Đề tài " Tìm hiểu về các tập đoàn kinh tế Việt Nam. Mô hình công ty mẹ công ty con đã được áp dụng tại Việt Nam " - Pdf 17

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA: XÃ HỘI-DU LỊCH-KINH TẾ
¯&¯
Đề tài:Tìm hiểu về các tập đoàn kinh tế
Việt Nam. Mô hình công ty mẹ công ty
con đã được áp dụng tại Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Hoàng Thị Dụng
Nhóm sinh viên thực hiện: Phạm Văn Thành
Hoàng Thị Thanh Thúy
Nguyễn Hoàng Quốc
Nguyễn Thị Thủy
Hoàng Thị Hoài Thương
Trần Thị Thanh Tâm

Đồng Hới, Tháng 12, Năm
2010
Mục lục
Phần mở đầu 3
1.Lí do chọn đề tài 3
2. Sự cần thiết và nhu cầu tất yếu 5
4.Hiệu quả hoạt động 8
4.1 Sử dụng vốn 8
`4.2. Đầu tư trái nghề chính 8
4.3.Tình hình nợ 8
5.Mô hình công ty mẹ - công ty con 9
5.1.Sự giống và khác nhau giữa mô hình tổng công ty và đơn vị thành viên và mô
hình công ty mẹ công ty con: 10
5.2.Đặc điểm chung của công ty mẹ công ty con: 12
5.3.Ưu điểm của mô hình 12
5.5.Khả năng vận dụng mô hình công ty mẹ công ty con trong nền kinh tế Viêt Nam.
16

CTC ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đặc trưng của TĐKT.
-Cơ chế hoạt động của TĐKT
- Vai trò của TĐKT
- Thực trạng của TĐKT
4.Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện dựa trên các cơ sở lí thuyết về TĐKT nói chung và
TĐKT Việt Nam nói riêng.
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài đó là : phân tích, tổng hợp, so
sánh…Trong đề tài của mình chúng em đáuwr dụng nhiều tài liệu liên quan tới
TĐKT ở Việt Nam để nêu lên một cách xác thực về TĐKT
Phần 2: Nội dung
I.Phần lí thuyết .
1. Khái niệm.
Tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều nghành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài
chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi
ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo,
chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển.”
Mô hình tập đoàn là một hình thái tổ chức giữa các doanh nghiệp. Còn nhiều
quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: “Tập đoàn
doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp,liên kết nhau bằng quan
hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các
doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập”
Vào năm 1990 và 1991 Nhà nước đã thành lập các Tổng công ty nhà nước,
đến năm 2005 thì một số Tổng công ty được tổ chức thành tập đoàn kinh tế. Đến
năm 2008 có 8 tập đoàn kinh tế và 96 Tổng công ty nhà nước hoạt động theo mô
hình công ty mẹ - con.
Danh sách các tập đoàn kinh tế Việt Nam cho đến năm 2008 có: Bưu Chính –

