Định hướng và giải pháp công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán của kiểm toán nhà nước - Pdf 13


KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
_______________________________________________ BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CÔNG KHAI
KẾT QUẢ KIỂM TOÁN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
KIẾN NGHỊ KIỂM TOÁN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: HÀ NGỌC SON
7572
25/11/2009 Hà Nội, năm 2008 2
Bảng kê từ viết tắt

MỤC LỤC CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CÔNG KHAI KẾT QUẢ
KIỂM TOÁN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KIẾN NGHỊ KIỂM TOÁN CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

1.1. Công khai kết quả kiểm toán đòi hỏi tất yếu khách quan
trong điều kiện công khai hoá, minh bạch hoá tài chính ngân
sách trong tiến trình đổi mới, hội nhập.
8
1.1.1. Công khai hoá tài chính ngân sách và vai trò của nó trong
tiến trình đổi mới và hội nhập
8
1.1.2. Công khai hoá và minh bạch hoá là xu thế gắn liền với quá
trình dân chủ hoá và cải cách hành chính ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
13
1.1.3. Vấn đề công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện
kiến ngh
ị của KTNN
1.2. Minh bạch hoá tài chính ở Việt Nam với quá trình hoàn
thiện tổ chức, hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
1.2.1. Những vấn đề cơ bản của minh bạch tài chính ở Việt Nam
thời kỳ hiện tại
1.2.2. Vai trò của Kiểm toán Nhà nước
1.2.3 Tác dụng và hiệu lực của việc công khai kết quả kiểm toán,
kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán c
ủa KTNN

kiến nghị thực hiện kiểm toán, cơ sở của việc thực hiện công
khai hoá kết quả kiểm toán, những vấn đề đặt ra.
42
2.3.1. Thực trạng chất lượng các cuộc kiểm toán, chất lượng các
kiến nghị thực hiện kiểm toán
42
2.3.2 Nguyên nhân của thực trạng trên là do: 44
2.3.3 Cơ sở của việc công khai hoá kết quả kiểm toán và những
vấn đề đặt ra.
46
2.4. M
ột số bài học kinh nghiệm và cơ chế để tiến hành công khai
kết quả kiểm toán và thực hiện các kiến nghị kiểm toán ở
một số nước
47
2.4.1 Hiến pháp các nước đã qui định rõ về vai trò vị trí của cơ
quan Kiểm toán Nhà nước cũng như việc công khai kết
quả kiểm toán cho dân biết.
48
2.4.2. Cách thức tiến hành công khai kết quả kiểm toán của
KTNN ở một số n
ước
49

2.4.3 Những bài học rút ra để Việt Nam thực hiện.

51 CHƯƠNG III

3.4.2- Nâng cao chất lượng kiểm toán, đảm bảo đưa ra các kết
luận, kinh nghiệm chuẩn xác là cơ sở quyết định, hiệu lực
kiểm toán và công khai kết quả kiểm toán
59
3.4.3- Nâng cao bản lãnh và đạo đức nghề nghiệp, năng lực
chuyên môn của đội ngũ kiểm toán viên (công chức kiểm
toán)
60
3.4.4- T
ăng cường soát xét chất lượng kiểm toán 61
3.4.5- Xây dựng qui chế, qui trình công khai kết quả kiểm toán 63
3.5- Điều kiện để thực thi các giải pháp

5
Kết luận:
Danh mục tài liệu tham khảo 65

66

67

6
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP NGÀNH
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

toán của Kiểm toán nhằm thực hiện quá trình dân chủ hoá trong quá
trình cải cách hành chính nhà nước ở nước ta.

