Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường - Pdf 16

LờI NóI ĐầU
Sự phát triển của Việt Nam cũng nh của các nớc Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) khác
đợc đánh dấu bằng sự chuyển hớng trong t tởng,nhận thức của các Đảng va Nhà Nớc
về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đờng đi lên CNXH.ở Việt Nam,từ sau những
năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 15 năm,đó thực sự chỉ là một khoảng thời gian
rất ngắn so với lịch sử phát triển của một dân tộc,một đất nớc.
Tuy nhiên,trong 15 năm đó,Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển vợt
bậc.Từ một nớc nghèo đói va thiếu ăn quanh năm,luôn phải trông chờ vào các khoản
viện trợ,trợ giúp của các nớc khác,Việt Nam đã trở thành một nớc xuất khẩu gạo
đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan).Các nghành sản xuất Công-Nông Nghiệp và
Dịch Vụ đã đạt đợc những thành quả đáng kể,đời sống của nhân dân đợc cải thiện
vv...Có đợc sự phát triển đó,nh trên đã nêu,chính là nhờ sự đổi mới trong nhận
thức,t duy về CNXH và con đờng
đi lên CNXH .Trong số những nhận thức đó,đặc biệt quan trọng,là sự đổi mới trong
nhận thức về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận nói chung cũng nh sự đánh giá lại
vai trò của lợi nhuận trong công cuộc xây dựng CNXH nói riêng .Đảng và Nhà Nớc
ta đã khẳng
định rằng chỉ dựa trên cơ sở có những hiểu biết đúng đắn về nguồn gốc,bản chất và
vai trò của lợi nhuận thì chúng ta mới có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển,sớm đa
Việt Nam hội nhập với các nớc trong khu vực và trên thế giới cũng nh xây dựng
thành công CNXH.
Vậy thì lợi nhuận là gì?Nguồn gốc,bản chất của lợi nhuận?Vai trò của lợi nhuận
trong việc phát triển nền kinh tế là nh thế nào?Những câu hỏi nay không phải dến
bây giờ mới đợc đặt ra mà từ rất lâu rồi con ngời đã có nhiều những quan điểm khác
nhau về lợi nhuận.Từ những quan điểm của các trờng phái lý luận trớc Mác cho đến
những trờng phái lý luận ngày nay,mỗi trờng phái đều có những luận điểm,học
thuyết của mình để trả lời những câu hỏi đó.Trong số những quan điểm đó,học
thuyết của Chủ Nghĩa Mác(CN Mác),đợc xây dựng trên nền tảng lý luận giá trị
1
thặng d(GTTD),đã giải thích đợc một cách đầy đủ,chính xác và khoa học nhất về
nguồc gốc,bản chất và vai trò của lợi nhuận.Chính vì vậy mà toàn bộ học thuyết của

lĩnh vực lu thông,do sự mua bán trao đổi mà sinh ra.Nó là kết quả của việc mua ít
bán nhiều ,mua rẻ bán đắt mà có.Họ cho rằng muốn có đợclợi nhuận thì không có
cách nào khác ngoài việc trao đổi buôn bán.
Về vai trò của lợi nhuận thì CNTT đã khẳng định rằng lợi nhuận luôn là mục tiêu
của mọi hoạt động trao đổi mua bán trên thị trờng.Điều này đợc thể hiện qua việc
một quốc gia phải luôn đảm bảo xuất siêu nh Thomas Mun đã viết:" Chúng ta phải
thờng xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho ngời nớc ngoài với số lợng
hàng hoá lớn hơn số lợng chúng ta phải mua của họ".Còn đối với các thơng nhân thì
mục tiêu của họ luôn là mua rẻ bán đắt nhằm thu đợc phần lợi nhuận chênh lệch.
Nhìn chung thì các quan điểm về lợi nhuận của CNTT,cũng nh các quan điểm
khác của họ,cha có đợc sự nhận thức,phân tích mang tính khoa học sâu sắc ,cha
mang tính quy luật.Tuy nhiên,các quan điểm này cũng đóng vai trò khá quan trọng,
làm tiền đề cho các học thuyết kinh tế sau này.

