Tiến trình quản lý trường hợp với người khiếm thị ( nghiên cứu trường hợp cụ thể chị Nguyễn Thị H) - Pdf 17

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
²
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: NGƯỜI KHUYẾT TẬT, CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HÀNH
MÔN: NGƯỜI KHUYẾT TẬT, CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HÀNH
ĐỀ TÀI: Tiến trình quản lý trường hợp với người khiếm thị ( nghiên cứu
trường hợp cụ thể chị Nguyễn Thị H)
Giáo viên hướng dẫn
: PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà
: PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Học viên
: Nguyễn Thị Vân Anh
: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp
: CTXH 1 -2012
: CTXH 1 -2012

Hà Nội – 04/2014
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Theo thống kê trên Thế giới cho biết “Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm
một người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không
nhìn thấy ánh sáng”. Hàng năm cả thế giới phải tiêu tốn hơn 42 tỷ đôla Mỹ
cho việc chữa trị các bệnh về mắt. Ông bà ta vẫn nói: “Giàu hai con mắt, khó

nghiên cứu khám phá để tạo đà cho những nghiên cứu mang tính khoa học hơn
vể đề tài người khiếm thị.
- Ý nghĩa thực tiễn
Qua quá trình nghiên cứu, tìm tài liệu, tìm hiểu thực tế nhà nghiên cứu
có cơ hội áp dụng những lý thuyết trong công tác xã hội vào thực tiễn, có sự
hiểu biết sâu sắc về đặc điểm tâm, sinh lý, nhu cầu của người khuyết tật nói
chung và người khiếm thị nói riêng. Từ đó, giúp nhà nghiên cứu nắm vững
kiến thức, kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm cho những nghiên cứu tiếp
theo.
3. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: nghiên cứu sử dụng phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng.
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp thu thập thông tin: Để có số liệu cụ thể về vấn đề nghiên
cứu, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến vấn đề người
3
khuyết tật, người khiếm thị từ đó làm rõ nhiều khía cạnh của vấn đề quản lý
trường hợp với người khiếm thị và đưa ra những đánh giá đúng, khách quan,
phù hợp với đề tài nghiên cứu.
+ Phương pháp phân tích tài liệu: trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu và
các tài liệu về người khuyết tật, người khiếm thị, dựa vào các thông tin thu
thập được nhà nghiên cứu tiến hành lập kế hoạch trợ giúp đối tượng, phân tích,
đánh giá những nguồn lực thực hiện để giúp đối tượng lựa chọn vấn đề ưu tiên
giải quyết.
4. Bố cục của bài viết
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của bài nghiên cứu được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Tiến trình quản lý trường hợp với người khiếm thị
Chương 3: Kết luận

nhân một người ( về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của
người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác).
1.3. Khái niệm người khuyết tật
Theo Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30/7/1998: Người khuyết tật
(không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật) là người bị khiếm khuyết một hay
nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác
nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập
gặp nhiều khó khăn. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng Khuyết
tật được phân thành nhiều loại: tật vận động, tật giác quan, tật trí tuệ…
Theo mô hình từ thiện: Người khuyết tật như là một nạn nhân của suy
giảm chức năng, tình trạng rất bi đát, bất hạnh, chịu nhiều đau khổ họ cần các
dịch vụ y tế đặc biệt, dịch vụ xã hội đặc biệt và trường học đặc biệt.
Theo đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 định nghĩa:
“người khuyết tật là người người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây
ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”.
Theo Công ước quốc tế (30/3/2007) thì: “ Người khuyết tật là những
người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác
quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia
đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như
những người khác trong xã hội”.
Theo luật người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày
17/06/2010: “ Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến
cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
1.4. Khái niệm về Công tác xã hội với người khuyết tật
Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt động chuyên nghiệp của
nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật tăng cường hay khôi
phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác
định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, gia đình và cộng đồng
6