7
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu về nhận
thức, định hướng và những giải pháp công khai hoá, minh bạch hoá
tình hình tài chính ngân sách đã được Kiểm toán Nhà nước thực hiện
kiểm toán và lộ trình tiến hành công khai hoá.
Nghiên cứu các phương thức tổ chức thực hiện có thể áp dụng
trong công khai hoá kết quả kiểm toán và thực hiện các kiến nghị kiểm
toán của Kiểm toán Nhà nước như là những giải pháp thực hiện Luật
ngân sách nhà nước, Luật kế toán và Luật Kiểm toán trong tiến trình
cải cách hành chính nhà nước.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và phương
pháp luận, cũng như thực tiễn việc đưa ra các giải pháp và lộ trình để
thực hiện công khai hoá kết quả kiểm toán và thực hiện các kiến nghị
kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong quá trình cải cách hành
chính nhà nước trong tiến trình hội nhập.
Đề tài không nghiên cứu vấn đề công khai hoá nói chung và cũng
không đề cập đến các hoạt động của các phân hệ kiểm toán nội bộ và
kiểm toán độc lập.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu. Trong đó,
có phương pháp lôgic, phương pháp tổng hợp, phân tích; khái quát
hoá, khảo sát kinh nghiệm thực tiễn mà Kiểm toán Nhà nước đã thực
hiện trong 10 năm qua và tham khảo kinh nghiệm của Kiểm toán Nhà
nước một số nước trong khu vực và thế giới.
6. Kết cấu đề tài gồm 3 chương:

chức nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện
quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng các khoản đóng
góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn
kịp thời các hành vi vi phạp chế độ quản lý tài chính; bảo đảm sử dụng
có hiệu quả ngân sách của nhà nước, thực hành tiết kiệm chống lãng
phí”.
Như vậy, những nội hàm đặc trưng cho bản chất của khái niệm
công khai tài chính bao gồm:
-
Làm cho công chúng và mọi tổ chức quan tâm biết được đầy đủ
các thông tin về tài chính, về ngân sách quốc gia;
- Nội dung công khai là quá trình huy động (hình thành), sự phân
bổ, quá trình sử dụng, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước;

9
- Mục tiêu công khai là nhằm thu hút sự đóng góp của nhân dân,
thực thi quyền làm chủ của nhân dân, phát hiện và ngăn chặn kịp thời
mọi vi phạm, hướng quá trình sử dụng ngân sách nhà nước vào hiệu
quả và chất lượng.
- Phương thức công khai tuỳ thuộc vào phạm vi công khai và đối
tượng được hưởng công khai theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào sự phân tích này, có thể nêu khái quát về khái niệm
công khai tài chính như sau:
Công khai tài chính là nhằm cung cấp những thông tin về quá trình
hình thành, sự phân bổ, sử dụng và hiệu quả từ dạng ngân sách, tài sản
nhà nước theo những phương thức phù hợp cho những đối tượng được
hưởng sự công khai, theo quy định của pháp luật nhằm mục đích minh
bạch hoá các quan hệ tài chính, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
và quản lý, kiểm tra của nhà nước.
1.1.1.2. Nguyên tắc công khai tài chính

IMF và WB cũng lưu ý rằng: Cần tôn trọng sự đa dạng hoá giữa
các nước trong tiến trình tiến tới các quy ước công khai hoá, tức là tôn
trọng các đặc trưng pháp lý, lịch sử và văn hóa giữa các quốc gia, nhất
là đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi sang thị trường như Việt
Nam.
Xem nội dung các chế định và quy tắc công khai hoá tài chính, ta
thấy chúng rất gần gũi với yêu cầu, giải pháp đối với quá trình sử dụng
công cụ kiểm toán do KTNN thực hiện. Dựa vào các quy tắc này, căn
cứ chuẩn mực kiểm toán,… phục vụ trực tiếp của KTNN cho quá trình
công khai hoá, minh bạch hoá các thông tin về tài chính nhà nước.
1.1.1.3. Đối tượng công khai và phạm vi áp dụng công khai tài chính
ngân sách.
- Đối tượng công khai tài chính nhà nước gồm:
+ Các cấp ngân sách nhà nước (Trung ương, địa phương, xã
phường)
+ Các đơn vị dự toán ngân sách (cấp I, cấp II và cấp III)
+ Các tổ chức được NSNN hỗ trợ toàn bộ hay một phần kinh phí
(tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp,
các đơn vị sự nghiệp công, bán công…)
+ Các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn NSNN
+ Các doanh nghiệp nhà nước
+ Các quỹ có nguồn gốc từ NSNN
+ Các quỹ có nguồn gốc từ đóng góp của dân cư so cấp có thẩm
quyền cho phép thành lập theo quy định của pháp luật.

