he thong cau hoi trc ngiem chuong dinh luat bao toan lop 10 thpt - Pdf 17

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ NGUYỄN TIẾN DŨNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
KIẾN THỨC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” CỦA HỌC
SINH LỚP 10 THPT (CƠ BẢN)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành
Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý

Người hướng dẫn khoa học
G V: NGUYỄN ANH DŨNG
HÀ NỘI -2009
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm
Khoa Vật lý trường Đại hoc Sư phạm Hà nội 2; các thầy, cô giáo trong khoa
đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp.

Đặc biệt em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GV Nguyễn Anh
Dũng người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá
trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội,tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Tiến Dũng

môn Vật lý ở trường THPT chúng tôi lựa chọn đề tài theo hướng: Xây dựng
hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với mong muốn góp
phần nghiên cứu nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học Vật lý ở trường phổ
thông.
Trong khuôn khổ giới hạn của một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi
chỉ dừng lại ở việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá trình độ nắm vững một số kiến
4
thức thuộc chương “Các định luật bảo toàn” của học sinh lớp 10 THPT
(cơ bản)”.
2.Mục đích của đề tài
Nghiên cứu xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn (TNKQNLC) của chương “Các định luật bảo toàn” ở lớp 10
THPT góp phần cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức
của học sinh.
3. Đối tượng nghên cứu
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chương “Các định luật bảo toàn” ở
lớp 10 THPT (cơ bản) thông qua hệ thống câu hỏi TNKQNLC.
4.Giả thuyết khoa học
Nếu có một hệ thống câu hỏi được soạn thảo một cách khoa học theo
phương pháp TNKQNLC phù hợp với mục tiêu dạy học nội dung chương
“Các định luật bảo toàn” thì có thể đánh giá chính xác, khách quan chất lượng
kiến thức của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Vật lý.

5.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, đánh giá
-Nghiên cứu lý luận và kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQNLC
-Nghiên cứu nội dung chương trình Vật lý 10 THPT nói chung và
chương “Các định luật bảo toàn” nói riêng; trên cơ sở đó xác định được mức
độ của mục tiêu nhận thức với từng đơn vị kiến thức mà học sinh cần đạt

trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và
nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm
của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh cho họ học tập ngày càng
tiến bộ hơn.
7
1.1.2 Các thành tố đánh giá:
Bốn thành tố cơ bản chính yếu của đánh giá: Mục đích-xác định-giải thích-sử
dụng

-Mục đích
-nhằm nâng cao hiệu quả dạy học giáo viên cần liên tục đánh giá học sinh của
mình so với mục tiêu học tập và điều chỉnh giảng dạy của mình dụa trên cơ sở
của các thông tin thu được.
-Không những cho học sinh biết họ đã nắm được, làm được những gì mà còn
tác động thúc đẩy học tập (động viên, khích lệ học sinh).
-Cung cấp thông tin phản hồi dễ sử dụng cho học sinh.
-Theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập. Truyền đạt cho học
sinh những kì vọng, mong muốn của giáo viên và điều gì là quan trọng nhất…
*Xác định thông tin
Xác định thông tin là một quy trình giúp phân biệt những phẩm chất ,
đặc tính, hoặc hành vi:
-Có thể sử dụng nhiều thủ thuật để xác định một đặc tính đã phân định
hoặc một mục đích học tập: Bài kiểm tra, xếp loại, quan sát, phỏng vấn( tìm
hiểu).
8
Mục đích
Tại sao ta
thực hiện
đánh giá
này ?

-Giải thích những thu nhập được trong bước xác định thông tin.
-Phán quyết về kết quả học tập của học sinh.
-Yếu tố quyết định để đánh giá một hoạt động chính là bản chất những
tiêu chuẩn hành động mà ta sử dụng. Tiêu chuẩn hành động được áp dụng để
xác định một hành động là “tốt” hay “xấu”.
-tiêu chí đóng vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá. Tiêu chí là
những hành động hoặc khía cạnh cụ thể được chứng minh sẽ đạt tới chuẩn
mực. Đó là tiêu chí chấm điểm,hướng dẫn chấm,giải thích, chỉ dẫn.
*Sử dụng
kết quả kiểm tra và những thông tin khác gắn chặt vơi những quyết định của
giáo viên về điều chỉnh dạy học, quyết định về đánh giá, đáp ứng nhu cầu của
học sinh và phụ huynh.
1.1.3.Mục đích của kiểm tra đánh giá
-Trong dạy học kiểm tra đánh giá gồm ba mục đích chính:
+ Kiểm tra kiến thức kỹ năng để đánh giá mức độ xuất phát của người học
có liên quan đến việc xác định nội dung phương pháp dạy học môt môn học,
một học phần sắp bắt đầu.
+ Kiểm tra, đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản thân kiểm tra, đánh giá
nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy.
9
+ kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặc nhằm
nghiên cứu đánh giá mục tiêu phương pháp dạy học.
- Mục đích đánh giá trong đề tài này:
+ Xác nhận kết quả nhận biết, hiểu, vận dụng theo mục tiêu đề ra.
+ Xác định xem khi kết thúc một học phần của dạy học, mục tiêu của dạy
học đã đạt được đến mưc độ nào so với mục tiêu mong muốn.
+ Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học sinh giúp giáo
viên giảng dạy tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật Lý.
Một số khái niệm liên quan
Liên quan đến khái niệm đánh giá phải kể đến một số thuật ngữ thường

