Tác động của việc Việt Nam hội nhập kinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020” - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UNDP : Chương trình phát triển liên hợp quốc.
UNIFEM : Quỹ phát triển dành cho phụ nữ của liên hợp quốc.
WTO : Tổ chức thương mại quốc tế.
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật.
LLLĐ : Lực lượng lao động.
TNTH : Tốt nghiệp tiểu học.
TN THCS : Tốt nghiệp trung học cơ sở.
TN THPT : Tốt nghiệp trung học phổ thông.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Đặt vấn đề
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là từ tháng
1 năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) đã tạo điều kiện cho Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong tăng
trưởng kinh tế và các mục tiêu xã hội.
Trong khi các thành tựu kinh tế do tác động WTO có vẻ khả quan, thì các tác
động về lao động và xã hội rất phức tạp. Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy,
trong thời kỳ ngắn hạn và trung hạn, đối với các nước nền kinh tế yếu, chậm điều chỉnh,
thì các tác động xã hội tiêu cực nhiều hơn là tích cực, đặc biệt là một bộ phận dân chúng
sẽ bị chịu nhiều thiệt thòi do tăng trưởng không đồng bộ với các yếu tố xã hội. Trong
nhiều trường hợp, phụ nữ, những người sản xuất nhỏ sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn do mất
việc làm, bất bình đẳng tăng lên. Thu nhập của người lao động có thể sẽ kém đi do sự
bất ổn định của thu nhập và việc làm do các điều chỉnh về chính sách trong khu vực nhà
nước và giá cả đầu vào, đầu ra sản xuất…
Xu thế của Việt Nam sau 1 năm hội nhập WTO phản ánh xu hướng này. Năm

chính sách an sinh xã hội mang lại. Do vậy, việc tiếp tục nhận biết cơ chế và dự báo sự
tác động của hội nhập WTO đến lao động, việc làm và các vấn đề xã hội là rất cần thiết.
Hội nhập kinh tế sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến lao động nữ, đặc biệt là ảnh hưởng tới việc
làm của lao động nữ, do lao động nữ có những đặc thù diêng của mình như trình độ
chuyên môn kỹ thuật, học vấn và sức khỏe… Điều này sẽ giúp cho việc đinh hướng các
chính sách và giải pháp nhằm giảm bớt các tác động tiêu cực của quá trình hội nhập đến
người lao động, đặc biệt là nhóm lao động nữ. Vì vậy, để hệ thống một các đầy đủ về sự
tác động nên tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Tác động của việc Việt Nam hội nhập kinh
tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích trước hết của chuyên đề thực tập là đưa ra cơ sở lý luận về vấn đề tác
động của việc Việt Nam hội nhập kinh tế đến việc làm của lao động nữ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
Mục đích thứ hai là: phân tích thực trạng sự tác động của hội nhập đến việc làm
của lao động nữ.
Mục đích thứ ba là: phân tích đánh giá thực trạng cung lao động nữ trên hai mặt
đó là số lượng và chất lượng.
Mục đích thứ tư là: Dựa trên phân tích thực trạng sự tác động của hội nhập đến
việc làm lao động nữ trong thời gian vừa qua, để từ đó đưa ra hướng giải quyết việc làm
trong tương lai của lao động nữ. Vì vậy, cần có những chính sách ưu tiên và hợp lý hơn
cho lao động nữ phát triển khả năng của mình. Khi đó lao động nữ sẽ nhận được những
công việc tốt khi Việt Nam tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thới. Ngoài ra, thấy
được sự phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ trong thị trường lao động, nhất là
quá trình chúng ta hội nhập sâu vào thương mại quốc tế.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố về việc làm, hội nhập và lao động nữ.
4. Phạm vi nghiên cứu

Đảng Cộng sản VN với bản chất cách mạng và tư duy chính trị nhạy bén đã khởi
xướng và tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc trên các lĩnh vực,
cả về đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới quan hệ kinh tế đối ngoại
và cải cách nền hành chính quốc gia. Gắn kết các nội dung đổi mới và để bảo đảm cho
quá trình đổi mới là quá trình hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế quản lý, từng bước
hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường. Chính điều này không chỉ đảm bảo
phát huy được nội lực của đất nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân mà còn tạo
ra tiền đề bên trong - nhân tố quyết định cho tiến trình hội nhập với bên ngoài.