Là một nhân viên công tác xã hội muốn giúp đỡ và giải quyết những
khó khăn của người khuyết tật thì trước hết phải hiểu về đặc điểm tâm, sinh lý,
nhu cầu của các nhóm người khuyết tật. Ngoài những nhu cầu chung nhất họ
còn có những đòi hỏi riêng mà nhà công tác xã hội cần chú ý:
- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của
người khuyết tật có thể giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong
sinh hoạt, lao động, học tập…Do đó gia đình và xã hội cần có hỗ trợ, ưu tiên
đặc biệt cho nhóm đối tượng này như: chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức
năng, làm tay chân giả, cung cấp xe lăn, máy trợ thính, thiết bị tiện nghi, nhà
ở…cần có đuợc các dịch vụ giáo dục đặc biệt dành cho người khuyết tật.
Cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác ở người khuyết tật
được thể hiện rõ nét: khi họ mất đi khả năng hoạt động của các cơ quan cảm
giác nào đó thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất phát triển
và sự nhận biết thế giới xung quanh thực hiện chủ yếu thông qua giác quan
còn lại này.
Do mất hoặc giảm khả năng hoạt động một trong các cơ quan tiếp nhận
thông tin cần thiết cho hoạt động nhận thức nên phần lớn một số người khuyết
tật giác quan, tật thần kinh hoạt động tư duy có phần bị giảm sút về tốc độ do
khối lượng thông tin cần tiếp thu bị hạn chế. Chính vì vậy trong hoạt động
giáo dục, dạy nghề ta cần cung cấp thông tin của nhiều kênh, nhiều nguồn
bằng nhiều biện pháp để tăng cường lượng thông tin cho hoạt động nhận thức
của đối tượng.
Do bị bệnh tật, khó khăn đi lại hoặc giao tiếp nên hoạt động lao động,
giao lưu hạn chế hơn so với người bình thường nếu không có hỗ trợ xã hội thì
phạm vi quan hệ xã hội ở người khuyết tật sẽ bị thu hẹp. Do đó, gia đình và xã
hội cần tạo điều kiện cho đối tượng hoà nhập vào cuộc sống xã hội của những
người bình thường.
Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động trên
nên người khuyết tật thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu
8

hiệu nhằm ngăn chặn khuyết tật, phục hồi chức năng cho người tàn tật, nhằm
đem lại sự bình đẳng và tạo cơ hội cho người tàn tật trong xã hội. Điều đó
được thể hiện bằng hệ thông các chính sách, các văn bản pháp luật cụ thể:
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
- Nghị định 55/ 1999/ NĐ – CP ngày 10/7/1999 của Chính phủ về quy
định tyhi hành một số điều của pháp lệnh người tàn tật
- Quyết định số 590/TTg ngày 04/12/1993 của Chính phủ về việc thành
lập hội cứu trợ trẻ em bị tàn tật.
- Quyết định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính Phủ về việc quy định
và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về người tàn tật
- Thông tư liên bộ số 13/TTLB/LĐTBXH – GDDT ngày 17/6/1995 của
Bộ lao động TB%XH và Bộ GDĐT hướng dẫn triển khai thực hiện NĐ 26/CP
ngày 17/4/1995 của Chính phủ về việc giao nhiệm vụ dạy văn hoá cho trẻ em
bị tàn tật.
- Thông tư liên tịch số 13/TTLB/LĐTBXH – GDĐT ngày 17/6/1995
của Bộ Lao động TB$XH và Bộ GDĐT hướng dẫn triển khai thực hiện NĐ
26/CP ngày 17/4/1995 của Chính Phủ về việc giao nhiệm vụ dạy văn hoá cho
trê bị tàn tật.
- Nghị định 67/2007 – NĐ – CP ngày 13/4/2007 của Chính Phủ về
chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
- Thông tư số 09/2007/ TT – BLĐTBXH ngày 13/7/2007. Hướng dẫn
một số điều của Nghị định số 67/2007 – NĐ – CP.
- Nghị định số 62/2009/NĐ – CP ngày 27/7/2009 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế
Ngoài ra còn một số các chương trình dự án trong và ngoài nước cũng
đã và đang đuợc thực hiện trên cả nước nhằm hỗ trợ cho người khuyết tật
trong việc học hành, tạo việc làm tăng thu nhập cải thiện đời sống và chăm sóc
sức khoẻ chỉnh hình.
10
Song nhìn chung số đối tượng được hưởng thụ còn ít nhất là từ các