242.300 nhân viên…
Phần lớn các tập đoàn mạnh thế giới hiện nay là tập đoàn đa quốc gia, tức là
các chi nhánh, công ty con ở nhiều nước trên thế giới. Chẳng hạn, tập đoàn
HENKEL(Đức) có 330 chi nhánh, công ty con ở nước ngoài. Tương tự, số chi
nhánh, công ty con ở nước ngoài của tập đoàn Simens(Đức) là 300, tập đoàn
Roche(Thụy Sĩ): 140, tập đoàn Tractebel(Bỉ):100, tập đoàn Unilever(Anh):90
Các tập đoàn kinh tế đã và đang hoạt động trên thế giới hiện nay đều là những
tập đoàn đa ngành, tức là hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực.
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực là xu hướng có tính quy
luật cùng với sự phát triển của tập đoàn kinh tế. VD: Mitsubishi ban đầu chỉ hoạt
động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng đến nay đã hoạt động trong các lĩnh vực:
khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, ngân hàng, bảo hiểm, ngoại
thương, vận tải…Tập đoàn Petronas(Malaysia) trước hoạt động chủ yếu trong ngành
dầu khí nhưng hiện nay đã hoạt động trong các lĩnh vực: thăm dò, khai thác dầu khí,
lọc dầu, hóa dầu, kih doanh thương mại các sản phẩm dầu khí, hàng hải, kinh doanh
bất động sản, siêu thị và giải trí…
Với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt
động sản xuất kinh doanh và sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và sản
xuất, hiện nay, các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và các viện nghiên cứu
ứng dụng về khoa học, công nghệ tham gia vào các tập đoàn kinh tế ngày càng
nhiều.
-Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sử hữu vốn.
Về cơ cấu tổ chức cho đến nay chưa có 1 văn bản pháp lý của một quốc gia
nào quy định một cơ cấu tổ chức thống nhất cho tập đoàn kinh tế. Bởi lẽ,các tập
đoàn kinh tế được hình thành dần dần trong quá trình phát triển hai hoặc một số
doanh nghiệp hình thành một tập đoàn theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương.
Vấn đề quan trọng nhất cần nhấn mạnh : Tạp đoàn không phải là một doanh
nghiệp, không có tư cách pháp nhân độc lập. Do đó, các mệnh lệnh hành chính
không được sử dụng trong điều hành của tập đoàn. Các doanh nghiệp là thành viên
của tập đoàn đều có pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng

Tại một hội nghị hồi tháng 4-2008 ở Hà Nội, Bộ Tài chính cho biết tính đến
cuối năm 2007, tổng giá trị đầu tư ra ngoài các lĩnh vực kinh doanh chính của 70 tập
đoàn, tổng công ty nhà nước là gần 117.000 tỉ đồng, trong đó đầu tư vào lĩnh vực tài
chính, ngân hàng và bất động sản là hơn 23.400 tỉ đồng.
4.3.Tình hình nợ
Có nhiều số liệu khác nhau và nhiều cách nhìn nhận khác nhau về tỷ lệ nợ vay
trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước mà các tập đoàn kinh tế nhà
nước và các Tổng công ty nhà nước là các chủ thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối về vốn.
Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của
Nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến cuối năm 2007 và nợ của các tập đoàn kinh tế
vẫn trong vòng kiểm soát.
Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước rất cao, cá
biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở hữu. So với mức tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở
hữu của các tập đoàn kinh tế quốc tế là chỉ từ 1 đến 3 lần thì tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở
hữu của các tập đoàn kinh tế Việt Nam nếu được công bố sẽ khiến "thế giới phải giật
mình", có đại biểu quốc hội đặt nghi vấn cho rằng nguyên nhân của việc thiếu rõ
ràng trong bảo lãnh tín dụng, độc quyền, khó kiểm soát nợ của doanh nghiệp nhà
nước, các tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có gốc gác từ lợi ích cục bộ, lợi
ích nhóm.
Hoạt động yếu kém, sử dụng quá nhiều nguồn lực, được quá nhiều ưu ái, ưu đãi kể
cả lúc kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn,cạnh tranh không bình đẳng, không làm
tròn vai trò nòng cốt của nền kinh tế thậm chí đã trở thành là gánh nặng của nền kinh
tế, lũng đoạn thông qua quan hệ, coi trọng lợi ích nhóm, các tập đoàn kinh tế được
xem là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao vào năm 2008
5.Mô hình công ty mẹ - công ty con.
Công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lí độc lập, và nếu công ty con
là công ty có trách nhiệm hữu hạn thì công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần
vốn góp hay cổ phần của mình mà thôi, nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối
các quyết định của công ty con,nên luật pháp nhiều nước bắt buộc công ty mẹ phải
chịu trách nhiệm liên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con.