Việt Nam đã phát triển mạnh quan hệ toàn diện và mở cửa buôn bán biên giới với
Trung Quốc; gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN), tham gia Hiệp định
mậu dịch tự do ASEAN; Diễn đàn kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC); là sáng lập
viên Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM). Cùng với các nước ASEAN ký Hiệp định thành
lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, ASEAN Hàn Quốc, ASEAN - Ấn
Độ, ASEAN - Úc và New Zealand. Ký hiệp định thương mại song phương với Hoa kỳ
(BTA). Đây là những bước đi quan trọng, là sự "cọ xát" từng bước trong tiến trình hội
nhập.
Thực tiễn những năm qua chỉ rõ: khi mở cửa thị trường, lúc đầu chúng ta có gặp
khó khăn. Mở cửa buôn bán biên giới với Trung Quốc, hàng hoá nước bạn tràn vào đẩy
doanh nghiệp nước ta vào thế bị động, một số ngành sản xuất "lao đao", một số doanh
nghiệp phải giải thể. Tuy nhiên với thời gian, các doanh nghiệp nước ta đã vươn lên, trụ
vững và đã có bước phát triển mới.
Nhiều doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ sản xuất, cải tiến kiểu dáng, mẫu mã,
nâng cao chất lượng sản phẩm, nhờ đó mà tăng được sức cạnh tranh, phát triển được sản
xuất, mở rộng được thị trường.
Thực hiện các cam kết theo hiệp định mậu dịch tự do ASEAN, chúng ta đã loại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
bỏ hàng rào phi quan thuế, giảm thuế nhập khẩu. Đến năm 2006, có 10.283 dòng thuế

- 12-6-2005: Việt Nam cử một phái đoàn đàm phán hùng hậu sang Washington trước
thềm chuyến thăm Mỹ chính thức của Thủ tướng Phan Văn Khải với quyết tâm đi đến
kết thúc đàm phán song phương.
- 18-7-2005: Việt Nam và Trung Quốc đạt thỏa thuận về việc mở cửa thị trường để Việt
Nam gia nhập WTO.
-31-5-2006: Ký thỏa thuận kết thúc đàm phán song phương với Mỹ - nước cuối cùng
trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương.
- 26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các nước. Cuộc đàm
phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng chừng không thể kết thúc được cho đến phút
chót.
- Ngày 07 tháng 11/2006, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ chức này.
1.3 Một số điểm mốc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Nhận thức được toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan. Vì vậy, việc hội
nhập cần thiết phải diễn ra theo đúng xu thế của nó. Từ khi Việt Nam chính thức tham
gia hội nhập kinh tế quốc tế đến nay, nó được đánh dấu bởi các mốc thời gian sau:
* Bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính-tiền tệ quốc tệ: WB, IFM, ADB
* Tháng 1/1995: nộp đơn xin gia nhập WTO. Đã qua 5 phiên đàm phán. Gần đây nhất là
phiên họp lần thứ 5 diễn ra ra tại Giơ-ne-vơ (Thuỵ Sĩ) từ 10-11/4/2002.
* Tháng 7/ 1995: Ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế với Liên minh Châu Âu ( EU).
* 7/1995 Gia nhập ASEAN
* 1/1996 Thực hiện Chương trình CEPT nhằm tiến tới Khu vực Thương mại tự do
ASEAN ( AFTA)
* 3/1996: tham gia sáng lập Diễn đàn á- Âu (ASEM) với 25 thành viên.
* 11/1998 gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dương ( APEC) : 21
thành viên.
* 7/2000: Ký Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ ; có hiệu lực thi
hành từ 10/12/2001.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường vận hành hoàn hảo khi hàng hóa (dịch
vụ) được phân phối một cách có hiệu quả thông qua giá cả. Tuy nhiên, hầu hết thị trường
lao động đều chưa vận hành hoàn hảo. Chẳng hạn tiền lương (giá cả của lao động)
không phải hoàn toàn do các lực lượng cạnh tranh trên thị trường quyết định. Vì vậy,
việc nghiên cứu đặc điểm của thị trường lao động nữ có ý nghĩa trong định hướng phát
triển thị trường lao động nữ và hoạch định các chính sách lao động-việc làm nhằm khai
thác tối ưu nguồn lực lao động nữ cho phát triển kinh tế.
2.2.1 Đại bộ phận việc làm của lao động nữ là trong khu vực nông nghiệp.
