Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng của các tập đoàn trên thế giới và bài học kinh nghiệm với các tập đoàn kinh tế Việt Nam - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG
CỦA CÁC TẬP ĐOÀN TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM VỚI CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Bích Huệ
Lớp : Anh 4
Khoá : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thế Anh
BTS
Build to stock
Chuỗi cung ứng sản xuất để dự
trữ
CTO
Configure to order
Chuỗi cung ứng định hình theo
đơn hàng
BTO
Build to order
Chuỗi cung ứng sản xuất theo
đơn hàng
ETO
Engineer to order
Chuỗi cung ứng thiết kế theo
đơn hàng
SKU
Stock keeping unit
Đơn vị dự trữ
EOQ
Economic Order Quantity
Mô hình số lượng đơn hàng
kinh tế
QR
Quick response
Phản ứng nhanh
ECR
Efficient consumer resp
Phản ứng khách hàng hiệu quả
VMI

foundation
Cơ sở quản lý giao dịch
ERP
Enterprise resource planning
Hoạch định tài nguyên doanh
nghiệp
RFQ
Request for quote
Yêu cầu báo giá
EDI
Electronic Data Interchange
Trao đổi dữ liệu điện tử
RFID
Radio Frequency Identification
Công nghệ nhận dạng bằng tần
số radio
EPS
Earnings Per Share
Thu nhập trên cổ phần
HVI
High Volume Instrument
Công cụ đo lường quy mô lớn
EDLP
Every day low price
Chiến lược giảm giá hàng ngày
POS
Point of sales
Chỉ thời gian và địa điểm mà tại
đó hoạt động bán hàng xảy ra


excellence in emerging economies, Springerscience-business media,2006,pp
315 74

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỀU, HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I 4
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 4
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 4
1. Giới thiệu chuỗi cung ứng 4
1.1. Khái niệm chuỗi cung ứng 4
1.2. Đặc điểm 6
1.3. Phân loại 7
1.4. Mục tiêu và tầm quan trọng 11
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng 12
2.1. Nhu cầu khách hàng 12
2.2. Quá trình toàn cầu hóa 12
2.2. Vòng đời sản phẩm 13
3. Phân biệt chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị 13
II. XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG 14
1. Khái quát về xây dựng chuỗi cung ứng 14
1.1. Định nghĩa 14
1.2. Đặc tính nổi bật của xây dựng chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn
cầu 15
2. Ý nghĩa của việc xây dựng chuỗi cung ứng 16
3. Quá trình thiết kế chuỗi cung ứng 17
3.1. Cấu trúc chuỗi cung ứng 17
3.1.1 Cơ sở vật chất 17

2. Dell và mô hình “ build to order” 61
2.1. Giới thiệu về tập đoàn Dell corp., Inc 61
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 61
2.1.2. Tình hình kinh doanh gần đây 63
2.2. Chuỗi cung ứng của Dell 65
2.2.1. Tổng quan về chuỗi cung ứng của Dell 65
2.2.2. Công nghệ hỗ trợ thông tin 69
2.3. Đánh giá 70
3. Esquel và chuỗi cung ứng dệt may 71
3.1. Giới thiệu về tập đoàn dệt may Esquel 71
3.2. Chuỗi cung ứng dệt may của Esquel 73
3.2.1. Cấu trúc chuỗi cung ứng 73
3.2.2. Công nghệ hỗ trợ thông tin 80
3.3. Đánh giá 81
II. Bài học kinh nghiệm 81
1. Bài học kinh nghiệm từ Dell và walmart 81
2. Bài học kinh nghiệm từ Esquel 83
CHƢƠNG III THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHUỖI
CUNG ỨNG CHO CÁC TẬP ĐOÀN VIỆT NAM 84
I. Tổng quan về các tập đoàn kinh tế Việt Nam 84
II. Thực trạng xây dựng chuỗi cung ứng của các tập đoàn kinh tế Việt
Nam 90
1. Hiện trạng xây dựng các yếu tố của chuỗi cung ứng 91
1.1. Điểm thuận lợi 91
1.2. Điểm hạn chế 96
2. Cơ hội 99
3. Thử thách 100
III. Giải pháp và đề xuất 101
1. Giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng cho các tập đoàn kinh tế Việt
Nam 101

các nước đang phát triển, dẫn đến sự hình thành của một lớp các tập đoàn mới mà
thành công gắn liền với chuỗi cung ứng như ITC của Ấn Độ, Cemex của Mehico,
Esquel của Trung Quốc… Các chuyên gia trong lĩnh vực này nhận định rằng trong
thế kỷ 21, cuộc cạnh tranh toàn cầu sẽ không còn là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp mà nó sẽ là cuộc cạnh tranh giữa những chuỗi cung ứng.
Sau khi mở cửa thị trường nội địa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
phát triển vượt bậc. Các doanh nghiệp trong nước đã tạo được chỗ đứng trên thị
trường nội địa và đang dần dần thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Với việc chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đang đứng
trước vận hội lớn để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và hội nhập ngày càng sâu

