Luận Văn: Thử nghiệm nuôi thu sinh khối Artemia franciscana tại Ninh Ích–Ninh Hòa-Khánh Hòa - Pdf 17

Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang i Chuyên ngành
NTTS
 Luận Văn
Thử nghiệm nuôi thu sinh
khối Artemia franciscana tại
Ninh Ích–Ninh Hòa-Khánh
Hòa
GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang ii Chuyên ngành
NTTS
LỜI CẢM ƠN
Trong cuộc đời tôi thì 4 năm được làm sinh viên có thể nói là khoảng
thời gian đẹp và quan trọng nhất; vì tôi có điều kiện học tập, giao lưu với rất
nhiều bạn ở nhiều vùng miền, được truyền đạt nhiều kiến thức từ các thầy cô
giỏi và tận tâm. Điều quan trọng nhất là khoảng thời gian đại học tôi được học
tập, nghiên cứu nâng cao trình độ tay nghề để tương lai có một nghề nghiệp
ổn định.
Để đạt được kết quả đó, tôi kính gởi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô
Khoa NTTS thuộc Trường Đại học Nha Trang đã tận tình truyền đạt cho tôi
cũng như những sinh viên khác những kiến thức chuyên môn, kiến thức về
cuộc sống để tôi có thể vững vàng bước vào đời.
Qua đây tôi kính gởi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị em tại Ninh
Ích-Ninh Hòa đã có nhiều giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình
thực tập. Xin chân thành cảm ơn KS.Nguyễn Thị Thúy đã giúp đỡ tôi trong
vấn đề phân lập và nuôi cấy các loại tảo.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến ThS.Nguyễn Tấn Sỹ,
người đã tạo điều kiện về vật chất, kinh phí và tài liệu tốt nhất cho tôi làm
thực tập. Ngoài ra, sự hướng dẫn tận tình của thầy là sự động viên lớn cho tôi

2.2. Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 19
2.2.2. Phương pháp bố trí ao nuôi, thu thập và xử lý số liệu 20
2.2.2.1. Phương pháp bố trí ao nuôi 20
Hình 2.2: Sơ đồ ao thí nghiệm 20
Hình 2.2: Sơ đồ ao thí nghiệm 20
2.2.2.2.Phương pháp thu thập số liệu 20
Hình 2.3: Máy đo YSI, Khúc xạ kế và nhiệt kế 21
Hình 2.4: Vị trí thu mẫu trong ao 22
2.2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1. Kỹ thuật chuẩn bị ao và cấy giống 25
3.1.1. Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi 25
3.1.1.1. Kỹ thuật cải tạo ao 25
Hình 3.1: Cải tạo ao nuôi 27
GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang iv Chuyên ngành
NTTS
Hình 3.2: Kết quả gây màu nước 28
3.1.3. Kỹ thuật thả giống 30
3.2.2. Quản lý một số yếu tố môi trường trong ao nuôi 34
Bảng 3.3: Một số yếu tố môi trường các ao nuôi 37
3.2.3. Theo dõi sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và mật độ quần thể 41
3.2.3.1. Sự tăng trưởng về chiều dài và tốc độ tăng trưởng theo ngày của Artemia 41
Bảng 3.4: Tăng trưởng về chiều dài (mm) của A.franciscana ở các ao 42
Hình 3.3: Tăng trưởng về chiều dài (mm) của A.franciscana ở các ao 42
Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng bình quân/ngày(mm/ngày) của A.franciscana 43
Hình 3.4: Tốc độ tăng trưởng trung bình/ngày (mm/ngày) của Artemia 43
3.2.3.2. Tỉ lệ sống 44

g gam
kg kilogam
GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang vi Chuyên ngành
NTTS
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Đặc điểm sinh học của Artemia 3
1.1.1. Hệ thống phân loại và đặc điểm phân bố 3
1.1.2. Hình thái 3
3
Hình 1.1: Artemia franciscana 4
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia 4
1.1.4. Khả năng thích nghi với điều kiện sống của Artemia 5
1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia 6
Hình1.2: Vòng đời phát triển của Artemia (Jumalon et al., 1982)[18] 7
1.2. Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản 9
1.3. Hoạt động nuôi sinh khối A.franciscana 11
1.4.Tình hình nghiên cứu về A.franciscana tại Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.2. Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18