2/Quan điểm của tr ờng phái T Sản Cổ Điển về lợi nhuận:
Có thể nói rằng,trong giai đoạn trớc Mác,trờng phái T Sản Cổ Điển(TSCĐ) là tr-
ờng phái tiến bộ nhất.Đây cũng là một trong ba trờng phái đợc Mác chọn làm tiền đề
lý luận cho học thuyết của mình.Sở dĩ trờng phái TSCĐ đợc đánh giá cao nh vậy là
do đây là trờng phái đầu tiên chuyển đối tợng nghiên cứu của KTCT từ lĩnh vực lu
thông sang lĩnh vực sản xuất.Đó cũng là lần đầu tiên các nhà kinh tế học không
dừng lại ở việc nghiên cứu,xem xét hiện tợng bên ngoài mà đã sử dụng phơng pháp
trừu tợng hoá khoa học để đi sâu vào nhận thức,phân tích nhằm tìm ra bản chất và
tính quy luật của các sự vật,hiện tợng đồng thời xây dựng một hệ thống các phạm trù
nh giá trị,giá cả,lợi nhuận vv...
Đợc hình thành trong giai đoạn đầu của Chủ Nghĩa T Bản(CNTB),trờng phái
TSCĐ đã có một số những đại biểu kiệt xuất nh
W.Petty,A.Smith,D.Ricardo,vv...Quan điểm của các đại biểu này về lợi nhuận vừa
3
mang tính kế thừa ngời đi trớc vừa mang tính sáng tạo mà trong đó có một số quan
điểm nổi bật về lợi nhuận cuả phái Trọng Nông,A.Smith hay D.ricardo mà ta sẽ xem

xu hớng tỷ suất lợi nhuận giảm sút do khối lợng t bản đầu t tăng lên.
D.Ricardo đã kế thừa một cách xuất sắc những t tởng của A.Smith.Là ngời sống
trong thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp nên D.Ricardo đã có đợc những
điều kiện khách quan để tiếp tục phát triển học thuyết của A.Smith.Về lợi
nhuận,D.Ricardo cho rằng lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lơng mà nhà t bản trả
cho ngời công nhân.Tiến bộ hơn A.Smith,Ricardo không những đã thấy đợc xu hớng
giảm sút của tỷ suất lợi nhuận bình quân mà còn giải thích đợc nguyên nhân của sự
giảm sút là do sự vận động , biến đổi của thu nhập giữa ba giai cấp địa chủ,công
nhân và nhà t bản.Ông giải thích rằng do trong nông nghiệp có tồn tại quy luật màu
mỡ của đất đai ngày càng giảm,vì vậy,giá cả của nông phẩm sẽ ngày càng tăng lên
làm cho tiền công của công nhân và địa tô của địa chủ cũng tăng lên trong khi lợi
nhuận của nhà t bản thì không tăng theo.Do vậy mà tỷ suất lợi nhuận sẽ ngày càng
4
giảm xuống,gây thiệt hại cho nhà t bản.Tuy nhiên, đây chỉ là những luận giải đợc
thiết lập trên cơ sở những quan sát bên ngoài sự vật,hiện tợng chứ không hề mang
tính khoa học.Chỉ đến khi Chủ Nghĩa Mác-Lênin(CN M-L) xuất hiện,với việc phân
chia t bản thành t bản bất biến và t bản khả biến,mới giải thích đợc đúng đắn quy
luật tỷ suất lợi nhuận có xu hớng giảm dần.
Trên đây,chúng ta đã xét tới một số trờng phái lý luận trớc Mác,các trờng phái
này đều là các trờng phái có những quan điểm tiến bộ ,về lợi nhuận nói riêng và về
các phạm trù kinh tế học khác nói chung,đặc biệt là trờng phái TSCĐ.Những quan
điểm này đều đã đạt đợc những thành tựu nhất định mặc dù vẫn còn rất nhiều hạn
chế.Sở dĩ nh vậy là do các học thuyết này phát sinh vào giai đoạn đầu mới hình
thành của CNTB , lúc này mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp t sản cha
gay gắt lắm còn mâu thuẫn cơ bản của xã hội lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa t sản và
địa chủ.Hơn nữa,vào lúc đó,cha có một học thuyết nào,đứng về phe giai cấp công
nhân,đợc hình thành để giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và chủ t
bản.Chính vì vậy cho nên các nhà lý luận của giai cấp t bản mới có thể đa ra các học
thuyết ít nhiều còn mang tính khoa học.
Tuy nhiên,trong giai đoạn sau của CNTB,sự phát triển của CNTB đã bắt đầu bộc