Việc làm của lao động nữ trong nông nghiệp ở nước ta có xu hướng giảm theo
thời gian nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Khi nền kinh tế phát triển, với sự chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm xuống thì lực lượng lao động nữ trong
nông nghiệp cũng sẽ giảm xuống. Như vậy, mức độ phân bố lại lực lượng lao động nữ
giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều
vào mức độ phát triển của nền kinh tế.
2.2.2 Số người tự làm việc còn chiếm đa số.
Khi nói đến thị trường lao động thường nói đến “việc làm được trả công” và “tự
làm”.
Việc làm được trả công này sinh trong quá trình mua bán sức lao động và nó phụ
thuộc vào cả 2 yếu tố cung và cầu lao động. Điều này khác với trường hợp người lao
động tự bản thân họ khai thác sức lao động của mình mà không cần có bất cứ sự trao
đổi nào - họ được coi là “người tự làm việc”. Quy mô của “người tự làm việc” phụ thuộc
phần lớn vào yếu tố cung lao động.
Ở nước ta, “người tự làm việc” cũng rất đông đảo. Đa số họ hoạt động trong khu
vực nông nghiệp và có nhiều lao động nữ tham gia.
Việc giảm tỷ lệ “người tự làm việc” ở khu vực nông nghiệp – nông thôn một
mặt, phụ thuộc vào quỹ đất đai, chính sách đất đai, các yếu tố văn hóa, xã hội và mặt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
10

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
Xu hướng phổ biến là người lao động luôn chờ đón cơ hội được làm việc ở khu
vực chính thức. Vì họ có được việc làm và thu nhập tương đối ổn định. Tuy nhiên, mức
cung về việc làm hay cầu lao động là tăng chậm do vậy tại thị trường lao động khu vực
thành thị chính thức luôn có dòng người chưa có việc làm đang chờ việc làm.
2.3.2 Thị trường lao động khu vực thành thị không chính thức.
Khu vực không chính thức thường được sử dụng gắn với các cụm từ như “kinh
tế ngầm”, “kinh tế không chính thức”.
Khu vực không chính thức là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức (đơn vị) có
quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ, hoạt động rất đa dạng. Hoạt động kinh tế của khu vực không
chính thức có một số đặc điểm sau:
- Là khu vực kinh tế có tính dễ thâm nhập.
- Hoạt động không theo luật và phần lớn không có đăng ký.
- Không chịu sự quản lý, điều tiết trực tiếp của Nhà nước, chẳng hạn không chịu
sự điều tiết của các chính sách thị trường lao động.
So với các doanh nghiệp trong khu vực thành thị chính thức, các doanh nghiệp
trong khu vực không chính thức có đặc điểm:
+ Quy mô hoạt động nhỏ bé, có thể chỉ bao gồm một người chủ và vài công nhân
hoặc các thành viên hộ gia đình không trả lương.
+ Hạ tầng cơ sở cho sản cuất yếu kém, đặc biệt là địa điểm kinh doanh (chật hẹp,
hay di chuyển); nguồn lực tài chính hạn hẹp; khó tiếp cận với công nghệ mới. Việc làm
ở khu vực phi chính thức không nhất thiết đòi hỏi người lao động phải có trình độ
chuyên môn, kỹ năng, tay nghề cao mà chủ yếu là cần có kinh nghiệm trong công việc.
Khu vực này có thể tạo được việc làm cho những người di cư từ nông thôn ra.
Tuy nhiên đa số những người làm việc trong khu vực thành thị không chính thức là
người dân ở thành thị không có vốn để sản xuất kinh doanh và trình độ chuyên môn của
họ thấp hoặc không có. Thâm nhập vào khu vực thành thị không chính thức là điều dễ
dàng, chỉ với một số vốn nhỏ người ta có thể bán hàng rong ngoài phố, đạp xích lô hoặc
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
- Quan hệ cung cầu lao động ở nông thôn thể hiện sự dư thừa lao động tiềm
cũng có ý nghĩa là ở tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng.
- Thị trường lao động khu vực nông thôn phát triển ở trình độ thấp: tiền công
(trả cho lao động phổ thông, lao động đại trà) trên thị trường rất thấp; tính cạnh tranh
không cao; tính linh hoạt và thích ứng của lao đông là rất hạn chế.
3. Lao động nữ
3.1 .Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nữ.