11
- Các đối tượng không công khai:
Các thông tin tài liệu, số liệu bí mật nhà nước quy định tại pháp
lệnh bảo vệ bí mật nhà nước số 30/2000/PL-UBTVQH10 và Quyết
định số 23/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí

1.1.2.1. Công khai hoá và minh bạch hoá là xu thế tất yếu gắn liền
với quá trình dân chủ hoá của nhà nước pháp quyền XHCN chống tệ
tham nhũng, lãng phí.
Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: Toàn Đảng, toàn
bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội phải có quyết tâm chính trị cao, đấu
tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí; yêu cầu thời gian tới
Đảng, Nhà nước phải thi hành một cách kiên quyết và đồng bộ các biện
pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí bao gồm:
Một là, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về quản lý kinh
tế, tài chính, quản lý tài sản công, ngân sách nhà nước, các quỹ do nhân
dân đóng góp và do nước ngoài viện trợ, về thanh tra, kiểm tra, kiểm
kê, kiểm soát.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện cơ chế giám sát của
nhân dân thông qua các cơ quan đại diện trực tiếp và gián tiếp đối với
đảng viên, công chức, cơ quan, đơn vị.
- Đảm bảo công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế, tài chính
trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng và
doanh nghiệp nhà nước.
- Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức.
Hai là, khẩn trương và nghiêm chỉnh thực hiện đồng bộ Luật
phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Bổ sung, hoàn thiện Luật Khiếu nại, tố cáo.
Ba là, xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai người tham nhũng, bất
kể chức vụ nào, đương chức hay là nghỉ hưu, tịch thu, sung công tài sản
có nguồn gốc tham nhũng.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế dân chủ.
(Tài liệu hỏi đáp về NQ Đại hội X của Đảng)
NXB Chính trị quốc gia – 2006 – Trang 82, 83)
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã coi công khai và minh bạch hóa
là công cụ của cải cách nền hành chính, công cụ phòng, chống tham

bạch hóa tài chính bao gồm nhiều yếu tố, song quan trọng và cơ bản
nhất là:
1. Phải có một nền tảng pháp lý đủ mạnh, toàn diện. Đây là tiền đề
quan trọng hàng đầu. Có lẽ từ hiến pháp, các đạo luật (như Luật NSNN,
Luật kế toán, Luật KTNN, Luật Tài chính, Luật Dân sự, Luật thương
mại….), các qui phạm pháp luật khác phải thống nhất nêu và quy định
rõ những nguyên tắc căn bản chi phối quá trình sản sinh các thông tin
tài chính, quá trình kiểm tra, kiểm toán, quy trình công bố các thông tin
này đều phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, hợp pháp, hợp lý và