dựa trên quan điểm sai lầm về giá trị,Malthus đã đa ra quan niệm sai lầm về lợi
nhuận,coi lợi nhuận"là khoản dôi ra ngoài chi phí về lao động sống và lao động vật
hoá".Với quan niệm này về lợi nhuận
vô hình chung,Malthus đã dẫn tới một cách giải thích sai lầm về nguồn gốc của lợi
nhuận,cho rằng không chỉ sức lao động của ngời công nhân mà cả các công cụ lao
động và đối tợng lao động cũng tham gia vào quá trình hình thành lợi nhuận.
Còn theo J.B.Say,ngời ủng hộ quan điểm giá trị ích lợi,thì cho rằng ích lợi của vật
quyết định giá trị của nó,ích lợi càng cao thì giá trị của vật càng lớn,coi ích lợi là th-
ớc đo của giá trị.Dựa trên cơ sở thuyết giá trị ích lợi,Say đã đa ra lý thuyết về ba
nhân tố sản xuất.Ông cho rằng có ba nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất là lao
động,đất đai và t bản,mỗi nhân tố có ích lợi riêng và tạo ra những phần giá trị tơng
ứng.Do vậy,Say đã coi lợi nhuận nh là phần giá trị của hàng hoá đợc tạo ra do ích lợi
của t bản,có nghĩa là ,coi lợi nhuận nh là hiệu suất đầu t của t bản.Luận điểm này tất
yếu dẫn tới việc cho rằng những máy móc tham gia vào quá trình sản xuất cũng
tham gia vào quá trình tạo ra giá trị chứ không phải chỉ riêng lao động của công
nhân mới tạo ra giá trị.Hơn nữa,Say còn cho rằng lợi nhuận là tiền lơng của nhà
quản lý kinh doanh,là phần thởng cho những nhà đầu t dám mạo hiểm.Ta có thể thấy
rằng đó hoàn toàn là những quan điểm sai lầm.

4/Quan điểm về lợi nhuận của tr ờng phái Cổ Điển Mới:
Xuất hiện trong giai đoạn bắt đầu sự chuyển đổi từ CNTB tự do cạnh tranh sang
CNTB độc quyền,đặc biệt là đợc hình thành sau khi CN Mác ra đời,trờng phái Cổ
Điển Mới (CĐM) ra đời nhằm mục đích biện hộ cho CNTB trớc những hiện tợng
kinh tế mới phát sinh nh tình trạng độc quyền và những hậu quả về mặt xã hội của
nó vv...Ngoài ra nó còn có một nhiệm vụ khác là phê phán CN Mác,phủ nhận những
lý luận khoa học của Mác về bản chất bóc lột của giai cấp t bản,sự diệt vong tất yếu
của CNTB và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vv...nhằm bảo vệ lợi ích của
giai cấp t sản.ủng hộ t tởng tự do cạnh tranh,áp dụng phép phân tích vi mô nền kinh
tế,kế thừa và tiếp tục phát triển lý thuyết giá trị tâm lý chủ quan là các đặc điểm nổi
bật của trờng phái CĐM.Dựa trên các đặc điểm cơ bản đó thì mỗi đại biểu của trờng