3.1.1 Các yếu tố chủ quan.
1> Trình độ học vấn của lực lượng lao động nữ.
Năm 2005, trong tổng lược lượng lao động (LLLĐ) nữ của nước ta (21.624.211
người) có 5,06% số người chưa biết chữ (mù chữ); 14,25% số người chưa tốt nghiệp
phổ thông cơ sở (TN PTCS); 19,62% số người tốt nghiệp phổ thông trung học (TN
PTTH). Số liệu trên cho thấy trình độ học vấn của LLLĐ nữ còn thấp do tỷ lệ lao động
nữ mù chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học còn cao, chiếm tới 20% hay 1/5 LLLĐ nữ. Tỷ lệ
này của lao động nữ cao hơn so với tỷ lệ tương ứng của LLLĐ (20% so với 15%)
Biểu 1: Tình độ học vấn của lực lượng lao động nữ
Đơn vị : %
Trình độ 2000 2005 2006
Nam Nữ Nữ/TS Nam Nữ Nữ/TS Nam Nữ Nữ/TS
Toàn quốc 100,0 100,0 49,65 100,0 100,0 48,72 100.0 100,0 48,59
Mù chữ 2,97 5,06 62,67 3,06 5,06 61,09 2,64 4,40 61,12
Chưa TNTH 14,65 18,33 55,24 11,98 14,25 53,05 11,13 13,70 53,79
TNTH 29,53 29,04 49,24 28,93 29,23 48,97 33,01 34,64 49,80
TN THCS 33,90 32,07 48,26 33,27 31,84 47,62 28,19 25,42 46,01
TN THPT 18,95 15,50 44,64 22,76 19,62 45,03 24,58 22,27 46,14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
trăm. Tuy nhiên các khoảng các này thường có xu hướng hẹp lại trong giai đoạn 2000-
2005 (hình 1).
Hình 1: Khoảng cách về trình độ học vấn giữa lao động nữ và lao động nam từ đủ
15 tuổi trở lên, năm 2000 và 2005 (ĐV: điểm phần trăm)
Nguồn: số liệu điều tra lao động việc làm 2000, 2005-bộ lao động, thương binh và xã hội.
2> Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ.
Năm 2005, cả nước có 4.501.788 lao động nữ có trình độ chuyên môn kỹ thuật
(TĐ CMKT), chiếm 20,82% trong tổng LLLĐ nữ. Trong đó, số lao động nữ có trình độ
sơ cấp, học nghề và công nhân kỹ thuật (CNKT) không có bằng chiếm 9,17%; CNKT có
bằng chiếm 1,66%; Trung học nghề và trung học chuyên nghiệp chiếm 4,72%; cao đẳng,
đại học trỏ lên chiếm 5,26% trong tổng LLLĐ nữ. Tỷ lệ lao động nữ có TĐ CMKT thấp
hơn so với tỷ lệ này của LLLĐ cả nước (20,82% so với 25,33%).
Biểu 2: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ theo giới tính năm 2005-2006
Đơn vị: %
CMKT
2005
TS Nam Nữ TS Nam Nữ
Toàn quốc 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Chưa qua đào tạo 74,67 70,38 79,18 68,45 63,55 73,63
Sơ cấp, học nghề và CNKT
không bằng (đào tạo ngắn hạn)
11,56 13,83 9,17 19,35 23,88 14,55
CNKT có bằng 3,54 5,31 1,66 1,91 2,97 0,78
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”

chuyên môn kỹ thuật, của chung cả nước, thành thị và nông thôn, năm 2000-2005
(Nguồn: số liệu điều tra lao động việc làm 2000, 2005-bộ lao động, thương binh và xã hội.)
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ nữ giữa khu vực thành thị và nông thôn
có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên, tình trạng này đến năm 2005 đã tốt hơn nhiều so với năm
2000- Năm 2000, ở nông thôn, lao động nữ có TĐ CMKT chiếm 6,93%; ở thành thị tỷ lệ
này là 32,12% lớn gấp 4,6 lần so với khu vực thành thị và khu vực nông thôn này đã
giảm còn 3,4 lần (Tỷ lệ lao động nữ có TĐ CMKT ở thành thị là 44,84% so với tỷ lệ lao
động nữ có TĐ CMKT ở nông thôn là 13,7%).
