Hướng dẫn khai thác, sử dụng các thể loại bản đồ giáo khoa - Pdf 16

HƯỚNG DẪN KHAI THÁC,
SỬ DỤNG CÁC THỂ LOẠI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA
I. MỤC TIÊU CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ GIÁO KHOA TRONG NHÀ TRƯỜNG
Trước đây, trong chương trình học tập ở nhà trường phổ thông không có thời gian dành cho bộ
môn bản đồ học, mà bản đồ chỉ được coi như một công cụ, một phương tiện cho việc dạy và học địa
lí. Theo chương trình mới , kiến thức về bản đồ được đưa vào chương trình môn địa lí ở lớp 6 và
lớp 10.
Chương trình địa lí lớp 6 có 5 bài giáo dục về kiến thức bản đồ là:
- Bản đồ, cách vẽ bản đồ
- Tỉ lệ bản đồ
- Phương hướng trên bản đồ, kinh độ, vĩ độ và toạ độ địa lí.
- Kí hiệu bản đồ, cách biểu hiện địa hình trên bản đồ.
- Tập sử dụng địa bàn và thước đo để vẽ sơ đồ lớp học (Thực hành).
Chương trình địa lí lớp 10 có một chương về bản đồ, trong đó có các bài:
- Một số phép chiếu hình bản đồ cơ bản. Phân loại bản đồ. Tổng quát hoá bản đồ.
- Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ.
- Viễn thám và hệ thông tin địa lí. Sử dụng bản đồ trong học tập và đời sống.
- Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ (thực hành).
Dung lượng kiến thức bản đồ quy định ít ỏi đó buộc chúng ta phải thông qua việc giảng dạy địa
lí để trang bị cho học sinh những kiến thức bản đồ.
Trong chương địa lí phổ thông, lượng kiến thức về bản đồ được xác định cho từng cấp học, lớp
học và từ đó mới phân bố kiến thức ấy cho mỗi loại hình bản đồ dùng cho từng cấp học, lớp học và
từng bài học. Trong mỗi một bản đồ chúng ta thấy các kiến thức địa lí, các kiến thức bản đồ được sắp
xếp theo một dụng ý, thể hiện rõ nét ý đồ phương pháp. Ví dụ, để thực hiện tốt phương pháp phát vấn,
giáo viên phải dựa vào bản đồ để ra các câu hỏi và cũng trên bản đồ học sinh sẽ tìm ra câu trả lời.
Trong quá trình dạy học địa lí, người giáo viên có dụng ý giúp học sinh làm quen với ngôn ngữ
bản đồ từ đơn giản đến phức tạp nhằm trang bị cho học sinh khả năng đọc bản đồ như là đọc một
cuốn sách và phải nâng lên mức có thể phản ánh được nội dung trong cuốn sách đó. Điều này có
nghĩa là giáo viên không chỉ giúp cho học sinh không dừng lại ở mức nhận biết các hiện tượng địa lí
trên bản đồ mà còn phải nắm được nội dung, bản chất của các hiện tượng đó. Có như thế mới làm
cho học sinh thể hiện được sự mô tả định tính một khu vực trên bản đồ và cao hơn là mô tả định

Ba nội dung này quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể chọn nội dung và phương pháp nếu chưa
làm tốt công tác phân tích đánh giá bản đồ bởi vì bản đồ là cơ sở của việc lựa chọn nội dung và
phương pháp.