chính sách và chương trình giáo dục dạy nghề cho người khuyết tật ra đời. Tại
đây, dựa vào những khuyết tật của mình mà người khuyết tật được đào tạo một
nghề cho phù hợp với bản thân, ngoài đường còn có các lề đường giành riêng
cho những người khuyết tật để họ có thể đi lại được dễ dàng, ở các ga xe lửa,
thang máy còn được thiết kế sao cho người khuyết tật có thể lên xuống được
dễ dàng và điều quan trọng nhất là hiện nay đã có sự tham gia của cộng đồng
vào việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật tại các trung tâm.
Ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ ta cũng đã quan tâm tới những người bị
khuyết tật, ngoài các chính sách cho thương binh theo các cấp bậc nặng, nhẹ,
tiền trợ cấp hàng tháng, các cơ sở tập trung cho người già, người tàn tật, các
trường học giành cho trẻ mù, câm, điếc, trẻ chậm phát triển trí tuệ….Tuy
nhiên trên thực tế cách nhìn nhận của con người xã hội đối với những người
khuyết tật vẫn còn những mặt hạn chế nhất định.
Những người bị khuyết tật, cho dù là khuyết tật về thể chất hay khuyết tật
về trí tuệ thì về mặt tình cảm và xã hội cũng đều bị con người xã hội nhìn nhận
như nhau, có nghĩa là họ đều bị cô lập, bị gạt ra ngoài xã hội. Họ thường sợ
hãi, sợ bị mất tình thương. Nhiều người khác trong xã hội còn cho rằng người
bị khuyết tật chức năng này thường bị khuyết tật luôn những chức năng khác
cho nên họ quan niệm những người khuyết tật là bị thua kém những người
bình thường khác do đó cần phải thương hại họ.
Trong khi đó trong gia đình có người bị khuyết tật, nhiều cha mẹ, anh chị
em lại có những biểu hiện chán nản, u buồn, lo lắng, mệt mỏi thậm chí là xấu
hổ…khi trong gia đình mình có người bị khuyết tật, họ cảm thấy ngại ngùng
khi quan hệ với bạn bè, hàng xóm, với cộng đồng xung quanh. Nhiều người
còn cho rằng : những “ gia đình có người bị khuyết tật” là những “ gia đình vô
phúc”, là những gia đình kiếp trước ăn ở không có hậu nên bây giờ bị trừng
phạt.
12
Những điều trên đã làm cho người khuyết tật mặc cảm, thấy mình vụng
về, kém tự tin bởi họ là những người rất nhạy cảm, họ không thích những giao