bản chất của quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hớng giảm dần.Ngoài ra,Mác cũng đã
thấy đợc và phân tích một cách khoa học sự phân chia của lợi nhuận thành các hình
thức khác nhau nh lợi nhuận công nghiệp(LNCN),lợi nhuận thơng nghiệp(LNTN),lợi
tức cho vay(LTCV),lợi nhuận ngân hàng(LNNH),địa tô(ĐT) và cuối cùng là lợi
nhuận độc quyền(LNĐQ).
Sau đây,chúng ta sẽ lần lợt xem xét các vấn đề trên trong học thuyết của Mác.
1/Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận:
Để thấy đợc sự hình thành của lợi nhuận,trớc tiên ta hãy xem xét về khái niệm mà
mác gọi là chi phí sản xuất(CPSX).
Nh chúng ta đã biết,giá trị của hàng hoá đợc cấu thành nên từ chi phí cho lao động
trong quá khứ,chi phí cho lao động sống và phần giá trị mới đợc tạo ra trong quá
trình sản xuất.Tuy nhiên,đối với nhà t bản thì họ không quan tâm tới sự cấu thành
của giá trị hàng hoá mà họ chỉ quan tâm tới việc phải bỏ ra bao nhiêu t bản và sẽ thu
lại đợc cái gì.
Để tiến hành sản xuất ra một sản phẩm thì trên thực tế nhà t bản sẽ phải ứng t bản
ra để mua các t liệu sản xuất(TLSX),đợc ký hiệu là (c), và để thuê lao động,đợc ký
hiệu là (v).Toàn bộ phần t bản này đợc gọi là t bản ứng trớc(TBƯT).Tuy nhiên,theo
Mác thì không phải toàn bộ phần TBƯT này đều đợc chuyển dịch hết vào giá trị của
hàng hoá mà chỉ có một phần lợng t bản đợc dùng để ứng trớc cho TLSX và toàn bộ
lợng t bản đợc dùng để ứng trớc cho lao động là cấu tạo trực tiếp nên giá trị của hàng
hoá. Phần giá trị này đợc Mác gọi là CPSX ,đợc ký hiệu là (k) và đợc biểu diễn dới
công thức:
k=c+v
Với sự hình thành khái niệm CPSX,nhà t bản đã bớc đầu che dấu đợc sự hình
thành của giá trị thặng d(GTTD) và tạo điều kiện để hình thành nên khái niệm lợi
7
nhuận.Có thể thấy rõ đợc điều này qua việc nghiên cứu những phân tích của Mác về
công thức của CFSX trên.
Trớc tiên,ta hãy xen lại định nghĩa của Mác về GTTD.Theo Mác thì "giá trị thặng
d là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà t bản

thể bán một hàng hoá nhất định nào đó với giá cả nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị thực
tế của nó.Chừng nào mà giá bán vẫn còn cao hơn CPSX để sản xuất ra hàng hoá đó
thì nhà t bản còn thu đợc lợi nhuận.Chính vì vậy đã làm cho lợi nhuận dờng nh là kết
quả của hoạt động kinh doanh, do tài nghệ kinh doanh của nhà t bản tạo ra.Đây cũng
chính là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và tồn tại của một số quan điểm sai lầm
về lợi nhuận mà ta đã nghiên cứu ở phần trên.