3.2.3.3. Biến động mật độ quần thể 46
Hình 3.6: Gia tăng mật độ quần thể trong ao nuôi thí nghiệm 46
3.3. Kỹ thuật thu và bảo quản sinh khối A.franciscana 47
3.3.1. Kỹ thuật thu sinh khối 47
Bảng 37: Năng suất sinh khối của các ao thí nghiệm 48
Hình 3.7: Thu sinh khối Artemia 49
3.3.2. Kỹ thuật bảo quản sinh khối 49
Hình 3.8: Sinh khối A.franciscana chuẩn bị đem đi bảo quản 50
3.3.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế 51
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế trên 1ha nuôi thu sinh khối Artemia 51
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 53
4.1. Kết luận 53
4.2. Đề xuất ý kiến 54
GVHD: Th.s.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang vi Chuyên ngành
NTTS
DANH
MỤC
CÁC
HÌNH
ẢNH

Trang
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Đặc điểm sinh học của Artemia 3

3.1.1.1. Kỹ thuật cải tạo ao 25
Hình 3.1: Cải tạo ao nuôi 27
Hình 3.2: Kết quả gây màu nước 28
3.1.3. Kỹ thuật thả giống 30
3.2.2. Quản lý một số yếu tố môi trường trong ao nuôi 34
Bảng 3.3: Một số yếu tố môi trường các ao nuôi 37
3.2.3. Theo dõi sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và mật độ quần thể 41
3.2.3.1. Sự tăng trưởng về chiều dài và tốc độ tăng trưởng theo ngày của Artemia 41
Bảng 3.4: Tăng trưởng về chiều dài (mm) của A.franciscana ở các ao 42
Hình 3.3: Tăng trưởng về chiều dài (mm) của A.franciscana ở các ao 42
Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng bình quân/ngày(mm/ngày) của A.franciscana 43
Hình 3.4: Tốc độ tăng trưởng trung bình/ngày (mm/ngày) của Artemia 43
3.2.3.2. Tỉ lệ sống 44
Bảng 3.6: Tỉ lệ sống (%) của A.franciscana ở các ao thí nghiệm 44
Hình 3.5: Tỉ lế sống (%) của A.franciscana ở các ao thí nghiệm 44
3.2.3.3. Biến động mật độ quần thể 46
Hình 3.6: Gia tăng mật độ quần thể trong ao nuôi thí nghiệm 46
3.3. Kỹ thuật thu và bảo quản sinh khối A.franciscana 47
3.3.1. Kỹ thuật thu sinh khối 47
Bảng 37: Năng suất sinh khối của các ao thí nghiệm 48
Hình 3.7: Thu sinh khối Artemia 49
3.3.2. Kỹ thuật bảo quản sinh khối 49
Hình 3.8: Sinh khối A.franciscana chuẩn bị đem đi bảo quản 50
3.3.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế 51
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế trên 1ha nuôi thu sinh khối Artemia 51
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 53
4.1. Kết luận 53
4.2. Đề xuất ý kiến 54
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 1 Chuyên ngành

NTTS
nghiên cứu và nuôi thử nghiệm đối tượng này ở Khánh Hòa chỉ mới được
thực hiện tại Cam Ranh và Đồng Bò (Nha Trang), hiện chưa có một nghiên
cứu nào về nuôi sinh khối Artemia tại địa phương này. Bên cạnh đó, các công
trình nghiên cứu trước đây tại Khánh Hòa còn nhiều thiếu sót nên chưa có
một mô hình hoàn chỉnh nhất để nuôi đối tượng này trên diện rộng. Xuất phát
từ yêu cầu trên và được sự đồng ý của Khoa NTTS Trường Đại học Nha
Trang tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thử nghiệm nuôi thu sinh khối
Artemia franciscana tại Ninh Ích–Ninh Hòa-Khánh Hòa”.
Mục tiêu đề tài:
Thử nghiệm nuôi và xây dựng quy trình nuôi thu sinh khối Artemia
franciscana trong ao đất tại Ninh Hòa-Khánh Hòa.
Nội dung đề tài:
 Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi và thả giống.
 Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi.
 Kỹ thuật thu hoạch và bảo quản sinh khối Artemia sau thu hoạch.
Ý nghĩa đề tài:
 Đề tài kết hợp với một số đề tài khác sẽ dần hoàn thiện quy trình nuôi
sinh khối Artemia franciscana tại Khánh Hòa.
Trong khoảng thời gian thực hiện đề tài, mặc dù bản thân tôi đã hết sức
cố gắng vượt qua mọi khó khăn nhưng vì một số điều kiện khách quan như
thời tiết hay điều kiện cơ sở vật chất cùng với năng lực và kiến thức có hạn
nên kết quả đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong quý thầy,
cô và các bạn có những ý kiến đóng ghóp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 3 Chuyên ngành
NTTS
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm sinh học của Artemia.