Đối với bản đồ giáo khoa, ngoài nội dung khoa học địa lí, thì nội dung khoa học của bản đồ
cũng giữ một vai trò quan trọng. Vì vậy, khi chuẩn bị bản đồ cho bài giảng địa lí cũng đồng thời
phải chuẩn bị luôn cả nội dung và kiến thức bản đồ học cần truyền thụ cho học sinh. Về mặt phương
pháp thể hiện bản đồ, phải lấy tính chất và yêu cầu của phương pháp bản đồ giáo khoa làm tiêu
chuẩn đánh giá, cần thống nhất phương pháp thể hiện với hệ thống kí hiệu bản đồ và màu sắc trên
bản đồ. Bất kì ở một cấp học nào dù khái quát hóa cao đến đâu, trên bản đồ cũng không thể thiếu hệ
thống kinh vĩ tuyến và tỉ lệ bản đồ. Thiếu hai yếu tố này ta không thể xác định được kích thước và
mối quan hệ không gian của các hiện tượng địa lí trên bản đồ.
Sau khi phân tích, đánh giá bản đồ theo nội dung, người ta xét đến yếu tố kĩ thuật bản đồ như
thiết kế mĩ thuật, kí hiệu, màu sắc phải theo quy định. Không phải tất cả các bản đồ đã được xuất
bản đều hoàn thiện, không ít trong số đó vẫn còn những sai sót. Vì thế, khi dùng bản đồ cho một giờ
giảng phải kiểm tra lại, nếu có những sai sót vi phạm nguyên tắc thì không thể dùng được. Hiện
nay, những vấn đề về kĩ thuật bản đồ chưa có sự thống nhất và đang hướng tới sự thống nhất.
Nhiệm vụ cuối cùng khi phân tích, đánh giá bản đồ là đánh giá phương pháp sư phạm tàng trữ
trong bản đồ. Về nguyên tắc, bản đồ giáo khoa nhất thiết phải chứa trong nó nội dung của phương
pháp sư phạm. Nếu một bản đồ địa lí mà không đầy đủ tính chất của một bản đồ giáo khoa thì
không nên và không thể sử dụng để dạy học. Trong giáo án chuẩn bị bản đồ cho bài giảng, giáo
viên cần lựa chọn bản đồ nào là chính thức dùng cho bài giảng, bản đồ nào dùng làm tham khảo.
Những bản đồ dùng cho bài giảng có thể là bản đồ mà giáo viên tự xây dựng hoặc những bản đồ đã
xuất bản cũng có thể là bản đồ nền hay bản đồ trống. Những bản đồ tự xây dựng là những bản đồ
rất tốt cho bài giảng, nó có nội dung và phương pháp phù hợp với bài giảng, lượng thông tin có ích
cao. Khi giảng bài giáo viên dùng bản đồ trống hay vừa giảng vừa vẽ bản đồ lên bảng thì thường
thu hút được sự chú ý của học sinh, bài giảng sinh động, gây hứng thú cho học sinh.
Trong việc chuẩn bị bản đồ cho bài giảng địa lí, công tác nổi bật nhất là thu thập tư liệu bản đồ
và bổ sung tư liệu bản đồ. Công tác này được thực hiện khi thu thập, tập hợp, phân tích, chỉ tiêu
hoá, xác định vị trí và ranh giới để thể hiện lên bản đồ. Khi sử dụng tư liệu bản đồ cần đặc biệt chú
ý tới lưới chiếu của bản đồ tư liệu, tỉ lệ bản đồ. Từ những tư liệu dùng cho việc chuẩn bị bản đồ để

thức bản đồ tối thiểu đáp ứng những nhu cầu thông thường trong cuộc sống xã hội.
Phương pháp học tập của học sinh cần được xây dựng cụ thể, thích hợp cho từng hình thức học
tập, nghĩa là học sinh cần biết cách dùng bản đồ khi nghe giảng ở lớp. Khi học bài và làm bài ở nhà,
khi tham gia những hoạt động ngoại khoá và khi tham gia những cuộc thăm quan địa lí. Như vậy,
cách dùng bản đồ để học địa lí cũng rất phong phú, từ đơn giản đến phức tạp, phát triển theo cấp
học, theo lứa tuổi, theo chương trình bộ môn. Để bài giảng trên lớp đạt kết quả tốt giáo viên phải
chuẩn bị bản đồ cho bài giảng, vì thế học sinh cũng phải có những công việc chuẩn bị để tiếp thu
bài giảng. Học sinh phải chuẩn bị theo yêu cầu của thầy giáo những bản đồ cần thiết để nghe giảng,
có thể ghi chép và theo dõi ngay trên bản đồ.
4. Sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong giảng dạy
Bản đồ giáo khoa treo tường có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giảng dạy và
học tập địa lí. Loại bản đồ này dùng chủ yếu ở khâu lên lớp, nó giúp cho giáo viên giảng dạy được
dễ dàng, sinh động và giúp cho học sinh học tập được cụ thể và hứng thú hơn. Chức năng chính của
bản đồ treo tường là trình bày tại lớp, nhưng có thể dùng nó để kiểm tra bài cũ, giảng bài mới và
làm cơ sở cho những bài tập địa lí.
Trong giảng dạy và học tập địa lí bản đồ giáo khoa treo tường được coi như một tài liệu độc
lập, là nội dung kiến thức địa lí. Nó không chỉ là kho tàng trữ các kiến thức địa lí, là nguồn thông
tin mà còn là phương tiện có hiệu quả để phổ biến và truyền thụ các tri thức đó.
Qua sử dụng bản đồ treo tường giúp giáo viên rèn luyện khả năng thực hành cho mình tốt hơn.
Đối với giáo viên, bản đồ treo tường phải được dùng trong suốt quá trình dạy học từ khâu chuẩn bị
bài lên lớp, truyền thụ kiến thức mới và khi ôn tập, kiểm tra học sinh. Giáo viên phải biết sử dụng
kết hợp các loại hình bản đồ trong các khâu trên, phải biết hướng dẫn học sinh, yêu cầu học sinh
học tập trên cơ sở bản đồ, rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh.
Bản đồ giáo khoa treo tường do có mức độ khái quát cao nên nó còn giúp giáo viên lựa chọn
nội dung cần thiết cho bài giảng, chọn phương pháp giảng bài có hiệu quả nhất. Sử dụng bản đồ treo
tường trong giờ giảng chẳng những làm cho học sinh tiếp thu bài dễ, hiểu bài, nhớ lâu mà còn phát
huy được tính tích cực của học sinh.
Việc sử dụng kí hiệu trên bản đồ giáo khoa cần phải đảm bảo tính sư phạm, tính trực quan và
tính khoa học, vì đó là những tính chất đặc trưng của bản đồ giáo khoa. Để cho bản đồ có hiệu quả
truyền tin tốt, khi thiết kế kí hiệu phải tập trung vào việc nghiên cứu tìm ra các phương pháp biểu

đồ giáo khoa treo tường bổ sung, mở rộng kiến thức cho giáo viên và học sinh, cũng như bổ sung
những thiếu sót ở trong sách giáo khoa và ở trong bản đồ của sách giáo khoa. Sử dụng bản đồ giáo
khoa treo tường trong giờ giảng chẳng những làm cho học sinh tiếp thu bài dễ, hiểu bài, nhớ lâu mà
còn phát huy được tính tích cực của học sinh.
Bản đồ giáo khoa treo tường là điểm gặp gỡ giữa giáo viên va học sinh. Cùng một lúc giáo viên
và học sinh cùng làm việc. Trong khi giảng bài giáo viên đặt câu hỏi và học sinh phải dựa vào bản
đồ để trả lời. Như vậy, giáo viên sẽ nhận được ngay luồng thông tin phản hồi từ học sinh và nhờ đó
giáo viên phát hiện được những thiếu sót của học sinh, có biện pháp kịp thời sửa chữa. Mỗi một bản
đồ có thể dùng cho một chương, một bài, một tiết hay một phần của tiết học. Dạy học địa lí bao
gồm cả truyền thụ kiến thức bản đồ và dạy kĩ năng, rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ. Tất cả những
điều này chỉ được hình thành khi dạy địa lí gắn với bản đồ.