LLLĐ nữ có TĐ CMKT thấp hơn so với LLLĐ nam cả về số lượng và tỷ lệ tất
cả các cấp trình độ- Năm 2005, số lượng LLLĐ nữ có TĐ CMKT chỉ bằng 66,79% lao
động nữ có trình độ sơ cấp, học nghề và CNKT không có bằng và CNKT có bằng trong
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
tổng LLLĐ nữ thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ này là LLLĐ nam (tương ứng -4,66;-3,65
và -0,01 và -0,48 điểm phần trăm). Trong khi đó, số lượng lao động nữ chưa qua đào tạo
cao hơn 6,9% so với số lao động nal chưa qua đào tạo (17.122.423 người so với
16.017.572 người). Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo trong tổng số LLLĐ nữ cũng cao
hơn 8,8 điểm phần trăm so với tỷ lệ lao động nam chưa qua đào tạo (79,19% so với
70,38%). Tuy nhiên, xu hướng này thể hiện rõ hơn ở khu vực thành thị - khoảng cách về
TĐ CMKT giữa lao động nam và lao động nữ ở khu vực thành thị lớn hơn so với ở khu
vực nông thôn.
Hình 4: khoảng cách trong TĐ CMKT giữa lao động nam từ đủ 15 tuổi trở lên
của chung cả nước, thành thị và nông thôn, năm 2005
Đơn vị: điểm phần trăm
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”

chuyên trách về bảo hiểm lao động, do đó, gần một nửa phụ nữ hầu như không được
huấn luyện định kỳ về bảo hộ lao động và chỉ có 1/3 số công nhân nữ biết các quy tắc an
toàn vệ sinh lao động. Đáng lo hơn, gần 70% lao động nữ trong các doanh nghiệp
thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại. Tuy nhiên, số doanh nghiệp có cán
bộ y tế cũng không nhiều. Theo ước tính, có khoảng 44% doanh nghiệp không tổ chức
khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Mặc dù chúng ta đã có những chính sách,
những văn bản được chế định bằng pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho người lao động
nhưng trên thực tế còn thiếu đồng bộ và chậm được thực thi nếu không muốn nói rằng,
nó không được thực hiện chặt chẽ, đầy đủ ở nhiều nơi.
Thiết nghĩ, để bảo vệ sức khỏe, chế độ làm việc cho lao động nữ, cần phải có sự
quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự quan tâm của các cơ quan
chuyên trách về vấn đề này như y tế, tổ chức công đoàn, tiền lương, bảo hiểm v.v…
Đồng thời, Nhà nước cần nâng cao hơn nữa hiệu lực của Luật Lao động, tăng cường,
đầu tư thêm các cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan, xí nghiệp trong phạm vi quản lý
để giảm thiểu môi trường làm việc độc hại cho công nhân lao động, có thêm những
chính sách, chế độ ưu tiên cần thiết cho công nhân viên chức, đặc biệt là giới nữ khi hoạt
động trong môi trường độc hại. Bảo vệ sức khỏe cho phụ nữ, chính là bảo vệ sức khoẻ
cho các bà mẹ - bảo vệ cho con người mà họ là tiền thân của cả một thế hệ tương lai.
3.2.2 Các yếu tố khách quan
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
Ngoài các yếu tố chủ quan bên trên, lao động nữ cũng bị tác động rất nhiều từ
các nhân tố khác quan, nó được thể hiện rõ nhất từ việc nhận thức từ phía người lao
động.
Do điều kiện và nhận thức của tường hộ gia đình, các trẻ em gái có xu hướng bỏ
học và đi làm sớm (nhất là ở vùng nông thôn). Tình trạng này ảnh hưởng không nhỏ tới
chất lượng lao động nữ trong công việc và khó có thể đáp ứng được các đòi hỏi của sự
nghiệp Ngoài trình độ tay nghề thấp, đa số lao động nữ có tình trạng sức khỏe kém hơn

1,59
8,33
(Nguồn: trung tâm NCKH lao động nữ)
Mặt khác, tính cơ động (cả về mặt địa lý và nghề nghiệp) của lao động nam là
cao hơn nữ. Nữ thường chịu nhiều ảnh hưởng của phong tục tập quán và đặc biệt là gánh
nặng gia đình. Vai trò làm vợ, làm mẹ tỏng gia đình không cho phép chị em di chuyển đi
tìm việc làm tốt hơn. Chính vì vậy phụ nữ ít có điều kiện và cơ hội để tiếp cận với nguồn
thông tin tuyển dụng lao động. Và điều này hạn chế khả năng có việc làm của phụ nữ
được thể hiện ở bảng sau đây:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
Bảng: nguồn tiếp cận thông tin tuyển lao động của người lao động (%)
Báo chí, TV Người nhà,
quen giới thiệu
Trung tâm giới
thiệu
Khác
QD: Nữ
Nam
13,64
28,57
68,18
71,43
2,27
0,00
15,91
0,00
NQD: Nữ

nguy cơ thất nghiệp thì thà làm việc độc hại còn hơn là để con bị đói.