mảnh nhỏ mềm mại đó là mang–cơ quan hô hấp của Artemia. Chân ngực phát
triển và có 3 chức năng: bơi lội, lọc thức ăn và hô hấp. [5].
Phần bụng có 8 đốt, không có chân phụ. Ở con cái đốt 1 và đốt 2 của
phần bụng kết hợp với nhau hình thành nang trứng. Ở con đực hình thành đôi
cơ quan giao cấu. Đốt cuối cùng phần bụng có chẽ đuôi dẹt và bằng, xung
quanh có nhiều tiêm mao, đuôi lớn hay nhỏ, tiêm mao nhiều hay ít thay đổi
theo sự biến đổi của độ mặn. Độ mặn càng cao, đuôi thu nhỏ lại. [5].
Hình 1.1: Artemia franciscana
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia
Reeve (1963) đã nghiên cứu về tính ăn của Artemia với thí nghiệm sử
dụng các loại tảo và mật độ tảo khác nhau để xác định tính ăn lọc của chúng
và kết luận Artemia là loại sinh vật ăn lọc không chọn. [4],[10]
Nghiên cứu về tập tính bắt mồi và loại thức ăn của Artemia, một số tác
giả cho rằng Artemia là loại ăn lọc không chọn lựa, thức ăn của chúng là vi
tảo, mùn bả hữu cơ, vi khuẩn. Tuy nhiên kích thước của thức ăn là yếu tố giới
hạn khả năng lọc thức ăn của Artemia, chúng chỉ lọc được thức ăn có kích
thước nhỏ hơn 50µm (Sorgeloos et al., 1986). [4]
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 5 Chuyên ngành
NTTS
Do vậy, một số nghiên cứu về sử dụng vi tảo làm thức ăn trong nuôi
sinh khối Artemia đã được thực hiện trong những năm sau đó.
Các sinh cảnh tự nhiên có hiện diện của Artemia cho thấy sự có mặt
của chuỗi thức ăn đơn giản và rất ít thành phần giống loài tảo. Artemia thường
hiện diện ở nồng độ muối cao mà ở nồng độ muối này hiếm gặp các loài tôm,
cá dữ và các động vật cạnh tranh thức ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ
ăn tảo. Ở các sinh cảnh này nhiệt độ, thức ăn, nồng độ muối là những yếu tố
chính ảnh hưởng đến mật độ quần thể Artemia hoặc ngay cả đến sự vắng mặt
tạm thời của chúng.[4]
Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường sử dụng

o
C Artemia sinh
trưởng chậm hoặc chết rải rác, khi nhiệt độ lên cao trên 36
o
C Artemia có thể
chết rải rác hoặc chết hàng loạt, sức sinh sản giảm và khả năng phục hồi quần
thể chậm. Khi nuôi Artemia ở phòng thí nghiệm (nhiệt độ ổn định) cũng đã
tìm thấy: ở nhiệt độ 30
o
C số lứa đẻ con (nauplii) cao gấp chín lần so với nuôi
ở nhiệt độ 26
o
C Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2000. Đối với Artemia dòng Vĩnh
Châu-Việt Nam có đặc điểm thích nghi khá cao, đặc biệt với nhiệt độ, chúng
có thể tồn tại được ở nhiệt độ 38-41
o
C, thậm chí 42
o
C [7].
1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia
Theo Sorgeloos (1980) Artemia có vòng đời ngắn (ở điều kiện tối ưu
Artemia có thể phát triển thành con trưởng thành và tham gia sinh sản sau 7-8
ngày nuôi). Trong quần thể Artemia luôn có hai hình thức sinh sản là đẻ con
và đẻ trứng; sức sinh sản cao (trung bình 1500-2500 phôi). [19], [10]
 Sự đẻ con (Ovoviviparity): trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng
bơi lội tự do và được con cái phóng thích ra ngoài môi trường nước.
 Sự đẻ trứng (Oviparity): các phôi chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị
(gastrula) và sẽ được bao bọc bằng một lớp vỏ dày (được tiết ra từ
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 7 Chuyên ngành