Vật liệu
tầng nấc trong cơ cấu tổ chức, về mặt lí thuyết, là không giới hạn- công ty me công
ty con,công ty cháu
-Về nguyên tắc, quan hệ công ty mẹ đối với công ty con là trách nhiệm hữu
hạn, còn quan hệ giữa tổng công ty và đơn vị thành viên là trách nhiệm vô hạn.
- Về mặt pháp lí, các đơn vị thành viên của tổng công ty và công ty là những
pháp nhân độc lập chưa đầy đủ ,vì đối với một số hoạt động của đơn vị thành viên,
luật pháp yêu cầu phải có ủy quyền chính thức của doanh nghiệp chủ quản như lĩnh
vực đầu tư,tài chính, tổ chức cán bộ Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ-công ty
con, các doanh nghiệp là những pháp nhân đầy đủ.
-Các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trong mô hình tổng công ty không
phải do tổng công ty quyết định thành lập, mặc dù về mặt pháp lí tổng công ty là chủ
sở hữu.Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ công ty con thì công ty mẹ là một
doanh nghiệp có sản phẩm, có khách hàng, có thị trường.
- Những quy chế, quy định đối với một số lĩnh vực hoạt động của các thành
viên trong tổng công ty thường có tính pháp quy; trong khi đó, những quy chế, quy
định của các thành viên trong công ty mẹ- công ty con hoàn toàn mang tính chất
quản lí.
- Quá trình hình thành tổng công ty cho thấy, theo mô hình tổng công ty thì ít
nhất phải có hai công ty thành viên tồn tại trước khi có tổng công ty, trong khi đó
theo mô hình công mẹ- công ty con thì công ty mẹ thường phải tồn tại trước, sáng
lập hoặc tham gia sáng lập ra công ty con(trừ trường hợp mua lại)
- Trong mô hình hiện hữu, tổng công ty(công ty) là chủ sở hữu của cả sản
nghiệp(cả tài sản có và tài sản nợ) của công ty thành viên,tức vừa sở hữu vốn vừa sở
hữu tài sản (về thực chất) và tài sản (vốn) công ty con là tài sản (vốn) của công ty
mẹ; tron khi đó, theo mô hình công ty mẹ - công ty con ,công ty mẹ chỉ sở hữu phần
vốn đầu tư trong công ty con mà thôi và vốn của công ty con là tài sản của công ty
mẹ(trong đầu tư dài hạn)
- Mô hình tổng công ty- công ty thành viên không cho phép huy động vốn một
cách có hiệu quả, không cho phép tổng công ty(công ty ) thay đổi cơ cấu vốn đầu tư

Mô hình công ty mẹ - công ty con cho phép các doanh nghiệp chủ động hơn
trong việc bố trí và tái bố trí lại cơ cấu đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau theo chiến
lược phát triển của doanh nghiệp bằng việc mua hoặc bán cổ phần của mình trong
các công ty con .
Công ty mẹ - công ty con cho phép một doanh nghiệp huy động vốn để mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách thành lập công ty con mới trong điều
kiện vừa có thể kiểm soát doanh nghiệp mới thành lập một cách hữu hiệu thông qua
cổ phần khống chế, vừa không bị các nhà đầu tư chi phối đối với doanh nghiệp cũ.
Với bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay đang vận hành theo cơ chế thị
trường và trong xu thế hội nhập, cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt hơn.Do hạn
chế về khả năng và nguồn lực, các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế buộc phải hợp
tác với nhau trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như
nghiên cứu phát triển mở rộng về chiều trộng và chiều sâu. Trong đó, một hình thức
hợp tác được các đơn vị doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ưu thích hiện nay là
hợp nhất kinh doanh, nó giúp các đơn vị mở rộng được quy mô, giảm đối thủ cạnh
tranh, đa dạng hóa nghành nghề, mở rộng thị trường
Sử dụng mô hình công ty mẹ - công ty con là phương thức tốt nhất đảm bảo
tính định hướng XHCN của nền kinh tế trong thời kì quá độ đi lên CNXH.
Mô hình công ty mẹ công ty con sẽ phát huy được tính tự chủ sáng tạo của
từng thành viên từ công ty mẹ đến công ty con, hạn chế được sự cạnh tranh không
lành mạnh giữa các công ty trong tập đoàn, do đó tạo nên sức mạnh tập đoàn. Công
ty mẹ một mặt tự chủ xây dựng chiến lược phát triển của mình và của taonf bộ hệ
thống, lựa chọn các hình thức đầu tư, trực tiếp tác nghiệp kinh doanh, mặt khác đầu
tư vốn vào các công ty con và thông qua đó chỉ đạo hoạt động của các công ty con
qua HDQT theo định hướng phát triển của công ty mẹ. Các công ty con đều có tư
cách pháp nhân, tự chủ hoạt động kinh doanh theo định hướng chiến lược của công
ty mẹ, thu hút vốn đầu tư bên ngoài, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh tế
của mình.
Chính những điều đó làm cho các doanh nghiệp thu lợi nhuận ngày càng
nhiều, một tổ chức kinh doanh đạt hiệu qua và tiết kiệm kinh tế cao, một tổ chức