-Phản ánh trung thực kết quả học tập của học sinh so với yêu cầu quy
định.
-Tổ chức thi và chấm thi phải nghiêm minh.
-Lựa chọn hình thức thi cho phù hợp.
1.1.6.3. Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống:
-Cần kiểm tra, đánh giá học sinh thường xuyên trong mỗi tiết học sau
mỗi phần kiến thức.
-Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống.
1.1.6.4. Đảm bảo tính phát triển
-Hệ thống câu hỏi theo mục tiêu đề ra (Nhận biết, hiểu, vận dụng).
-Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong
học tập của học sinh.
-Đảm bảo tính công khai trong đánh giá.
11
1.1.7. Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá
-Xác định rõ mục đích cần kiểm tra đánh giá.
-Xác định rõ nội dung cụ thể của kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra, đánh
giá, các tiêu chí cụ thể với từng mục tiêu dạy học với từng kiến thức, kỹ năng
đó, để làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu.
-Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin (chấm), xem xét kết quả và kết
quả đánh giá.
-Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin(hình thức kiểm tra) phù hợp
với đặc điểm nội dung kiến thức,kỹ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục đích
cần kiểm tra.
-Xây dựng các câu hỏi, các đề bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm cho
phép thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định.
1.1.8. Các hình thức kiểm tra cơ bản.
-Theo GS. Đỗ Trần Cát: Các hình thức cơ bản được thể hiện theo sơ đồ
sau:
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM

mà nó bao gồm các hình thức khảo sát thông thường trong lối thi cử: chẳng
hạn như những câu hỏi lí thuyết, những bài toán, các chuyên gia đo lường gọi
chung các hình thức kiểm tra này là “Trắc nghiệm luận đề” cho thuận tiện để
phân biệt với các loại trắc nghiệm gọi là “Trắc nghiệm khách quan”. Thật ra,
việc dùng danh từ “khách quan” này để phân biệt với hai loại kiểm tra đánh
giá nói trên cũng không đúng hẳn vì trắc nghiệm luận đề không nhất thiết là
trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm khách quan không phải hoàn toàn
“khách quan”.
Giữa luận đề và trắc nghiệm khách quan có một số khác biệt và tương
đồng, song quan trọng cả hai đều là những phương tiện khảo sát thành quả
học tập hữu hiệu và đều cần thiết, miễn là ta nắm vững phương pháp soanj
thảo và công dụng của mỗi loại.
Với hình thức luận đề, việc kiểm tra thường bộc lộ nhiều nhược điểm
là không p-hản ánh được toàn bôn nội dung chương trình, gây tâm lý học tủ
và khi chấm bài giáo viên còn nặng tính chủ quan. Vi thế, để nâng cao tính
khách quan trong kiểm tra đánh giá nhiều tác giả cho rằng nên sử dụng trắc
13
nghiệm khách quan thì góp phần vào khắc phục những hạn chế của hình thức
kiểm tra, tự luận.
Mục tiêu dạy học
1.2.1. Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học
-Cung cấp bằng chứng và tiêu chí để đánh giá
-Có được phương hướng, tiêu chí để quyết định nội dung, phương
pháp, phương tiện dạy học.
-Có được ý tưởng rõ ràng về cái cần được kiểm tra đánh giá khi kết
thúc mỗi môn học, học phần hay quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể
-Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự
học là gì? Điều này giúp họ tổ chức công việc của mình.
-Có được ý tưởng rõ về các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có của
giáo viên.

Khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào một tình huống nào đó:
Áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, định luật, công thức…để giải
quyết một vấn đề trong học tập, trong thực tiễn…
Mức độ ứng dụng đôi khi cần phân biệt:
-Mức độ ứng dụng 1: Giải được bài tập chỉ dựa vào một định
luật,một nguyên lí, một công thức…
-Mức độ ứng dụng 2: Giải được bài tập chỉ dựa vào hai định luật, hai
nguyên lí, hai công thức…
Phương pháp và kỹ thuật TNKQNLC
15
1.3.1. Các hình thức trắc nghiệm khách quan
1.3.1.1. Trắc nghiệm đúng-sai
Loại này được trình bày dưới dạng một phát biểu và học sinh trả lời
bằng cách chọn đúng (Đ) hay sai (S).
-Ưu điểm: Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về những sự
kiện. Nó giúp cho việc trăc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn cho khoảng thời
gian ngắn.
-Nhược điểm: Có thể khuyến khích sự đoán mò, khó dùngđể thẩm định
học sinh yếu, có độ tin cậy thấp.
1.3.1.2. Trắc nghiệm cặp đôi(xứng hợp)
Trong loại này có hai cột danh sách, những chữ, nhóm chữ hai câu.
Học sinh sẽ ghép một chữ, một nhóm chữ hay câu của một cột với một phần
tử tương ứng của cột thứ hai. Số phâng tử trong hai cột có thể bằng nhau hay
khác nhau. Mỗi phần tử trong cột trả lời có thể được dung một lần hay nhiều
lần để ghép các phần tử trong cột câu hỏi.
-Ưu điểm: Các câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, ít tốn giấy hơn khi
in.
-Nhược điểm: Muốn soạn câu hỏi đo các kiến thức cao đòi hỏi nhièu
công phu.
1.3.1.3 Trắc nghiệm điền khuyết

+Học sinh phải xét đoán và phân biệt kỹ càng khi trả lời câu hỏi
+Tính chất giá trị tốt hơn.
+Tính khách quan khi chấm.
17
+Có thể sử dụng cho mọi loại kiểm tra đánh giá.
-Khuyết điểm:
+Khó soạn câu hỏi.
+Học sinh nào có sáng tạo có thể tìm ra câu trả lời hay hơn phương án
đã đưa ra nên họ có thể sẽ không thoả mãn.
+Chiếm nhiều trang giấy kiểm tra.
+Dễ nhắc nhau khi làm bài.
+Có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải
quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi tự luận soạn
kỹ.
1.3.2. Tiến trình soạn thoả một bài TNKQNLC
Để soạn thảo một bài TNKQNLC đảm bảo chất lượng cần trải qua 4 giai
đoạn sau:
1.3.2.1.Mục đích của bài trắc nghiệm.
Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, nhưng bài trắc
nghiệm ích lợi và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để phục vụ cho một
mục đích chuyên biệt nào đó.
Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối kì nhằm xếp hạng cho học sinh
thì các câu soạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới phát
hiện ra được học sinh giỏi và học sinh kém.
Nếu bài trắc nghiệm là bài kiểm tra, nhằm kiểm tra những hiểu biết tối thiểu
về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao cho hầu hết học sinh
đều đạt điểm tối đa.
Nếu bài trắc nghiệm nhằm mục đích chuẩn đoán, tìm ra những chỗ
mạnh, chỗ yếu của học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy
học phù hợp, thì các câu trác nghiệm được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho

Nhận biết
(số câu)
Hiểu
(số câu)
Vận dụng
(số câu)
Tổng cộng
Khái niệm từ trường
Véctơ cảm ứng từ
Lực từ
Tổng cộng
1.3.2.4. Số câu hỏi trong bài
-Phải tiêu biểu cho toàn bộ kiến thức mà ta đòi hỏi ở học sinh phải có.
Phụ thuộc vào thời gian dành chop bài trắc nghiệm, nhiều bài trcs nghiệm
được giới hạn trong khoảng thời gian một tiết học hoặc kém hơn. Ta có thể
giả định rằng ngay cả những học sinh làm chậm cũng có thể trả lời được một
câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn trong vòng một phút.
1.3.3 Một số nguyên tắc soạn thảo TNKQNLC
-Câu hỏi thuộc dạng này gồm hai phần: Phần gốc và Phần lựa chọn.
+Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng. Phần lựa chọn gômg
một số câu( thường là 4 hoặc 5) câu trả lời hay câu bổ sung để lựa chọn.
Viết các câu trắc nghiệm sao cho phân biệt được học sinh giỏi và học sinh
kém.
+Đối với phần gốc: Dù là một câu hỏi hay câu bổ sung đều phải tạo cơ
sở cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa những ý tưởng giúp
cho sự lựa chọn dễ dàng .
Cũng có khi phần gốc là một câu phủ định, trong trường hợp ấy phải in
đậm hoắc gạch dưới chữ diễn tả sự phủ định để học sinh khỏi nhầm.
20
-Phần gốc và phần lựa chọn khi kết hợp phải mang ý nghĩa chọn vẹn, tuy