ăn cỡ nhỏ (tế bào tảo, vi khuẩn) có kích thước từ 1 đến 50 μm nhờ vào đôi
anten II, và lúc này bộ máy tiêu hóa đã hoạt động.[9]
Ấu trùng phát triển và biệt hóa qua 15 lần lột xác. Các đôi phụ bộ xuất
hiện ở vùng ngực và biến thành chân ngực. Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt.
Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chức năng quan trọng bắt
đầu: anten mất chức năng vận chuyển và trải qua sự biệt hóa về giới tính. Ở
con đực chúng phát triển thành càng bám, trong khi anten của con cái bị thoái
hóa thành phần phụ cảm giác. Các chân ngực được biệt hóa thành ba bộ phận
chức năng. Các đốt chân chính và các nhánh chân trong (vận chuyển và lọc
thức ăn) và nhánh chân ngoài dạng màng (mang).
Artemia trưởng thành dài khoảng 10 mm (tùy dòng), cơ thể thon dài với
hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, anten cảm giác và 11 đôi chân ngực. Con đực
có đôi gai giao cấu ở phần sau của vùng ngực. Đối với con cái rất dễ nhận
dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11.
Tuổi thọ trung bình của cá thể Artemia trong các ao nuôi ở ruộng muối
khoảng 40-60 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường [3]. Tuy nhiên, quần thể
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 9 Chuyên ngành
NTTS
Artemia trong ruộng muối vẫn tiếp tục duy trì ngay cả trong mùa mưa khi độ
mặn trong ao nuôi giảm thấp (60ppt) nếu ruộng nuôi không bị địch hại (tôm,
cá, copepoda ) tấn công và vẫn được cung cấp đầy đủ thức ăn [15]. Vì thế
nên có thể kéo dài vụ nuôi nếu dự trữ đủ nguồn nước mặn trong hệ thống ao
chứa hoặc khi độ mặn giảm thấp đến 60ppt thì phải quản lý tốt hệ thống ao
nuôi kiểm soát và khống chế sự phát triển của các địch hại của Artemia. [10]
1.2. Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản
Artemia được biết đến vào những năm đầu thập niên 30 khi người ta
phát hiện ra chúng là loài thức ăn sống có giá trị dinh dưỡng cao cho việc
ương giống các loại thuỷ sản như tôm cá, động vật thân mềm. Seale (1930) và
Rollefeson (1939) đã khám phá ra ấu trùng Nauplius của Artemia là một loại

sử dụng tiện lợi mà còn có giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein chiếm
62% và 27% lipid (tính theo trọng lượng khô)…[5].
Các đặc điểm trên kết hợp với kỹ thuật làm giàu hoá sinh học nhằm
tăng chất lượng của sinh khối Artemia, làm thức ăn tươi sống tối ưu cho ương
nuôi tôm, cá và có thể thay thế trứng nước và trùn chỉ (nguồn thức ăn có
nhiều mầm bệnh) trong nghề nuôi cá cảnh nhiệt đới.[5]
Sinh khối Artemia còn được dùng để làm thành phần hoặc chất kích
thích trong thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm, cá. Tuy nhiên khá phổ biến là
dùng sinh khối đông lạnh Artemia để thay thế cho ấu trùng Artemia mới nở
trong sản xuất giống tôm he (Marsupenaneus japonicus). Các nhà nghiên cứu
cũng nêu lên rằng để sản xuất 1 triệu con tôm he giống chỉ cần 1,8kg bột sinh
khối Artemia. [5]
Trong nuôi Artemia thu sinh khối thì Artemia trưởng thành được quan
tâm nhiều hơn do kích thước lớn hơn 20 lần và khối lượng nặng hơn 500 lần
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 11 Chuyên ngành
NTTS
so với ấu trùng Artemia mới nở. Đồng thời thành phần dinh dưỡng của
Artemia trưởng thành chứa đầy đủ các acid amine cần thiết như: Histidine,
Methionine, Phenylalanine và Threonine mà ở ấu trùng nauplius không có
đầy đủ.[5]
Hiện nay việc sử dụng sinh khối Artemia vẫn chưa được chấp nhận ở
mức độ công nghiệp do hạn chế về tính thời vụ và số lượng sinh khối tươi
cũng như sinh khối đông lạnh, chi phí sản xuất cao, chất lượng biến động. Ở
Việt Nam, mức độ sử dụng sinh khối vẫn chỉ ở mức độ thí nghiệm và thử
nghiệm là thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh, tôm cua biển và cá cảnh ở
dưới dạng tươi sống, đông lạnh và thức ăn chế biến. [1]
1.3. Hoạt động nuôi sinh khối A.franciscana.
Artemia được sử dụng làm thức ăn để ương nuôi ấu trùng các động vật
thủy sản trên thế giới bắt đầu từ những năm 1930. Trong những năm 1940 hầu

