnh tranh của “gạo” Việt Nam trên sân chơi lớn
này xuất phát từ những hạn chế trong năng lực sản xuất, chế biến, tạo dựng thương
hiệu và uy tín của từng mặt hàng nông sản. Để ngành xuất khẩu “gạo” thực sự vững
vàng với WTO, thì cùng với việc quy hoạch, định hướng sản xuất và tăng cường ưu
đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, việc tăng cường nâng cao trình độ, năng lực
sản xuất, ứng dụng khoa hoạ kỹ thuật và nắm bắt xu thế thị trường của các doanh
nghiệp xuất khẩu vẫn là nhiệm vụ quan trọng. Để hiểu rõ hơn về tác động của việc
Việt Nam gia nhập WTO tới ngành xuất khẩu “gạo” như thế nào, chúng ta nên có
cái nhìn tổng quát hơn về ma trân SWOT của ngành này từ đó sẽ đề ra những biện
pháp đẩy mạnh xuất khẩu “gạo” phát triển hơn.
PHẦN HAI: NỘI DUNG
1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XUẤT KHẨU “GẠO” VIỆT NAM:
nhỏ hơn. Khi gạo đã trở thành một lợi thế trong xuất khẩu của một nước thì các
nước đó sẽ tập trung vào sản xuất lúa gạo với quy mô lớn, trình độ thâm canh cao,
khoa học kỹ thuật tiến bộ nhằm tăng năng xuất, sản lượng và chất lượng gạo. Từ sự
tập trung sản xuất đó sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành có liên quan và dẫn tới
sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát triển.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp yếu tố đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Tạo tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Thông qua xuất khẩu nước ta có thể tham gia vào công cuộc cạnh tranh trên
thị trường thế giới về giá cả, chất lượng từ đó hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích
ghi với thị trường.
Đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải đổi mới hoàn thiện công việc sản xuất
kinh doanh.
1.1.3. Xuất khẩu có tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân:
Xuất khẩu gạo trước hết làm tăng thu nhập của người nông dân đặc biệt ở
các vùng chuyên canh lúa nước, đời sống người dân phụ thuộc chủ yếu vào cây lúa.
Không những thế, xuất khẩu giúp giải quyết một lượng lớn lao động dư thừa trong
nước. Khi thực hiện tăng cường xuất khẩu thì kéo theo nó là vấn đề xay xát, chế
biến phát triển, vấn đề vận chuyển hàng hoá …những công tác trên thu hút khá
nhiều lao động từ không có trình độ kỹ thuật, quản lý đến có trình độ cao. Việc tạo
việc làm ổn định cũng chính là một biện pháp hữu hiệu để tăng thu nhập, ổn định xã
hội.
3
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì xuất khẩu gạo là
một lợi thế lớn. Bởi sản xuất và xuất khẩu gạo có những lợi thế căn bản như: đất
đai, khí hậu, nguồn nước, nguồn nhân lực … Và đặc biệt yêu cầu về vốn kỹ thuật
trung bình, với các lợi thế như vậy tăng cường xuất khẩu gạo là hướng đi đúng đắn
nhất.
34%). Như vậy, mặc dù năm 2009 xuất khẩu nhiều hơn năm 2008 đến 1,352 triệu
tấn gạo, nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm 200.000 đô la Mỹ, giá bán giảm 183,69
đô la Mỹ/tấn.
Tháng 4/2010 cả nước xuất khẩu 725.620 tấn gạo các loại, đạt 361,4 triệu
USD, giảm 49,71% về lượng và giảm 54,41% về trị giá so với tháng 3/2010. Tính
chung cả 4 tháng đầu năm lượng xuất khẩu đạt 2,2 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,15 tỷ
USD, giảm 12,81% về lượng và giảm nhẹ 0,33% về kim ngạch so với cùng kỳ năm
2009. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam gần như thấp nhất so với những nước xuất
khẩu gạo khác, giá bình quân 4 tháng đạt 532USD/tấn, tăng hơn 14% so với cùng
kỳ năm 2009 nhưng vẫn thấp hơn giá bình quân 3 tháng đầu năm là 549USD/tấn.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, dù vẫn giảm 7,3% về lượng, xuất
khẩu gạo 5 tháng đầu năm đã tăng 0,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, xuất khẩu gạo từ đầu năm đến nay đã đạt trên 2,9 triệu tấn với kim ngạch
xấp xỉ 1,5 tỷ USD, bằng 58,4% kế hoạch cả năm, đồng thời đứng thứ 5 trong các
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước, xếp sau dệt may, dầu thô, da
giày và thủy sản. Có được kết quả này là do giá gạo xuất khẩu đã tăng khá hơn
trong năm nay. Cụ thể, giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm đạt 513,43
USD/tấn, tăng khoảng 8,5% so với cùng kỳ năm trước (giá gạo xuất khẩu bình quân
5 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 473,37 USD/tấn).