hoặc theo cột cho dễ đọc.
+Để tránh sự gian lận của học sinh ta có thể in thành những bộ bài trắc
nghiệm với những câu hỏi giống nhau nhưng thứ tự các câu hỏi bị đảo lộn.
1.4.2. Chuẩn bị học sinh:
Báo trước cho học sinh ngày giờ thi, cách thức, nội dung thi. Huấn
luyện cho học sinh về cách thi trắc nghiệm, nhất là trong trường hợp họ dự thi
lần đầu.
Phải nhắc nhở học sinh trước khi làm bài:
Học sinh phải lắng nghe và đọc kĩ càng những lời chỉ dẫn cách làm bài
trắc nghiệm.
Học sinh phải biết được về cách tính điểm.
Học sinh phải được nhắc nhở rõ dàng họ phải đánh dấu các câu lựa chọn
một cách rõ dàng, sạch sẽ. Nếu có tẩy xóa thì cũng phải tẩy xoá thật sạch sẽ.
Học sinh cần được khuyến khích trả lời các câu hỏi dù không hoàn toàn
chắc chắn.
Học sinh cần bình tĩnh khi làm bài trắc nghiệm không nên lo ngại quá.
1.4.3. Công việc của giám thi.
- Đảm bảo nghiêm túc thời gian làm bài.
- Xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho tránh được nạn coi cóp.
- Phát đề thi xen kẽ hợp lý.
- Cấm học sinh đem tài liệu vào phòng thi.
1.4.4. Chấm bài
Cách chấm thông dụng của thầy giáo ở lớp học là dùng bảng đục lỗ.
Bảng này có thể dùng một miếng bìa đục lỗ ở những câu trả lời đúng. Đặt
22
bảng đục lỗ lên bảng trả lời, những dấu ghạch ở những câu trả lời đúng hiện
qua lỗ.
Dung máy tính chấm bài.
1.4.5.Các loại điểm của bài trắc nghiệm:
-Có hai loại điểm:

Ví dụ: sinh viên có điểm thô là 49; điểm trung bình của nhóm học sinh
làm bài trắc nghiệm là 31,56; độ lệch tiêu chuẩn là 8,64. Ta có :
Điểm chuẩn Z:
Z=
(49 31,56
2,027
8,64

=
Điểm chuẩn T:
T=10.Z + 50 = 10.2,027 + 50 = 70,027
Điểm V ( theo thang điểm 11 bậc)
V = 2.Z + 5 = 2.2,027 + 5 =9,054
-Cách tính trung bình thực tế và trung bình lí thuyết:
+Trung bình( thực tế): tổng điểm thô toàn bài trắc nghiệm của tất cả mọi
người làm bài trong nhóm chia cho tổng số người. điểm này tuỳ thuộc vào bài
làm của từng nhóm.

i
N
i
x
x
N
=

+Trung bình lí thuyết: là trung bình cộng của điểm tối đa có thể có với
điểm may rủi có thể làm đúng ( số câu chia số lựa chọn). Điểm này không
thay đổi với một bài trắc nghiệm cố định.
Ví dụ: Một bài có 50 câu hỏi, mỗi câu 4 lựa chọn, ta có:

sau:
+Sắp các bài làm theo tổng số điểm từ cao xuống thấp.
Chia tập bài ra 3 chồng:
Chồng 1: 25% hoặc 27% những bài điểm cao.
Chồng 2: 50% hoặc 46% bài trung bình.
Chồng 3: 25% hoặc 27% bài điểm thấp.
+Lập bảng có dạng như sau:
Câu
hỏi số
Câu trả lời
để chọn
số người Tổng số
người
Số giỏi
trừ số
Nhóm Nhóm Nhóm
25

Trích đoạn KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: Công và công suất Xây dựng hệ thống câu hỏi theo phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Các đinh luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT Gia tốc rơi bằng nhau. Không thể so sánh được D Wt( )M<Wt( )N
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status