2/Tỷ suất lợi nhuận,tỷ suất lợi nhuận bình quân,giá cả sản xuất và quy luật tỷ
suất lợi nhuận có xu h ớng giảm dần :
8
Nh trên chúng ta đã phân tích,lợi nhuận thực chất chỉ là một hình thức biến tớng
của GTTD.Tuy nhiên,đối với nhà t bản thì họ không quan tâm,không cần biết đến
điều đó.Khi tiến hành một hoạt động sản xuất hàng hoá,mục tiêu của nhà t bản
không phải là hàng hoá đợc sản xuất ra cũng không phải là giá trị sử dụng của hàng
hoá đó.Cái mà nhà t bản cần là cái phần giá trị mới thừa ra so với toàn bộ phần t bản
đã tiêu dùng,nó đợc nhà t bản gọi dới cái tên là lợi nhuận.Mặc dù cái đích cuối cùng
của mọi hoạt động sản xuất-kinh doanh của nhà t bản là lợi nhuận tuy nhiên nhà t
bản lại chẳng quan tâm xem phần lợi nhuận đó đợc tạo ra từ đâu,từ TBBB hay từ
TBKB vv...Đối với nhà t bản,lợi nhuận đợc tạo nên từ toàn bộ phần t bản đã tiêu
dùng,đúng nh Mác đã viết :"...nhà t bản trông mong là tất cả các bộ phận của t bản
mà hắn ứng ra đều sẽ đem lại lợi nhuận nh nhau cả ".Từ quan niệm trên đã nảy sinh
khái niệm về tỷ suất lợi nhuận.Theo định nghĩa của Mác thì "Tỷ suất lợi nhuận (p')
là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d và toàn bộ t bản ứng trớc".Ta có :
p'=(m/(c+v))*100%.
Với sự xuất hiện khái niệm tỷ suất lợi nhuận,ta có thể thấy rằng,một lần nữa bản
chất bóc lột của CNTB lạiđợc che dấu đi.Nếu nh tỷ suất GTTD (m') đã phản ánh đợc
sự bóc lột của nhà t bản đối với công nhân làm thuê,là thớc đo trình độ bóc lột của
giai cấp t sản thì tỷ suất lợi nhuận,đơn thuần,chỉ phản ánh mức lãi của việc đầu t t
bản,nó chỉ cho nhà t bản biết nên đầu t vào đâu thì có lợi hơn.
Trên đây,chúng ta đã nghiên cứu,xem xét về sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận

xoay quanh giá trị của hàng hoá.Giờ đây,với việc hình thành khái niệm giá cả sản
xuất thì giá cả của hàng hoá lại xoay quanh giá cả sản xuất.Đã từng có một số nhà
kinh tế học t sản,dựa vào sự thật là giá cả sản xuất trong một số nghành không phù
hợp với giá trị của hàng hoá trong các nghành đó,để hòng bác bỏ lý luận giá trị lao
động của Mác.Tuy nhiên,cần phải thấy rằng quy luật giá trị vẫn hoàn toàn đúng đắn
trong giai đoạnTBCN,giá trị vẫn đóng vai trò là cơ sở là nội dung bên trong của giá
cả sản xuất.Nói cách khác,giá cả sản xuất thực chất chỉ là mộthình thức biến tớng
của giá trị mà thôi.
Ta có thể thấy rõ đợc điều đó qua một số phân tích sau:
Một là,tổng số lợi nhuận của toàn bộ giai cấp t sản thì đúng bằng với tổng số
GTTD do lao động không công của giai cấp công nhân tạo ra.Và do đó,tỷ suất lợi
nhuận bình quân cao hay thấp là do lợng GTTD đợc tạo ra trong xã hội quyết
định.Sở dĩ nh vậy vì,nh trên đã phân tích,nguồn gốc của lợi nhuận chỉ có thể xuất
phát từ lao động không công của công nhân bị nhà t bản chiếm đoạt chứ không thể
từ một nguồn gốc nào khác.Các nhà t bản,nh Mác nói,sẽ không thể bóc lột lẫn
nhau,bóc lột trên lng nhau đợc.
Hai là, mặc dù trên thực tế,trong một số nghành,giá cả sản xuất của một hàng hoá
có thể cao hơn giá trị của nó trong khi ở một số nghành khác thì giá cả sản xuất của
hàng hoá lại thấp hơn giá trị của nó.Nhng xét về tổng thể,trên phạm vi toàn xã
hội,thì tổng số giá cả sản xuất vẫn đúng bằng tổng số giá trị của tất cả hàng hoá.
Ba là,giá trị của một hàng hoá biến động tăng hoặc giảm cũng sẽ kéo theo sự biến
động tơng ứng của giá cả sản xuất của hàng hoá đó.
Nói tóm lại,Mác đã giải thích đợc một cách chính xác và khoa học về nguồn
gốc,bản chất của lợi nhuận cũng nh các khái niệm khác liên quan tới lợi nhuận,đặc
biệt là những khái niệm về tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất.Điều này
thể hiện sự tiến bộ vợt trội của học thuyết kinh tế của Mác so với các học thuyết
kinh tế khác.Hơn thế nữa, không chỉ lý giải về sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận
bình quân mà Mác còn giải thích và chứng minh một cách đúng đắn và khoa học về
quy luật tỷ suất lợi nhuận giảm dần.Một quy luật mà mặc dù một số nhà lý luận của
trờng phái TSCĐ nh A.Smith hay D.Ricardo tuy đã nhận thức đợc về sự hiện diện