3
, trong
55 ngày nuôi chỉ thu được năng suất cao nhất là 467.33g/ao.
Ở Trung Quốc, hàng ngàn tấn sinh khối Artemia đã đã được thu từ các
ruộng muối ở vịnh Bohai, được sử dụng trong các trại giống địa phương và
các trại nuôi thương phẩm tôm thẻ Trung Quốc dưới dạng bánh đông lạnh và
được làm giàu các loại acid béo không no bật cao. [5]
Tuy nhiên, việc nghiên cứu và phát triển nghề nuôi Artemia trên thế
giới cho đến nay chủ yếu nhằm để gia tăng hiệu quả cho việc thu hoạch trứng
bào xác (Cyst) Artemia. Trong khi đó, những nghiên cứu về sinh khối
Artemia chưa được quan tâm đúng mức và sinh khối Artemia chưa được sử
dụng rộng rãi trên thị trường thế giới.
1.4.Tình hình nghiên cứu về A.franciscana tại Việt Nam
Artemia không phân bố tự nhiên ở Việt Nam, nhưng do giá trị dinh
dưỡng cao và là loại thức ăn không thế thiếu được trong sản xuất thủy sản nên
được nhiều đơn vị nghiên cứu trong nước quan tâm đến. Năm 1982, Artemia
được du nhập vào Việt Nam thông qua bước đầu nuôi ở Nha Trang từ dòng
San Francisco Bay, Mỹ. [8]
Năm 1984, trường Đại học Cần Thơ tiến hành thí nghiệm nuôi Artemia
thu trứng bào xác ở vùng ven biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu. Đến
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 13 Chuyên ngành
NTTS
năm 1990, đối tượng này được triển khai sản xuất đại trà cho các hộ diêm dân
và trở thành hai vùng trọng điểm cung cấp trứng bào xác Artemia có chất
lượng cao cho thị trường trong và ngoài nước. [3]
Bắt đầu từ năm 1990 trở đi đã có một số thí nghiệm nuôi sinh khối
Artemia được thực hiện như sau:
Nguyễn Thị Thảo, 1990 và Ngô Thị Thu Thảo, 1992 đã nghiên cứu ảnh
hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến năng suất sinh khối Artemia, kết