14
hợp thủ tục để hướng tới việc cung cấp những thông tin đáng tin cậy
nhất cho người dùng tin.
2. Phải đảm bảo thiết lập và kiểm soát cho được một hệ thống kế
toán đáng tin cậy.
Kế toán là quá trình tập hợp, xử lý, kiểm tra và phân tích những
thông tin về tài chính trên cở sở một hệ thống các phương pháp đặc thù,
thông tin kế toán là bộ phận quan trọng hàng đầu của toàn bộ hệ thống
thông tin (do hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê và hạch toán kế
toán cung cấp) liên quan đến quá trình hình thành, phân phối, sử dụng
và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động kinh tế, tài chính,
các hoạt động quản lý vận hành nền kinh tế xã hội. Do đó, nếu kế toán
không được thiết lập trên cơ sở khoa học và thực tiễn, không tuân thủ
pháp luật và chuẩn mực thì hệ thống thông tin đó là nhiễu loạn, không
đáng tin cậy. Điều đó tất yếu sẽ làm xấu đi môi trường hạch toán,
môi trường quản lý, tăng thêm rủi ro và thách thức cho công tác kiểm
toán và công khai các thông tin có liên quan.
Hoàn thiện hệ thống kế toán là cách tạo cơ sở căn bản nhất đảm
bảo cho các thông tin được kiểm chứng có chất lượng cao, chính xác và
đáng tin cậy. Điều đó đồng nghĩa với việc góp phần thúc đẩy quá trình

- Phải tuyên truyền cổ động cho công khai hóa, dân chủ hóa.
- Phải sẵn sàng công bố các thông tin đã được kiểm chứng và
pháp luật cho phép tạo dư luận xã hội mạnh mẽ biểu dương các điển
hình tốt và lên án, răn đe những hành vi lạm dụng, tham nhũng, vụ lợi,
lãng phí.
- Phải thiết lập một môi trường truyền thông tích cực có tính phê
phán rất mạnh mẽ, quyết liệt, phải đảm bảo sự khách quan trung thực
và tinh thần tự chịu trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đưa tin.
- Phải xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông hiện
đại, nhanh nhạy, an toàn phục vụ cho công khai hóa.
Bốn điều kiện trên cùng các yếu tố khác, sẽ hội lại thành một môi
trường, một cơ sở có tính nền tảng cho công khai hóa, minh bạch hóa
tài chính.
1.1.3. Vấn đề công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện
kiến nghị của KTNN.
1.1.3.1. Công khai hóa gắn liền với việc thực hiện chức năng và
bản chất của kiểm toán.

Như chúng ta đã biết, kiểm toán vốn là sự phát triển tất yếu của
chức năng kiểm tra trong quản lý. Bản chất đó vốn là khách quan, song
còn bị chi phối bởi tính chất của nhà nước và bản chất của các giai tầng
thống trị nên nó có tính lịch sử.
Trong điều kiện nhà nước pháp quyền và trên nền tảng nền kinh tế
thị trường, yêu cầu công khai, minh bạch về thông tin tài chính trở

16
thành sự quan tâm thường trực của mọi chủ thể quản lý. Điều đó thúc
đẩy sự hình thành thị trường kiểm toán, thúc đẩy sự gia tăng những đòi
hỏi khe khắt về độ trung thực, khách quan đối với mọi thông tin được
công bố, đặc biệt là các thông tin về thực trạng tài chính của các doanh


17
Luật KTNN được công bố năm 2005 và có hiệu lực từ 01/01/2006
đã chính thức luật hóa tư tưởng và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về giá trị của báo cáo kiểm toán của KTNN.
Điều 9 của Luật KTNN đã nêu rõ: “Báo cáo kiểm toán của KTNN
xác nhận tính đúng đắn, trung thực của Báo cáo tài chính, báo cáo
quyết toán Ngân sách, đánh giá việc tuân thủ pháp luật, tính kinh tế,
tính hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, và tài sản
nhà nước”.
Đồng thời, Luật KTNN cũng chính thức quy định việc công khai
kết quả kiểm toán. Đây là bước đột phá có tính chiến lược, làm cho sự
minh bạch và công khai hóa các quan hệ tài chính có điều kiện được
thực thi triệt để.
Điều 58 Luật KTNN đã qui định.
“Báo cáo kiểm toán năm và báo cáo kết quả thực hiện kết luận,
kiến nghị kiểm toán của KTNN sau khi trình Quốc hội được công bố
công khai theo quy định của pháp luật” (khoản 1).
Điều 58 ghi rõ:
“Báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán sau khi phát hành được
công bố công khai cùng với báo cáo tài chính theo qui định của Luật
NSNN và Luật Kế toán”.
Như vậy, kết luận kiểm toán cùng kết quả thực hiện kết luận kiểm
toán của KTNN là những thông tin phải được công khai hóa (theo quy
định của pháp luật) sẽ góp phần xây dựng môi trường công khai, minh
bạch và đó thực chất là quá trình dân chủ hóa trong quản lý và điều
hành NSNN của các cơ quan quyền lực với sự tham gia, hưởng ứng của
toàn xã hội.
1.1.3.3. Quan hệ giữa công khai tài chính và công khai kết quả
kiểm toán của KTNN.