độ bóc lột là không giảm nhng tỷ suất lợi nhuận vẫn ngày càng giảm.
Tuy nhiên,cần phải thấy rằng,nh Mác đã khẳng định,sự đúng đắn của quy luật tỷ
suất lợi nhuận giảm dần không có nghĩa là lợng GTTD,hay chính là lợng lao động
không đợc trả công mà nhà t bản chiếm đoạt của ngời công nhân,không tăng lên một
cách tuyệt đối.Sở dĩ nh vậy là do nhà t bản không ngừng nâng cao tỷ suất giá trị
thặng d cũng nh không ngừng tăng thêm tổng số lao động bị t bản bóc lột.Hơn thế
nữa,quy luật này còn làm cho nhà t bản càng tăng cờng bóc lột công nhân tới mức
tối đa nhằm kìm hãm xu hớng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận.Ngoài ra,nó còn làm
cho cuộc tranh giành phân chia tổng khối lợng lợi nhuận ngay trong nội bộ giai cấp
t bản cũng diễn ra ngày càng gay gắt.
Không chỉ có vậy mà trong nỗ lực tìm mọi cách kìm hãm xu hớng giảm dần của tỷ
suất lợi nhuận và nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận,nhà t bản đã đua nhau đầu t t
bản ra nớc ngoài đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nơi có nguồn nhân công giá
rẻ và cấu tạo hữu cơ của t bản thấp hơn so với các nớc phát triển.ở các nớc này,bọn
t bản ra sức vơ vét,bóc lột nhân dân các nớc thuộc địa.Điều đó làm cho mâu thuẫn
giữa các nớc t bản phát triển và các nớc chậm tiến,giữa chính quốc và các nớc thuộc
địa ngày càng gay gắt.
Ngoài ra,với tham vọng tăng thêm lợi nhuận để bù đắp vào chỗ giảm sút lợi nhuận
do xu hớng giảm sút lợi nhuận gây ra,nhà t bản đã tăng cờng mở rộng quy mô sản
xuất,đẩy sức cung của thị trờng vợt xa khỏi giới hạn nhu cầu của ngời mua.Đây là
một trong các nguyên nhân dẫn tới các cuộc khủng hoảng thừa,loại khủng hoảng đặc
trng của CNTB.
Nói tóm lại,có thể thấy rằng,quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hớng giảm dần
không chỉ đơn thuần phản ánh xu hớng giảm dần của tỷ suất lợi nhuận trong xã hội
t bản mà nó còn làm cho những mâu thuẫn nội tại của CNTB ngày càng trở nên sâu
11
sắc và từ đó,chỉ ra các hạn chế mang tính chất lịch sử của PTSX TBCN .Vì vậy,việc
giải thích một cách khoa học sự hình thành cũng nh các tác động của quy luật tỷ
suất lợi nhuận giảm dần trong xã hội t bản đã làm cho học thuyết kinh tế của Mác
nói riêng và toàn bộ hệ thống lý luận của Mác nói chung tăng thêm tính khoa học và