tài: Đánh giá tiềm năng thu sinh khối Artemia trên ruộng muối Vĩnh
Châu. Các thí nghiệm được thực hiện tại hợp tác xã muối Vĩnh Phước, Huyện
Vĩnh Châu, Tỉnh Sóc Trăng trong hai mùa khô 1994 và 1995. Nguồn giống
làm thí nghiệm này là trứng A.franciscana thu ở Vĩnh Châu từ vụ nuôi trước.
Kết quả cho thấy có thể nuôi sinh khối theo hướng một chu kỳ, kết hợp thu
trứng bào xác năng suất cao. Năng suất trung bình khi nuôi ao nhỏ (200m
2
/ao)
6521±1559 kg/ha/vụ và ở các ao lớn 2000 m
2
/ao 1716 ±229kg/ha/vụ. [1]
Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv., (1997) ; Nghiên cứu ảnh hưởng của
mức nước trong ao nuôi khác nhau đến năng suất sinh khối: ao sâu được duy
trì mức nước trung bình 60cm đạt 8 tấn/ha/vụ, trong khi đó ao nông với mức
nước 30 cm chỉ đạt 5 tấn/ha/vụ[1].
Nguyễn Thị Ngọc Anh ctv., 1997; Nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ
nuôi đến năng suất sinh khối (nuôi một chu kỳ là chỉ thả giống một lần và
nuôi liên tục cho đến khi kết thúc vụ nuôi và nhiều chu kỳ là thả giống mới
sau mỗi đợt nuôi. Mỗi chu kỳ nuôi khoảng 6 tuần, và mội vụ nuôi khoảng 3
chu kỳ) năng suất sinh khối thu được ở nghiệm thức nuôi 1 chu kỳ và nhiều
chu kỳ là 2,3 và 3,8 tấn/ha/vụ, theo thứ tự. [1]
Ngô Thị Thu Thảo và Vũ Đỗ Quỳnh (1997) đã nghiên cứu ảnh hưởng
của việc giảm các mức thức ăn khác nhau đến tuổi thọ và sức sinh sản của
A.franciscana. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc giảm mức thức ăn có ảnh
hưởng đến khả năng sinh sản nhưng không ảnh hưởng đến tuổi thọ của con
cái ở A.franciscana. Quá trình theo dõi các thông số sinh sản cho thấy: tổng
số phôi/con cái, số phôi/lứa đẻ, số phôi/ngày đẻ, số lứa đẻ giảm cùng với việc
giảm mức thức ăn.[12]
GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 15 Chuyên ngành

GVHD: ThS.Nguyễn Tấn Sỹ SVTH: Phan Thành Đông
Đồ án tốt nghiệp Đại học Trang 16 Chuyên ngành
NTTS
sinh sản của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros và tảo tạp thì thấy Artemia
tham gia sinh sản lâu hơn (> 28 ngày) cũng như tổng số phôi cao hơn (661 ±
406 phôi/con mẹ) so với Artemia nuôi bằng tảo tạp (284 ± 99 phôi/con cái).
Ngoài ra, hàm lượng HUFA (Highly Unsaturated Fatty Acids) của sinh khối
khi sử dụng tảo Chaetoceros là khá cao: 26,63 mg/g trọng lượng khô Artemia,
đặc biệt là hàm lượng EPA chiếm 22,2 g/kg trọng lượng khô trong tổng hàm
lượng HUFA so với sinh khối nuôi bằng tảo tạp. [4]
Bên cạnh đó nhân giống tảo Chaetoceros sp. có thể thực hiện được ở hệ
thống ngoài trời và ở thể tích 15 m
3
trong hệ thống ao nổi được lót nilon; sau 7
ngày mật độ tảo có thể đạt 2,2 –2,5 triệu tb/mL. Tuy nhiên những khó khăn
gặp phải là điều kiện nhiệt độ biến động lớn và hiện tượng nhiễm tạp (Ciliate,
Navicula, Tetraselmis). Ngoài ra, khi nâng thể tích nuôi tảo lên thì vấn đề sục
khí cũng cần được quan tâm vì liên quan đến sự xáo trộn các chất dinh dưỡng
cũng như hạn chế hiện tượng lắng kết trong quá trình nuôi.[4]
Huỳnh Văn Tới và ctv., (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tảo
Chaetoceros sp. lên chất lượng sinh khối Artemia. Kết quả nghiên cứu cho
thấy có sự vượt trội về tỉ lệ sống và các chỉ tiêu sinh sản của nghiệm thức nuôi
bằng tảo thuần Chaetoceros sp. so với nghiệm thức nuôi bằng tảo tự nhiên.
Hàm lượng acid béo, đặc biệt là lượng HUFA ở nghiệm thức trên cao hơn
nghiệm thức nuôi bằng tảo tạp gấp 3,7 lần. [4]
Tuy nhiên thí nghiệm này chỉ mới thí nghiệm trong bể nuôi cá cảnh ở
thể tích nhỏ. Khi nuôi sinh khối Artemia ở thể tích lớn thì ảnh hưởng của mỗi
loại tảo lên chất lượng sinh khối Artemia phụ thuộc vào ưu thế của loại tảo
mong muốn, thành phần loại tảo tạp trong ao,…
Nguyễn Tấn Sỹ và ctv., (2009) thử nghiệm nuôi sinh khối và thu trứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status