th
ực, khách quan sẽ thúc đẩy quá trình công khai hóa, minh bạch hóa
các thông tin tài chính. Nguồn gốc của kết quả này là do các bên hữu
quan, khi thực thi trách nhiệm pháp lý của mình đã góp phần xây dựng
lòng tin cho người sử dụng thông tin.
Như vậy công khai hóa tất yếu đòi hỏi phải kiểm toán, phải công
bố kết quả kiểm toán; ngược lại công khai hóa kết quả kiểm toán giúp
cho công khai hóa được tin cậy, nhờ đó, công khai hóa tài chính có
được hiệu quả, hiệu lực cao hơn.
1.1.3.4. Công khai k
ết quả kiểm toán là sự xác nhận trước pháp
luật và trước cộng đồng về sự trung thực và tin cậy của báo cáo tài
chính, quyết toán NSNN.

19
Như chúng ta đã biết, Kiểm toán có 3 chức năng là kiểm tra, xác
nhận thông tin và tư vấn. Công khai kết quả kiểm toán thực chất là thực
hiện trong đời sống quản lý việc xác định trước pháp luật, trước cộng
đồng, người dùng tin về độ trung thực, khách quan, hợp pháp, hợp lý,
hợp lệ, của các thông tin tổng hợp đã được ghi nhận trên báo cáo tài
chính, báo cáo quyết toán NSNN, Như vậy, việc công khai kết quả
kiểm toán thuộc về chức năng khách quan của kiểm toán. Điều đó bắt
buộc chủ thể kiểm toán cũng như những tổ chức, cá nhân có liên quan
đến các quan hệ kiểm toán đều phải chấp nhận nó như một tất yếu.
Như vậy quá trình thực hiện từng bước việc công khai kết quả
kiểm toán cũng đồng nghĩa với việc hiện thực hóa các chức năng vốn
có của kiểm toán, góp phần đẩy tới sự phát triển của KTNN, thực thi có
hiệu quả luật KTNN, hướng các hoạt động thu, chi, quản lý, điều hành
NSNN vào hiệu quả và chất lượng ngày càng cao.
1.2. Minh bạch tài chính ở Việt Nam với quá trình hoàn thiện

