Đường lối và kết quả thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam 1954-1975 - Pdf 17



Đoàn Thành Nhân

Đặng Thị Nhị

Võ Văn Nhị

Trần Vĩnh Phát

Trần Thị Mỹ Phượng

Thích Thái Quốc

Trang Anh Quốc

Huỳnh Phú Sang

Ng Hoàng Thanh Sang

Chau Kim Sanh

Ô Hoàng Sơn

Trương Kim Sơn

Huỳnh Việt Tân

Nguyễn Duy Thanh

Trần Việt Thanh


Bùi Duy Như Xuyến

Lâm Thị Bảo Trân (33D)

Chủ đề 2

Đường lối và kết quả thực hiện 2 nhiệm
vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam
1954-1975

Trình bày đối sách của Đảng ta nhằm
chống thù trong, giặc ngoài giai đoạn
1945-1946

Đường lối và kết quả thực hiện 2
nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng
Việt Nam 1954-1975:

Đặc điểm tình hình nước ta sau 1954:
* Miền Nam: Mỹ hấc cẳng Pháp nhằm biến miền Nam
thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập
phòng tuyến ngăn chặn CNXH lan xuống các nước Đông
Nam Á, lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc,
bao vây và uy hiếp các nước XHCN khác.
Miền Bắc: được hoàn toàn giải phóng, cuộc CM dân
tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành và bước vào
thời kỳ qáu độ lên CNXH.

Chia thành 2 giai đoạn:

phần tăng cường phe XHCN và bào vệ hòa bình
ở Đông Nam Á và thế giới.


Nhiệm vụ chiến lược: “CMVN trong giai
đoạn hiện tại có 2 nhiệm vụ chiến lược:
một là, tiến hành CMXHCN ở miền Bắc.
Hai là giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai,
thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn
thành độc lập và dân chủ trong cả nước”.


Mục tiêu chiến lược: “Nhiệm vụ cách
mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách
mạng ở miền Nam thuộc 2 chiến lược
khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải
quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong
hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt.


Mối quan hệ giữa CM 2 miền: do cùng
thực hiện 1 mục tiêu chung nên “Hai
nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ
mật thiết với nhau và có tác dụng thúc
đẩy lẫn nhau”.


Vai trò, nhiệm vụ của CM mỗi miền đối với
CM cả nước: CMXHCN ở miền Bắc có nhiệm

hợp với tình hình quốc tế nên đã huy động và kết
hợp được sức mạnh của hậu phương và tiền
tuyến, sức mạnh cả nước và sức mạnh của CM
trên thế giới, tranh thủ được sự giúp đỡ của cả
LX và Trung Quốc, do đó đã tạo ra được sức
mạnh để dân tộc ta đánh thắng Đế quốc Mỹ xâm
lược, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Giai đoạn 1965-1975:

Khi Mỹ thực hiện “chiến tranh đặc biệt” ở
miền Nam, các hội nghị của bộ chính trị đầu
năm 1961 và 1962 đã chủ trương giữ vững và
phát triển thế tiến công mà ta đã giành được
sau cuộc “đồng khởi” năm 1960, đưa CMMN
từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến
tranh CM trên quy mô toàn miền.


Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ chín
(11/1963), ngoài việc xác định đúng đắn
quan điển quốc tế, hướng hoạt động đối
ngoại và việc kết hợp sức mạnh dân tộc và
sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ,
còn quyết định nhiều vấn đền quan trọng về
cách mạng miền Nam. Đối với miền Bắc, hội
nghị tiếp tục xác định trách nhiệm và căn cứ
địa, hậu phương đối với miền Nam, đồng
thời nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó
với âm mưu phá của địch.

triệt để thực hiện 3 mũi giáp công”, đánh
địch trên cả 3 vùng chiến lược.

Tư tưởng chỉ đạo đối với Miền Bắc:

Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp
tục xây dựng Miền Bắc vững mạnh về kinh tế
và quốc phòng trong điều kiện có chiến tranh,
động viên sức người, sức của ở mức cao nhất để
chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng Miền
Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị đề phòng để
đánh bại địch trong trường hợp chúng liều lĩnh
mở rộng “Chiến tranh cục bộ” ra cả nước.

Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc
chiến tranh ở hai Miền:

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu
nước Miền Nam là tiền tuyến lớn,
Miền Bắc là hậu phương lớn. Bảo vệ
Miền Bắc là nhiệm vụ của cả nước vì
xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững
chắc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.


Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ ở Miền Bắc và ra sức tăng cường lực
lượng về mọi mặt nhằm đảm bảo chi viện đắc
lực cho Miền Nam càng đánh càng mạnh. Hai
nhiệm vụ trên không tách rời nhau mà mật thiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status