Một số công ty mẹ - công ty con vẫn chưa thông thạo cách điều hành theo cơ
chế mới, có khi vẫn lặp lại cách chỉ huy hành chính mệnh lệnh
Chưa tạo được cơ chế thay đổi đội ngũ cán bộ điều hành, nhất là cán bộ chủ
chốt, khi chuyển sang hoạt động yếu kém, sử dụng quá nhiều nguồn lực, được quá
nhiều ưu ái, ưu đãi kể cả lúc kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, cạnh tranh không
bình đẳng, không làm tròn vai trò nòng cốt của nền kinh tế thậm chí đã trở thành
gánh nặng cho nền kinh tế, lũng đoạn thông qua quan hệ, coi trọng lợi ích nhóm, các
tập đoàn kinh tế được xem là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát vào
năm 2008.
VD: - Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty
lớn của nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến cuối năm 2007 và nợ của các tập đoàn
kinh tế vẫn trong vòng kiểm soát.
Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước rất cao, cá
biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở hữu. So với mức tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở
hữu của các tập đoàn kinh tế quốc tế là chỉ 1 đến 3 lần thì tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ
sở hữu của các tập đoàn kinh tế Việt Nam nếu được công bố sẽ khiến “thế giới phải
giật mình”, có đại biểu quốc hhooij đặt nghi vấn cho rằng nguyên nhân của việc
thiếu rõ ràng trong bảo hành tín dụng, độc quyền, khó kiểm soát nợ của doanh
nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có gốc gác từ lợi ích
cục bộ, lợi ích nhóm.
Ngoài ra, hiện nay đa số các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty ở VN vẫn chưa
triển khai thực hiện hoặc áp dụng chưa triệt để việc lập báo cáo tài chính hợp nhất
theo đúng chuẩn mực kế toán số 25.
5.5.Khả năng vận dụng mô hình công ty mẹ công ty con trong nền
kinh tế Viêt Nam.
5.5.1. Sự cần thiết chuyển các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước sang mô hình
công ty mẹ - công ty con.
Do mở cửa hội nhập nên cần phải tổ chức sáp xếp các doanh nghiệp nhỏ,
manh mún thành những doanh nghiệp lớn để đủ khả năng đối tác cũng như cạnh
tranh với doanh nghiệp nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các