ng trong các xã hội trớc CNTB thì hai dạng t bản này hoàn toàn độc lập với nhau.
Nhà t bản sau khi sản xuất ra sản phẩm rồi phải tự mình mang sản phẩm ra thị trờng
để tiêu thụ do đó toàn bộ t bản của họ ban đầu không chỉ đợc đầu t vào mỗi quá trình
sản xuất mà còn phải chi phí cho cả quá trình bán hàng do vậy lợi nhuận của nhà t
bản Công nghiệp sẽ bị giảm đáng kể.Còn t bản Thơng nghiệp trong giai đoạn
này,hay còn đợc gọi là Thơng nghiệp cổ xa với chức năng lu thông hàng hoá dựa
trên cơ sở mua rẻ, bán đắt và vì vậy lợi nhuận Thơng nghiệp lúc này thực chất là
kết quả của việc ăn cắp và lừa đảo. Ta có thể thấy rõ điều này qua quan điểm của
trờng phái trọng thơng, cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang
giá , cho rằng không một ngời nào thu đợc lợi mà không làm thiệt kẻ khác.
12
Nhng trong giai đoạn TBCN,do nhu cầu của sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá thì
Công nghiệp và Thơng nghiệp hay nói rộng hơn là quá trình sản xuất và lu thông
không thể tách biệt độc lập mà đã trở nên phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau. Lúc này thì t
bản Thơng nghiệp, thực chất là một bộ phận của t bản Công nghiệp tách rời ra,
phục vụ qúa trình lu thông hàng hoá của nhà t bản Công nghiệp. Khi đó, với sự
hình thành của t bản Thơng nghiệp thì cả t bản Công nghiệp và t bản Thơng nghiệp
đều thu đợc những lợi ích mà đợc thể hiện ra là lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận
Thơng nghiệp. Đối với t bản Thơng nghiệp, mặc dù chỉ tham gia vào lĩnh vực lu
thông, tức là chỉ tham gia vào việc thực hiện giá trị, trong đó có giá trị thặng d, chứ
không hề tham gia vào quá trình sản xuất ra giá trị nhng vẫn thu đợc một phần lợi
nhuận. Phần lợi nhuận này đợc gọi là lợi nhuận Thơng nghiệp. Nếu chỉ xét tới vai trò
của t bản Thơng nghiệp là thực hiện giá trị của hàng hoá mà tạm thời bỏ qua chức
năng tiếp tục quá trình sản xuất trong lĩnh vực lu thông của nó thì đúng là t bản Th-
ơng nghiệp không hề tạo ra giá trị và giá trị thặng d do vậy nhìn bề ngoài có thể lầm
tởng lợi nhuận Thơng nghiệp là do mua rẻ, bán đắt mà có . Tuy nhiên,lợi nhuận Th-
ơng nghiệp thực chất, là một phần giá trị trị thặng d đợc sáng tạo ra trong lĩnh vực
sản xuất mà nhà t bản Công nghiệp nhờng cho nhà t bản Thơng nghiệp.
Sở dĩ nhà t bản Công nghiệp chịu nhờng và phải nhờng một phần của thặng d mà
mình chiếm đoạt đợc hay một phần lợi nhuận của mình cho nhà t bản Thơng nghiệp

với tỉ suất giá trị thặng d: m = 100% => giá trị hàng hóa là: 700c + 100v + 100 =
900
Tỉ suất lợi nhuận nghành Công nghiệp sẽ là:
P
CN
= 100/800 * 100% = 12,5%
Bây giờ,nếu có thêm một nhà t bản Thơng nghiệp bỏ ra 200 để mua hàng hoá
=>lúc đó ta có tỉ suất lợi nhuận bình quân sẽ bằng:
100
*100% = 10%
800 + 200
Theo tỉ suất lợi nhuận chung mới này thì phần lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận
Thơng nghiệp tơng ứng sẽ bằng:
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi đó nhà t bản Thơng nghiệp sẽ mua hàng hoá từ nhà t bản Công nghiệp với giá
thấp hơn giá trị:
800 + 80 = 880 (<900)
và sẽ bán với giá đúng bằng giá trị và thu đợc lợi nhuận Thơng nghiệp:
880 + 20 = 900
Nh vậy là, với sự hình thành tỉ suất lợi nhuận chung giữa hai ngành Công nghiệp
và Thơng nghiệp thì lợi nhuận Thơng nghiệp đã đợc thực hiện. Với sự xuất hiện của
lợi nhuận Thơng nghiệp trong xã hội t bản,đã hình thành nên hai loại giá cả sản xuất
là giá cả sản xuất Công nghiệp và giá cả sản xuất thị trờng. Nó cũng góp phần che
dấu thêm một mức nữa quan hệ bóc lột TBCN.
b/ Lợi tức cho vay và lợi nhuận ngân hàng:
Nh trên đã phân tích,t bản Thơng nghiệp là một bộ phận t bản Công nghiệp tách
ra, phục vụ quá trình lu thông hàng hoá của nhà t bản Công nghiệp. Còn t bản cho
vay, thực chất cũng là một bộ phận của t bản Công nghiệp đợc tách ra nhng là
để,một mặt vừa đáp ứng nhu cầu về t bản,mặt khác là để thoả mãn sự thèm khát lợi