Khi sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường cần chú ý một số yêu cầu sau:
- Giáo viên phải nắm vững bản đồ sẽ sử dụng để có một kĩ năng sử dụng nhanh chóng, chính
xác và thành thạo không mắc những sai phạm khi sử dụng bản đồ. Muốn sử dụng bản đồ nào khi
lên lớp thì khi soạn bài giáo viên phải có sự chuẩn bị trước để nắm vững hệ thống kí hiệu bản đồ,
những địa danh cần truyền thụ cho học sinh, dự định phương pháp sử dụng, sử dụng như thế nào,
vào lúc nào, đặt câu hỏi nào…
- Những bản đồ treo tường dùng trong một bài học cần chuẩn bị chu đáo và được treo ở lớp
đúng lúc để tập trung sự chú ý của học sinh.
- Sử dụng bản đồ treo tường phải kết hợp với những loại hình bản đồ khác, trước mỗi bản đồ
treo tường phải có bản đồ bài tập tương ứng.
- Lần đầu tiên sử dụng bản đồ treo tường trên lớp giáo viên cần giới thiệu ngắn gọn về hướng,
hệ thống kí hiệu, tỉ lệ… Để tạo điều kiện cho học sinh làm quen với bản đồ.
- Cần đảm bảo đúng các thao tác khi làm việc với bản đồ, thí dụ cách chỉ bản đồ phải dùng
thước, chỉ vào kí hiệu chứ không chỉ vào chữ viết của đối tượng, sông chỉ theo hướng dòng chảy,
vùng phân bố thì theo đường ranh giới…
- Yêu cầu đặt ra trong việc giáo dục kiến thức bản đồ, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo sử dụng bản đồ cho
học sinh thường là: hiểu, đọc và biết bản đồ.
+ Hiểu bản đồ là làm quen với bản đồ với những tính chất, nội dung với ngôn ngữ bản đồ một
cách có hệ thống, ví dụ như biết thuộc tính của quả địa cầu, của các loại bản đồ địa lí, giải thích được

ra cần vừa sức và chỉ đòi hỏi học sinh đọc bản đồ thông qua tư duy và tìm ra câu trả lời, không nên
dùng câu hỏi đòi hỏi phải tính toán trên bản đồ mới trả lời được.
Như vậy, phải coi bản đồ treo tường là đối tượng để nhận thức, là lãnh thổ nghiên cứu chứ
không chỉ đơn thuần là đồ dùng trực quan. Khi củng cố dặn dò cũng phải gắn với bản đồ, hướng
dẫn học sinh về nhà học bài kết hợp với bản đồ treo tường, atlas và các thể loại khác.
Cũng có thể dùng bản đồ treo tường để xác định tọa độ địa lí. Việc dùng bản đồ treo tường để
đo, tính khoảng cách, tính diện tích… thì nên hạn chế, nếu có chỉ nên tiến hành ở bản đồ tỉ lệ lớn
như các bản đồ địa lí địa phương tỉ lệ 1: 200.000 hoặc lớn hơn.
Cũng có thể dùng bản đồ treo tường để mô tả một tuyến, một khu vực, một địa phương. Việc
mô tả và nêu các đặc điểm hiện tượng trên bản đồ đòi hỏi học sinh phải hiểu ngôn ngữ bản đồ. Kĩ
năng mô tả và nêu các đặc điểm của các đối tượng, hiện tượng địa lí sẽ được hoàn thiện dần dần
trong hệ thống công việc kế tiếp nhau.
Tóm lại, sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường chủ yếu dùng phương pháp phân tích bằng mắt
với việc đọc và chỉ bản đồ, so sánh bản đồ, mô tả và nêu đặc điểm đối tượng địa lí là công việc
thường xuyên có hệ thống của giáo viên và học sinh để tạo thói quen khi sử dụng bản đồ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status