không may chị bị tai nạn lao động dẫn đến đôi mắt bị mù. Tai nạn này khiến
cho gia đình anh chị ngày càng khó khăn hơn, khi trước đây cuộc sống của cả
gia đình chỉ trông chờ vào đồng lương ít ỏi làm công nhân của chị H, anh T do
sức khỏe yếu nên chỉ ở nhà phụ giúp chị công việc nhà. Hiện tại nguồn thu
nhập chính của gia đình có được từ kinh doanh quán nước ven đường. Gia
đình anh chị không có nguồn thu nhập nào khác, trong khi phải nuôi các con
ăn học. Kinh tế gia đình thật sự khó khăn. Trong khi đó từ khi bị tai nạn dẫn
đến đôi mắt bị mù chị H thường xuyên bị chồng tỏ thái độ coi thường, khinh
bỉ, xem là đồ bỏ đi, không giúp ích gì được cho gia đình. Chị H rất đau khổ và
hụt hẫng trước thái độ cư xử của chồng, chị tỏ ra trầm tính, ít nói, tự ti về hoàn
cảnh khuyết tật của bản thân.
2. Tiến trình quản lý trường hợp
- Tiếp nhận thông tin, đánh giá sơ bộ
- Xác minh, đánh giá toàn diện
- Lập kế hoạch cụ thể
- Tổ chức thực hiện và triển khai kế hoạch
- Giám sát, đánh giá, kết thúc
3. Các bước tiến hành
3.1. Bước 1: Tiếp nhận thông tin, đánh giá sơ bộ về thân chủ
Thu thập thông tin về thân chủ:
Họ và tên: Nguyễn Thị H
Giới tính: Nữ
Tuổi: 35
14
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: không
Nghề nghiệp: buôn bán tự do (kinh doanh quán nước ven đường)
Tình trạng sức khỏe: đôi mắt bị mù
Những vấn đề về tâm lý: lầm lì, ít nói, trầm cảm
Thành phần gia đình:

thương chồng
con.
- Được làng
xóm quý
mến.
- Chịu khó lao
động nhưng do
sức khỏe yếu
nên k làm được
nhiểu
- Thương con
- Ngoan ngoãn,
chăm chỉ, lễ
phép bố mẹ.
- Thương mẹ
rất nhiều.
- Học khá
- Bà con hàng
xóm rất quan
tâm đến nhau,
thường xuyên
giúp đỡ chị H.
- Thông cảm cho
hoàn cảnh của
chị và gia đình
Điểm yếu
- Đôi mắt bị

- Ít nói, sống
nội tâm.

nuôi các con ăn học, gia đình lại đông người nên chi phí sinh hoạt cần nhiều
hơn, trong khi thì nguồn thu nhập giảm sút, chỉ trông chờ vào việc kinh doanh
quán nước ven đường, có thể nói nguồn thu nhập rất bấp bênh. Do vậy gây nên
17
Hoàn cảnh gia đình khó khăn, thường
xuyên bị chồng khinh bỉ, coi thường
Tư tưởng của chị
không đúng đắn
Không nhận được sự
hỗ trợ
Phương tiện truyền
thông yếu, kém
Hi
sinh vì
chồng
con
Có tư
tưởng
tự ti về
h.cảnh
bản
thân
Chính
quyền
không
quan
tâm
Hội phụ
nữ hoạt
động

dân
đề của gia đình chị như: vấn đề hỗ trợ gia đình người khuyết tật có hoàn cảnh
kinh tế khó khăn.
Gia đình chị H có mối quan hệ xa cách với chính quyền, các hội, đoàn
thể địa phương như: Hội nông dân, hội phụ nữ. Gia đình chị cũng chưa tìm
đến sự trợ giúp của các tổ chức này.
Bước 3: Lập kế hoạch can thiệp
“ Thương người như thể thương thân”, đạo lý truyền thống sâu sắc ấy của
dân tộc đã được thấm nhuần và in đậm trong mỗi người dân Việt Nam. Trong
những năm qua, Đảng và Nhà Nước, nhân dân ta đã dành nhiều công sức giúp
đỡ, chăm sóc, chăm lo đời tinh thần cho người khiếm thị, họ là một bộ phận
chịu thiệt thòi nhất trong xã hội, để họ có thể có từng bước hoà nhập với cộng
đồng. Tuy nhiên vẫn cần sự quan tâm nhiều hơn nữa của toàn xã hội đến đời
sống vật chất, tinh thần cho người khiếm thị để họ bớt đi phần nào sự mặc
cảm, tự ti và vươn lên hoà nhập cộng đồng, xã hội. Đối với trường hợp của chị
H, để có thể hỗ trợ chị trong việc giải quyết các vấn đề theo thứ tự ưu tiên thì
trước tiên NV CTXH cần lập kế hoạch can thiệp cụ thể:
STT Mục tiêu theo
ưu tiên của
chị H
Nguồn lực
Lý thuyết,
kỹ năng sử
dụng
Thời gian Kết quả
mong đợi
Bên
trong
Bên ngoài
1 Gia đình chị H