những quy định về quản lí mang tính pháp quy cho riêng đối với việc quản lí doanh
nghiệp nhà nước như hiện nay, mà nó được xác lập theo hợp đồng quản lí – quan hệ
dân sự, lao động.
Cho quyền HDQT, chủ tịch công ty được chủ động quyết định việc thuê giám
đốc nếu xét cân thiết, và theo cơ chế thị trường lao động.
Phải tăng cường công tác tuyên truyền về mô hình công ty mẹ - công ty con
và sự cần thiết phải chuyển đổi mô hình tổng công ty nhà nước sang mô hình công
mẹ - công ty con cho các các cấp, các nghành và nhất là cho cán bộ, công nhân các
doanh nghiệp nhà nước-nơi sẽ chuyển đổi.
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lí cho việc hình thành và phát triển mô hình
công ty mẹ - công ty con từ công ty nhà nước(các vấn đề như: những nội dung chỉ
đạo chuyển đổi mô hình, quy chế tài chính cho các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi,
các chính sách khác ).
Gắn việc chuyển đổi mô hình với việc thay đổi tổ chức, nhân sự để tạo nên
xung lực mới cho doanh nghiệp( thí dụ cho phép hội đồng quản trị thuê giám đốc
điều hành giỏi, đại hội cổ đông sẽ đề nghị phía chủ sở hữu nhà nước đề cử những
cán bộ quản lí mới cho đại hội lưa chọn )
Nghiên cứu xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng khác trong
doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con cho phù hợp với cơ chế mới.
5.5.2. Bước đầu của quá trình áp dụng CTM-CTC ở VN:
Định chế công ty tư nhân của ta mới tồn tại 20 năm. Thoạt đầu , các công ty
do các chủ gia đình nắm giữ trong bối cảnh cầu cao hơn cung của nền kinh tế. Các
ông chủ mở công ty theo kiểu cần đến đâu mở đến đó. Cũng có thể khi công ty ăn
nên làm ra thì cũng chỉ mở những ngành nghề khác nhau trong nội bộ với cơ chế
hạch toán báo sổ. Chẳng cần mẹ con. Các công ty phát triển theo hai cách này đều
gặp hai trở ngại chung và lớn là quản trị và nhan sự.
DNNN đã tồn tại trên 50 năm. Vốn của chúng do một ông chủ duy nhất nắm.
Nhà nước nắm vốn thì mở công ty tùy ý. Khác vối tư nhân, DNNN phải đối phó với
vấn đề hiệu quả kinh doanh. Để giải quyết với quyền lực của mình đã thiết lập các
tổng công ty 90 và 91. Bất kể đến lai lịch hình thành của minh và của thế giới ra

so với năm 2003 vốn điều lệ tăng 125%, doanh thu tăng 120%, lợi nhuận tăng 83%,
nộp ngân sách tăng 112%, thu nhập của người lao động tăng 108%; Công ty
constrexin, năm 2004 so với năm 2003 doanh thu tăng 113%,lợi nhuận tăng 143%,
nộp ngân sách tăng 135%; tổng công ty Đường sông miền nam mới sau một năm
chuyển doanh thu đã tăng 65,5%, lợi nhuận tăng 65%, thu nhập bình quân đầu người
lao động tăng 53%
II. Thực trạng và xu hướng phát triển của tập đoàn kinh tế.
1. Thực trạng của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
Việc xây dựng tập đoàn kinh tế là chủ trương của Đảng và nhà nước nhằm
đua nền kinh tế phát triển cùng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Đảng và Nhà Nước
cũng đã xác định rõ một số lĩnh vực trọng điểm cần phải hình thành tập đoàn kinh tế.
Trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế của mình, Nhà Nước đều thể hiện
quan điểm hình thành các tập đoàn kinh tế mũi nhọn đủ sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Theo đó một số tổng công ty nhà nước trong một số lĩnh vực mũi
nhọn sẽ được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế. Trên thực tế trong năm 2006
đến đầu năm 2007 tám tập đoàn kinh tế quốc gia trong các lĩnh vực mũi nhọn như
bưu chính viễn thông , than khoáng sản, dầu khí , điện lực ,công trình tàu thủy, dệt
may , cao su ,tài chính bảo hiểm đã được thành lập. Đây là những tổng công ty có
quy mô lớn mạng lưới thành viên có quan hệ mật thiết liên doanh hợp tác với nhiều
đối tác. Tuy nhiên trong quá trình thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất
hiện sự lúng túng trong giải quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Các vấn đề
nảy sinh đó là mối quan hệ liên kết giữa các đơn vị trong tập đoàn, cơ chế thực hiện
liên kết , cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (thành phần , quyền , trách nhiệm mối quan
hệ giữa các bộ phận quản lý trong bộ máy tập đoàn), thương hiệu của tập đoàn , quy
mô vốn điều lệ các vấn đề khác để xác lập tập đoàn. Ngay như đơn vị pháp lý của
tập đoàn vẫn còn những ý kiến khác nhau như tập đoàn có hay không có tư cách
pháp nhân, đăng ký hay không đăng ký, có hay không có bộ máy quản lý riêng. Như
vậy, trong những năm qua vẫn còn rất nhiều những quan điểm khác nhau về nguyên
tắc hình thành tập đoàn kinh tế trên cơ sở tổng công ty nhà nước. Việc hình thành
các tập đoàn chỉ mang tính thuần túy thị trường hay chỉ quyết định hành chính hay