mực tối thiểu chính của sự minh bạch ngân sách nêu trong các nguyên
tắc chung sau đây:
1. Phân định rõ vai trò và trách nhiệm: Trong lĩnh vực này yêu
cầu chính của chuẩn mực tối thiểu của Quy tắc minh bạch tài chính là
định nghĩa về Chính phủ nói chung được quốc tế chấp nhận và dùng
định nghĩa này để xác định mối quan hệ giữa Chính phủ với các thành
phần kinh tế khác cũng như giữa các cấp chính quyền. Yêu cầu này là
một yêu cầu căn bản quan trọng để phân định rõ trách nhiệm đối với
hoạt động ngân sách và yêu cầu này cũng đóng vai trò là một yêu cầu
nền tảng đối với việc thực hiện các nguyên tắc và thông lệ trong bản
Quy tắc. Những yêu cầu khác được đưa ra trong nguyên tắc này giúp
nhấn mạnh và yêu cầu tất cả các nước phải xem xét những vấn đề khác
trong việc xác định rõ bản chất và phạm vi hoạt động tài chính của
Chính phủ; quy trình ngân sách bao gồm cả các hoạt động “ngoài ngân
sách”; các khoản chi gián tiếp từ ngân sách, xác định được cổ phần
Chính phủ nắm giữ; xác định rõ thế nào là các hoạt động ngân sách
gián tiếp, và có một khuôn khổ pháp lý hành chính đủ yêu cầu cho việc
thực hiện ngân sách và đánh thuế.
Liên quan đến chuẩn mực này, Chính phủ Việt Nam cần đư
a số
liệu của trang Việt Nam vào quyển Niên giám thống kê tài chính của
Chính phủ, và trên cơ sở đó phân định rõ hơn trong việc xác định khái
niệm Chính phủ nói chung như đã được nêu trong Sổ tay Thống kê tài
chính của Chính phủ. Xét về khía cạnh khác một khuôn khổ cơ bản về
ngân sách và luật thuế cũng được thiết lập, mặc dù những khuôn khổ
này cũng cần không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, ở hầu hết các
khía cạnh khác thì Việt Nam chưa đáp ứng được các chuẩn mực, cụ thể
những tài khoản đặc biệt chưa được tổng hợp đầy đủ trong quá trình lập
ngân sách và quy trình hạch toán kế toán, cần làm rõ hơn mối quan hệ


quan đến những hoạ
t động này nhưng không được chính thức xem xét
trong quá trình quyết định ngân sách.
3. Lập, thực hiện và báo cáo ngân sách công khai: Những chuẩn
mực tối thiểu được đề cập cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của việc
xây dựng các báo cáo ngân sách được kiểm toán chính xác. Với ý nghĩa
này, các chuẩn mực được đưa ra cũng tương tự như chuẩn mực có thể

22
áp dụng được cho các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Ở một số
nước các chuẩn mực kỹ thuật yếu kém hơn là điều không thể tránh
khỏi, một phần bởi lẽ hệ thống các chuẩn mực kế toán quốc tế trên cơ
sở tiền mặt hoặc tương tự tiền mặt vẫn chưa được áp dụng. Tuy nhiên,
điều quan trọng nhất là tất cả các nước phải đặc biệt quan tâm tới sự
yếu kém trong các bản kê khai tài chính và tài liệu ngân sách, và các cơ
quan quốc tế cần ưu tiên hỗ trợ giải quyết các yếu kém đó.
Như đã được đề cập ở trên, Việt Nam đã đạt được một số
tiến bộ đáng kể trong việc thiết lập một chuẩn mực hợp lý cho báo cáo
tài chính xét về tính minh bạch tài chính nội bộ. Tuy nhiên, mặc dù đã
có những tiến bộ gần đây trong việc phân loại ngân sách mới và Kho
bạc Nhà nước đã có những bản báo cáo hợp lý và đúng thời hạn về việc
chi và thu thực tế được phân loại theo nội dung kinh tế, nhưng những
bản báo cáo cho các tổ chức nước ngoài vẫn còn ở hình thức cũ. Luật
Ngân sách Nhà nước (điều 47) yêu cầu các tài liệu về các vấn đề căn
bản của chính sách tài chính phải được đệ trình lên Quốc hội cùng với
Bản dự thảo ngân sách. Dựa trên Nghị định 38 hướng dẫn thực hiện
Pháp lệnh của Quốc hội, Chính phủ sẽ công bố công khai một vài số
liệu đáng tin cậy về ngân sách và quyết toán ở các cấp của Chính phủ.
Tuy vẫn còn nhiều hạn chế, với cam kết chính trị cần thiết, việc đạt
được đầy đủ các chuẩn mực tối thiểu đề ra trong Nguyên tắc chung của