đẳng trong gia
đình và xã hội,
không còn bị
chồng mắng
chửi, coi
thường.
Chị H,
anh T,
hàng
xóm
NVCTXH,
Hội phụ
nữ, chính
quyền địa
phương
Thuyết
hành vi, kỹ
năng
thuyết
phục, kỹ
năng tham
vấn
4 tuần Chị H nhận
được sự
quan tâm,
chăm sóc,
yêu thương
từ chồng
19
3 Xóa bỏ tâm lý

nữ, chính
quyền địa
phương
Kỹ năng
thuyết
trình, tham
vấn, kỹ
năng chia
sẻ
3 tuần Chị H nhận
được sự
cảm thông,
quan tâm,
chăm sóc
từ a T và
các con
Bước 4: Tổ chức thực hiện và triển khai
STT Mục tiêu Hoạt động Người thực
hiện
Hình thức,
biện pháp
thực hiện
Kết quả
mong đợi
1 Gia đình chị
H được hỗ
trợ vốn để
sản xuất kinh
doanh, anh T
có việc làm

anh T, hội
nông dân,
hội phụ nữ
- Liên hệ
chính quyền
địa phương,
hội nông dân
hỗ trợ kỹ
thuật, làm
mẫu
anh T được
hỗ trợ về kỹ
thuật trong
sản xuất
2 Chị H được
đối xử bình
đẳng trong
gia đình và
xã hội, không
còn bị chồng
mắng chửi,
coi thường.
- Giúp chị H
hiểu được
quyền được
đối xử công
bằng trong gia
đình và xã hội
- NVCTXH,
Hội phụ nữ,

nhóm người
khuyết tật
-
NVCTXH,
Hội phụ nữ,
chính
quyền địa
phương, gia
đình anh T
- Truyền
thông
tổ chức các
buổi tọa đàm
lồng ghép
với các buổi
sinh hoạt của
hội phụ nữ,
hội nông
dân.
anh T cảm
thông với
hoàn cảnh
của vợ, yêu
thương,
quan tâm,
chăm sóc
vợ, không
còn thái độ
coi thường
vợ

đình anh T
- Tham vấn,
cung cấp
thông tin cho
chị H
Giúp chị
thay đổi
nhận thức
rằng chị k
phải là
người thừa,
người bỏ đi
trong gia
đình, giúp
chị có được
niêm tin
trong cuộc
sống
4 Chị H, anh
T được cung
cấp thông
tin về chăm
sóc người
khiếm thị
- Giúp gia
đình chị H có
được những
hiểu biết cơ
bản đặc điểm,
nhu cầu của