tiền nào đó, khoản tiền này đợc gọi là lợi tức và nó dợc trích từ phần lợi nhuận thu đ-
ợc của nhà t bản đi vay sau khi anh ta sử dụng lợng t bản đi vay vào quá trình sản
xuất.
Vậy lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản đi vay phải trả cho nhà
t bản cho vay căn cứ vào món tiền mà nhà t bản cho vay đã đa cho nhà t bản đi vay
sử dụng. Nh vậy thì xét cho cùng nguồn gốc của lợi tức chính là phần giá trị thặng d
mà nhà t bản Công nghiệp chiếm đoạt của ngời lao động.
Với sự hình thành của t bản cho vay và tơng ứngvới nó là lợi tức cho vay thì lúc
này phần lợi nhuận bình quân mà các nhà t bản Công nghiệp và t bản Thơng nghiệp
thu đợc không còn thuộc hoàn toàn về họ mà phần lợi nhuận bình quân đó đợc chia
ra thành lợi tức cho vay là khoản đem trả cho nhà t bản cho vay, phần còn lại sau khi
trả lợi tức đợc gọi là thu nhập của chủ xí nghiệp. Lợng lợi tức đem trả nhiều hay ít
tuỳ theo quan hệ cung cầu về t bản cho vay và nó phụ thuộc vào tỉ suất lợi tức, là tỉ
lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và tổng số t bản tiền tệ cho vay.
Nếu kí hiệu lợi tức là Z còn tỉ suất lợi tức là Z thì ta có:
Z = ( Z/t bản cho vay) * 100%
Phần lợi tức cao hay thấp là do tỉ suất lợi tức quy định,đến lợt nó thì tỉ suất lợi tức
lại bị quy định bởi các yếu tố:
Giới hạn cao nhất của tỉ suất lợi tức chính là tỉ suất lợi nhuận bình quân do vậy mà
sự thay đổi của tỉ suất lợi nhuận bình quân cũng dẫn tới sự thay đổi thuận chiều tơng
ứng của tỉ suất lợi tức. Cũng chính vì vậy cho nên,vì tồn tại quy luật giảm dần của tỉ
suất lợi nhuận do đó tỷ suất lợi tức cũng có xu hớng giảm dần.
Tỉ suất lợi tức phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu về t bản cho vay.
Nói tóm lại,xuất phát từ việc nảy sinh mối quan hệ tín dụng TBCN cho nên đã
nảy sinh các nhu cầu cho vay và đi vay đã dẫn tới sự hình thành t bản cho vay và lợi
tức cho vay. Tuy nhiên, quan hệ tín dụng TBCN ở thời kỳ này mới chỉ ở dạng đơn
giản mang tính trực tiếp, tức là nhà t bản cho vay thiết lập trực tiếp mối quan hệ tín
dụng với nhà t bản đi vay. Nhng cùng với sự phát triển của CNTB thì nhu cầu đi vay
và cho vay ngày càng nhiều, các quan hệ tín dụng trong xã hội t bản trở nên trồng
chéo, phức tạp. Do vậy đã đòi hỏi phải xuất hiện một tổ chức đóng vai trò trung gian


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status