mình là người thẩm định và công khai hóa các “thông tin sạch” các
thông tin đáng tin cậy cho cơ quan, tổ chức, công dân những người sử
dụng kết quả kiểm toán khi Kiểm toán nhà nước thực hiện:
1. Hoàn thiện tổ chức, quy trình, quy phạm đặc biệt là hoàn thiện
hệ thống chuẩn mực KTNN, liên tục tiến hành kiểm toán để tích luỹ
đầy đủ thông tin về NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến
quyết toán ngân sách nhà nước.
2. Thực hiện đúng chức năng khách quan của Kiểm toán nhà
nước là kiểm tra, xác nhận, tư vấn khi tiến hành kiểm toán NSNN và
các đối khác thuộc phạm vi kiểm toán của KTNN.
3. Cần thực thi đầy đủ cả 3 loại hình kiểm toán: Kiểm toán tuân
thủ, kiểm toán hoạt động và kiểm toán báo cáo quyết toán NSNN, tiến
đến kiểm toán trước, tức là kiểm toán quá trình lập, phê duyệt và công
bố Dự toán NSNN đồng thời kiểm toán trong và sau quá trình ngân
sách.
4. Thự
c hiện tốt lộ trình công khai kết quả kiểm toán và thực
hiện kết luận kiểm toán theo qui định của pháp luật.
Đây là 4 việc then chốt để KTNN thực hiện đúng vai trò quan
trọng của mình trong tiến trình công khai và minh bạch tài chính, góp
phần hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
1.2.3 Tác dụng và hiệu lực của việc công khai kết quả kiểm
toán, kết quả thực hiện kết luận và kiến nghị kiể
m toán của KTNN.

24
- Công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận kiểm
toán là hình thức công bố trước công luận về việc thực thi quyền năng
của Kiểm toán Nhà nước đã được pháp luật quy định; nó là sự thể hiện
trong hiện thực các chức năng kiểm tra, xác nhận và tư vấn của KTNN.
25
CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG KHAI KẾT QUẢ KIỂM TOÁN
Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC
TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.

2.1. Quan điểm của Đảng CSVN và các chế định pháp luật để
thực hiện công khai kết quả kiểm toán và các kiến nghị kiểm toán
của kiểm toán Nhà nước hiện hành ở Việt Nam.
2.1.1. Một số vấn đề trong nền kinh tế thị trường.
Bước vào nền kinh tế thị trường, những chuyển động khách quan
của bản thân nền kinh tế, của xã hội và cơ chế kinh tế được vận dụng
đã tạo ra nhiều khe hở khách quan dễ tạo ra những sai phạm, xâm hại
và làm thất thoát các nguồn lực của nền tài chính công. Tất cả những
sai sót, sai phạm được phản ảnh trong các báo cáo của các cơ quan hữu
trách, trên đài báo và đặc biệt là báo cáo của Kiểm toán Nhà nước
(KTNN) đã phản ảnh thực trạng những sai sót, vi phạm, lãng phí, thất
thoát tham nhũng ở tất cả các ngành, các cấp, các lĩnh vực. Điều này
phản ánh thực trạng khó tránh khỏi khi chuyển đổi từ một nền kinh tế
tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mặt khác nó
cũng chứng minh cho sự chuyển động thiếu đồng bộ, giữa các năng lực
quản lý với sự đòi hỏi của tăng trưởng kinh tế, giữa quan hệ sản xuất
với lực lượng sản xuất, giữa yêu cầu phát triển kinh tế trong quá trình
hội nhập với tính công khai minh bạch. Để khắc phục những thiếu sót
trên, đòi hỏi và buộc Nhà nước phải tăng cường cải cách kinh tế, gia
tăng quyền hạn để kiểm tra kiểm soát tài chính, tiền tệ đảm bảo an ninh
tài chính quốc gia, để thực hiện yêu cầu đó, Nhà nước phải dùng công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status