thị
NVCTXH cần phải tìm hiều tâm trạng của người chị H giúp chị bày tỏ
nỗi niềm về mối lo âu, buồn bã, gây lòng tin tưởng và bày tỏ sự cảm thông với
những khó khăn mà chị trải qua. Giúp gia đình chị nhận đinh được những biến
chuyển và tiến trình của bản thân chị trong việc phục hồi chức năng, đặc biệt
cần nhận rõ được vai trò của các tổ chức, chính quyền địa phương trong việc
giúp đỡ, hỗ trợ gia đình và bản thân chị H
Cần phải xác định mục tiêu trong công tác xã hội với người khiếm thị, với
gia đình người khiếm thị để giúp chị H tăng thêm chức năng tự túc sinh hoạt
và giáo dục gia đình người khiếm thị đặc biệt là anh T về việc chăm nuôi,
phục hồi cho chính bản thân chị H, để a cảm thông, chia sẻ với những khó
khăn của vợ, xóa bỏ những suy nghĩ không tốt về người vợ khuyết tật của
mình. Bản thân nhân viên xã hội cần phải có những hoạt động bảo vệ, biện hộ
cho người khiếm thị. Bên cạnh đó còn phải tham gia đề xuất các chính sách
bảo vệ cho chị. Tìm các nguồn hỗ trợ tại cộng đồng để hỗ trợ cho chị H như
liên hệ với: trung tâm hội người khuyết tật địa phương và tạo lập được mạng
lưới các câu lạc bộ, hội người khuyết tật để giúp chị đạt đến sự cân bằng về
trạng thái trong xã hội.
Bước 5: Giám sát, đánh giá, kết thúc
Giám sát, đánh giá
Việc thực hiện việc trợ giúp chị H được thực hiện theo đúng kế hoạch
với sụ giúp đỡ của các nguồn lực bên trong và bên ngoài, chủ yếu là sự nỗ lực
học tập, thay đổi nhận thức từ phía thân chủ, xóa bỏ mặc cảm về hoàn cảnh
của bản thân, vươn lên sống có ích, được sự cảm thông, yêu thương từ chồng
và các con.
22
Với khoảng thời gian thực hành quản lý trường hợp với người khiếm thị
nhân viên công tác xã hội đã vận dụng được cơ bản những kiến thức của
chuyên ngành mình được học vào trong qúa trình thực hành giúp đỡ đối tượng.
Bước đầu đã thu được những kết quả khả quan đó là thân chủ của mình đã có

NVCTXH đã tiến hành gặp gỡ thân chủ và một số đối tượng liên quan để tiến
hành lượng giá và nhận thấy thân chủ đã đạt được mục đích ban đầu đề ra đó
là thay đổi nhận thức, thái độ, suy nghĩ về hoàn cảnh bản thân, vươn lên sống
có ích cho gia đình và xã hội, bên cạnh đó thân chủ còn nhận được sự quan
tâm, yêu thương, chăm sóc từ phía gia đình, xã hội. Bên cạnh đó gia đình chị
H còn được hỗ trợ vay vốn để sản xuất và ổn định cuộc sống.
24
KẾT LUẬN
Có rất nhiều câu chuyện về những mảnh đời bất hạnh của những người
khiếm thị. Mỗi mảnh đời là một câu chuyện dài của nghị lực, của ý chí vượt
khó vươn lên, là nỗi khắc khoải và trái tim khát khao cuộc sống. Rất khó để
nhận thấy được một sự mặc cảm hay chán nản trên gương mặt của những
người khiếm thị. Trên gương mặt họ luôn toát lên sự kiên định và nghị lực
đáng khâm phục. Câu trả lời duy nhất mà khi trợ giúp thân chủ NVCTXH
nhận được khi hỏi về ước mơ, dự định của các họ là luôn là khát khao được đi
làm, được cống hiến để không trở thành gánh nặng cho gia đình. Với phương
châm “Khơi dậy tinh thần tự lực là chính, sau đó mới kêu gọi xã hội hoá”,
những năm qua Đảng và Nhà nước đã có những chương trình hỗ trợ thiết thực
cho người khiếm thị. Tuy nhiên hiện nay, số lượng người khiếm thị ở nước ta
là khá cao và trong tương lai con số này vẫn sẽ tiếp tục tăng lên bởi nhiều
nguyên nhân khác nhau như bệnh tật, tai nạn… Đây là một vấn đề lớn của xã
hội cần được quan tâm! Mỗi chúng ta cần có cái nhìn đúng đắn về người
khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng, cần nhìn nhận đúng những
khả năng và giá trị của họ, khích lệ họ vượt lên khó khăn để sống tốt và đóng
góp những khả năng của mình cho xã hội. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề
riêng của cá nhân họ mà là vấn đề cần được cả gia đình, xã hội quan tâm, giúp
đỡ.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status