Khi xem xết sự yếu kém của phụ nữ không chỉ đơn thuần nói về khả năng thấp
kém thể hiện ra của họ. Bởi vì nữ còn sống trong một xã hội cả nam và nữ chịu ảnh
hưởng của những tập tục của xã hội ấy. Cho nên cần xết đến một số yếu tố khác có ảnh
hưởng tới cơ hội việc làm và thu nhập cao của nữ.
Dưới con mắt đàn ông là cái nhìn thiên lệch thì đàn bà là những khách thể phụ
thuộc được đại diện bởi đàn ông. Đời sống hành động cách nghĩ và tình cảm của phụ nữ
là những thứ vụn vặt thứ yếu hoặc không cần gây sự chú ý, hoặc không cần thiết phải
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: “tác động của việc Việt Nam hội nhậpkinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
xem xét cụ thể. Còn vai trò của người chồng là người chủ, đóng góp chính cho thu nhập
gia đình. Chính vì thế mà nó đã làm ảnh hưởng tới việc phát huy tiềm năng của phụ nữ,
điều này vẫn còn tồn tại khá nhiều trong những gia đình nông dân ở Việt Nam.
Sự chênh lệch về cơ hội có việc làm và việc làm có thu nhập cao có thể giải
thích bằng sự khác biệt về phân bố thời gian lao động trong ngày giữa phụ nữ và nam
giới. Phụ nữ phải giành nhiều thời gian hơn cho những công việc không được tính công
trong công việc gia đình. Trong khi đó nam giới đầu tư nhiều thời gian vào công việc
được xã hội trả công. Các chị đòi hỏi công bằng và bình đẳng ở đây không phải là vợ và
chồng phải làm một khối lượng các công việc gia đình là như nhau mà là sự kết hợp hài
hòa các công việc gia đình giữa vợ và chồng. Đặc biệt là thái độ của nam giới phải biết
thông cảm và tôn trọng vợ, giúp đỡ họ có điều kiện để học tập, nâng cao trình độ có cơ
hội tham gia lao động sản xuất.
Kết quả nghiên cứu ngẫu nhiên trên 417 người trong đó có 336 nữ và 81 nam cả
lao động trực tiếp và gián tiếp của hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội (1/1999) cho thấy nữ
công nhân lao động đảm nhận hầu như gần hết việc nhà với sự khác biệt được thống kê
rõ rệt:
- Đi chợ hàng ngày: 78,3% trong khi nam giới chỉ có tỷ lệ nhỏ 11,11% xu hướng
phải đi chợ hàng ngày của nữ cao gấp 28,8 lần so với nam.

ngành thuộc nhà nước quản lý còn ở lĩnh vực dịch vụ tự do hoặc khu vực “phi kết cấu”
thì sao? Theo điều tra của Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, khoảng 60%
lao động việc làm trong khu vực phi chính thức là phụ nữ và từ 40-60% chị em hoạt
động trong ngành thương mại (tiểu thương và cửa hàng ăn uống nhỏ) (năm 1999). Phụ
nữ ngành giáo dục đào tạo chiếm 67,1%, y tế bảo hiểm, may mặc chiếm 63,7%.
Thứ hai, trong ngành công nghiệp (43,2%) và xây dựng (26%) đều có sự tham gia
đông đảo của lao động nữ. Ở đây, ngoài việc làm bình đẳng với nam giới, phụ nữ phải
làm các công việc nặng nhọc, độc hại như làm đường, gõ gỉ, sơn, phị hồ hoặc làm hóa
chất độc hại….Đó là những thiệt thòi, song họ cũng đã khặng định vai trò của mình
trong sự phát triển của đất nước. Nhà nước cũng cần chính sách nhằm cải thiện điều kiện
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status