hình tập đoàn phát triển .Trong thời gian qua các mô hình tập đoàn phát triển trong
thời gian qua các tập đoàn kinh tế tư nhân cũng đã gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng
, trở ngại trong quá trình hình thành, phát triển. Khó khăn đầu tiên mà các tập đoàn
gặp phải trong thời gian qua là vấn đề về pháp lý, mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân ở
nước ta thời gian qua chưa được thừa nhận. Các tập đoàn phải mang tên không chính
danh như “công ty cổ phần tập đoàn ”hoặc “công ty trách nhiệm hữu hạn tập đoàn” .
Trong các văn bản pháp lý đã ban hành đều chưa tạo được hành lang pháp lý cho
việc hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, trong thời gian tới các khó
khăn này sẽ không còn tồn tại bởi nghị định 139/2007/ND-CP của chính phủ ngày 5
tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh nghiệp. Theo đó,
các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền lực lựa chọn cụm từ “tập đoàn” trong tên riêng
khi đăng ký kinh doanh của công ty mẹ, dù công ty được tổ chức dưới dạng công ty
cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn .Nghị định 139 cũng đã nên rõ tập đoàn
kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định
của luật doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn hoàn toàn do các công
ty thành lập tập đoàn tự thỏa thuận, quyết định . Quyết định này cũng chấm dứt tình
trạng nhiều cơ quan nhà nước luôn phân vân khi đăng ký đầu tư cho doanh nghiệp
có cụm từ tập đoàn trong tên vì không biết doanh nghiệp có đủ tiêu chí đủ năng lực
làm tập đoàn hay không?
Khó khăn thứ hai mà các tập đoàn gặp phải là hiện tại vẫn chưa có một hoạch
định, định hướng cụ thể nào nhằm khuyến khích việc hình thành, hoạt động của mô
hình tập đoàn tư nhân. Các chủ trương hình thành tập đoàn kinh tế tư nhân vẫn mang
tính chung chung. Hệ thống tiêu chí để xác định về tập đoàn đến nay vẫn chưa có,
các nghiên cứu cụ thể để hình thành một chiến lược tổng thể để thúc đẩy sự phát
triển của mô hình mới. Có thể nói rằng những nhân tố mới về tập đoàn kinh tế tư
nhân Việt Nam thời gian vẫn đang hoạt động dò dẫm, chưa có được những định
hướng mang tầm vĩ mô về hoạt động của các tập đoàn. Hệ thống quy định chưa đáp
ứng được nhu cầu phát triển của các tập đoàn .
Khó khăn thứ ba mà các tập đoàn gặp phải chính là những khó khăn tự thân
của các tập đoàn trong quá trình hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Hầu hết các

thể xuất hiện thêm lotte shopping, carefour, tessco và đặc biệt là Wal-Mark .Mới
đây, bốn doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối Việt Nam là Satro Hapro Mart,
Saigon Coop và Phú Thái đã liên kết với nhau để tiến hành hoạt động kinh doanh…
vv

PHẦN 3: KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển kinh tế, các tập đoàn kinh tế VN đã được hình thành
với những đặc trưng cơ bản. Các tập đoàn kinh tế này đã góp phần không nhỏ vào sự
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Đây có thể coi là “tay chèo” chủ lực của con tàu kinh tế VN. Tuy
nhiên, với lịch sử phát triển hàng trăm năm trên thế giới nhưng đối với VN, tập đoàn
kinh tế vẫn còn là mô hình kinh tế khá mới mẻ. Vì vậy, để các tập đoàn kinh tế này
có thể ổn định và phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình kinh
tế thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp thì cần phải quan tâm
đến rất nhiều vấn đề đã nêu ở trên. Hi vọng rằng các tập đoàn kinh tế VN với những
đặc trưng và sự thay đổi về quản lí, hoạt động và điều hành thông qua thực hiện việc
kiểm soát tài chính, kiểm soát các hoạt động kinh doanh sẽ sớm hoàn thiện nhanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status