5
Đơn vị : tấn
1.2.2. Cơ cấu thị trường:
Có thể nói rằng công tác thị trường của ngành xuất khẩu gạo đã có những tiến
bộ vượt bậc. Cho đến nay, gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường của trên 70
nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ nhưng
chủ yếu là sang Philippines; Malaysia; Cu Ba; Singapore. Theo một chuyên gia
trong lĩnh vực ngành hàng xuất khẩu, trong vài năm gần đây, sau khi đạt tới sự bão
hòa về khối lượng tại các thị trường truyền thống, các hoạt động khai phá để tạo sự
tăng trưởng ở các thị trường mới của các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo là
không đáng kể.
lượng và -87,33% về kim ngạch); Indonesia (-73,97% về lượng và -78,44% về kim
ngạch); Philippines (-70,73% về lượng và 68,49% về kim ngạch); Malaysia
(-58,01% về lượng và -59,66% về kim ngạch); Nga (-52,47% về lượng và -55,8%
về kim ngạch)…
Chỉ có 5 thị trường tăng cả lượng và kim ngạch so với tháng 3/2010, dẫn đầu
về mức tăng trưởng dương là thị trường Pháp (+118,15% về lượng và +78,84% về
kim ngạch); thứ 2 là thị trường Hồng Kông (+113,61% về lượng và +70,95% về
kim ngạch); tiếp theo là Australia (+73,37% về lượng và +25,74% về kim ngạch);
Nam Phi (+61,26% về lượng và +49,66% về kim ngạch); Singapore (+34,75% về
lượng và +17,57% về kim ngạch). Riêng lượng gạo xuất sang Ucraina trong tháng
4/2010 tăng 17,45% về lượng nhưng giảm 0,78% về kim ngạch so với tháng
3/2010.
Trong tháng 4/2010 có 2 thị trường không tham gia xuất khẩu gạo là Tây Ban Nha
và Hà Lan.
Thị trường xuất khẩu gạo tháng 4/2010
Thị trường
Tháng 4/2010 4 tháng 2010
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Tăng
giảm về
lượng T4
so T3(%)
0 0 119 80.290 *
CHƯƠNG II: MA TRẬN KẾT HỢP “SWOT” CỦA XUẤT KHẨU “GẠO”:
Từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế
Giới – WTO, nền kinh tế nói chung cũng như ngành xuất khẩu “gạo” nói riêng đã
có những bước phát triển không ngừng nhờ vào những điểm mạnh cũng như cơ hội
mà WTO mang lại cho Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể
không nhắc đến những khó khăn, thách thức mà WTO đã tác động tới. Chính vì vậy
chúng ta cùng nhau tìm hiểu: Ma trận kết hợp “SWOT” của ngành xuất khẩu “gạo”
trong thời gian Việt Nam đã gia nhập vào WTO:
Ma trận kết hợp SWOT
của ngành xuất khẩu
“gạo” Việt Nam sau khi
gia nhập WTO
Cơ hội
1.Thị trường nước
ngoài chưa bão hòa.
2.Các rào cản thuế
Thách thức:
1. Khủng hoảng tài
chính toàn cầu.
2. Do đồng Euro mất
8
quan và phi thuế quan
được phá vỡ nên cơ hội
phát triển là rất lớn.
3.Cơ hội tiếp xúc, làm
việc, học hỏi kinh nghiệm
và chuyển giao công nghệ
với các nước phát triển
như Mỹ, Nhật..
thị trường:
(S1, S3, O1, O2).
2. Chiến lược phát triển
thị trường
( S1, S2, S4, O1, O2).
3. Chiến lược phát triển
sản phẩm theo hướng
nâng cao chất lượng sản
phẩm (S1, S2, S4, O3,
O4)
Phối hợp ST
Phát triển sản phẩm
với chất lượng cao (S1,
S3,S4, W1, W4).
Điểm yếu Phối hợp WO Phối hợp WT
9
1. Trợ cấp xuất khẩu
trong nông nghiệp bị phá
bỏ trừ trường hợp được
hưởng ưu đãi dành cho
nước đang phát triển.
2. Cơ sở hạ tầng, máy
móc trang thiết bị đầu tư
cho nông nghiệp cũng như
hệ thống vận chuyển còn
thấp…
3. Năng lực tài chính
còn hạn hẹp, nguồn thông
tin và nhân lực như các
chuyên gia trình độ dự
kiện, các doanh nghiệp xuất khẩu “gạo” có thể đề xuất nhà nước áp dụng mà không
vi phạm cam kết trong WTO như:
Nhóm trợ cấp các dịch vụ chung: như trợ cấp nghiên cứu khoa học về
phân bón, đất đai, giống, kiểm soát dịch bệnh, kết cấu hạ tầng gồm điện,
đường, thủy lợi... Điều này giúp cho năng suất lúa cao hơn, chất lượng tốt,
giá thành rẻ hơn, tạo được lòng tin từ nông dân giúp ngành xuất khẩu
“gạo” tốt hơn tạo được lợi thế về giá và có nguồn cung dồi dào so với các
nước khác.
Nhóm hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai: như hỗ trợ các khoản chi phí nhằm
phục hồi sản xuất nông nghiệp cho những vùng bị thiên tai về giống, thuốc
bảo vệ thực vật, san ủi đồng ruộng. Với nhóm hỗ trợ này giúp cho bà con
nông dân an tâm hơn trong việc canh tác dẫn đến chất lượng tốt hơn, diện
tích đất trồng lúa không những không bị thu hẹp mà có thể còn mở rộng
hơn do đất đai màu mỡ, và tỉ lệ dân cư được phân bố tại vùng nông thôn rất
lớn và có trình độ học vấn thấp, giúp giải quyết vấn đề việc làm cho họ,
nâng cao đời sống, phục vụ cho việc xuất khẩu “gạo” phát triển hơn.
Theo quy định tại Hiệp định Nông nghiệp, thành viên WTO vẫn có thể
thực hiện các trợ cấp thuộc “hộp hổ phách” là các chương trình thu mua
gạo của chính phủ để can thiệp với mức 10% tổng trị giá sản lượng ngành
nông nghiệp đối với nước đang phát triển như Việt Nam.
11