2
rộng vào nền kinh tế thế giới. Nắm bắt cơ hội đó, từ năm 2005, chủ trương xây
dựng tập đoàn kinh tế của nhà nước đã được triển khai với việc hình thành 8 tập
đoàn kinh tế trong những lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước. Với sự đầu tư về
vốn cùng những ưu đãi từ phía nhà nước, các tập đoàn kinh tế nhà nước đã không
ngừng lớn mạnh và thực sự đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, cho đến nay Việt Nam dường như vẫn chưa bắt kịp được với xu
thế phát triển chung của thế giới, khi mà có một thực tế là tại Việt Nam chưa có một
doanh nghiệp hay tập đoàn kinh tế nào tiếp cận và xây dựng thành công một chuỗi
cung ứng. Việc này có thể gây trở ngại cho sự phát triển bền vững trong tương lai
của các doanh nghiệp và tập đoàn Việt Nam đặc biệt là khi gần 90% các doanh
nghiệp nước ta là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính và năng lực quản lý
còn hạn chế . Với vai trò là đầu tàu kinh tế của đất nước, là trụ cột của nền kinh tế
vĩ mô, các tập đoàn kinh tế sẽ là nhân tố tiên phong trong việc tiếp cận chuỗi cung
ứng tại Việt Nam. Vậy câu hỏi đặt ra là các tập đoàn có thể rút ra bài học gì từ
những thành công của các chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn trên thế giới? giải
pháp xây dựng chuỗi cung ứng nào có thể được áp dụng cho các tập đoàn Việt
Nam? Chính do những lý do đó đã thúc dục em lựa chọn đề tài khóa luận “ Kinh
nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng của các tập đoàn trên thế giới và bài học kinh

chuỗi cung ứng. Khóa luận sẽ sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp trên tinh thần lý luận kết hợp thực tiễn.
5. Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận gồm trang, bảng, hình, ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung chính của khóa luận được chia làm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về chuỗi cung ứng.
Chương II: Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng của các tập đoàn trên thế giới và
bài học kinh nghiệm với Việt Nam.
Chương III: Thực trạng và đề xuất xây dựng chuỗi cung ứng cho các tập đoàn kinh
tế Việt Nam.

4
CHƢƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG
1. Giới thiệu chuỗi cung ứng
1.1. Khái niệm chuỗi cung ứng
Trong thời đại kinh doanh điện tử, việc doanh nghiệp chỉ quan tâm đến chất
lượng sản phẩm cung cấp ra thị trường không đảm bảo chỗ đứng cho doanh nghiệp
đó trên thị trường. Để cạnh tranh thành công trong môi trường kinh doanh mới này,
doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như
khách hàng của nó. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp cần quan tâm sâu sắc hơn
đến dòng vận chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, cách thức đóng gói sản
phẩm của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và
những điều mà người tiêu dùng cuối cùng thực sự yêu cầu. Để thực hiện những hoạt
động đó, doanh nghiệp không có cách nào khác là xây dựng chuỗi cung ứng của
riêng nó, thiết lập mối quan hệ, trao đổi thông tin hai chiều giữa doanh nghiệp- nhà
cung cấp, doanh nghiệp- khách hàng và thậm chí là giữa doanh nghiệp với khách
hàng của khách hàng. Những công ty đứng đầu thị trường như Wal-mart hay Dell

cung cấp khác nhau mà chính những nhà cung cấp này lại nhận hàng từ các nhà
cung cấp khác nữa. Ví dụ, nguyên liệu đóng gói bao bì đến từ công ty bao bì Thanh
Tâm trong khi chính công ty này nhận nguyên vật liệu để sản xuất bao bì cho từ các
nhà cung cấp khác. Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ chuỗi cung ứng áp dụng cho một tập
đoàn với các công ty con đặt tại các quốc gia khác nhau. Việc kết hợp một cách
hiệu quả các dòng nguyên liệu, thông tin và tài chính đối với các tập đoàn đa quốc
gia là một nhiệm vụ khó khăn. Nhưng mặt khác quá trình ra quyết định tại các tập
đoàn này lại dễ dàng hơn do các công ty con chịu sự quản lý của cùng một bộ máy
quản lý cấp cao.
Nếu xem xét chuỗi cung ứng dưới hình thức là tập hợp của các dòng lưu
chuyển thì chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức hợp tác chặt chẽ với nhau
để nâng cao dòng thông tin và dòng nguyên liệu giữa nhà cung cấp và khách hàng

1
Hartmut Stadtler, Christoph Kilger, Supply chain management and advanced planning,
Springerscience-business media, 2000, 9

6
tại mức chi phí thấp nhất với tốc độ nhanh nhất
2
. Mục tiêu then chốt của một chuỗi
cung ứng là sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho
chính nó. Khách hàng là thành tố tiên quyết của mỗi chuỗi cung ứng. Hoạt động của
chuỗi cung bắt đầu với một yêu cầu của khách hàng và kết thúc khi khách hàng
thanh toán đơn đặt hàng của họ. Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản
phẩm hoặc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất đến nhà phân
phối đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng. Điều quan trọng là
phải mường tượng dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của
chuỗi này. Việc sử dụng thuật ngữ “mạng lưới” cho thấy rằng các doanh nghiệp
tham gia vào chuỗi cung không chỉ là những doanh nghiệp thực hiện các hoạt động

tô, các nhà sản xuất ô tô thường đặt điều kiện với các nhà cung cấp. Hay như IBM
hay Dell lấn át các nhà cung cấp linh kiện cho họ. Ngoại trừ những thành viên có
quyền lực trong chuỗi cung ứng, thật khó có thể chỉ ra một chuỗi cung ứng mà các
thành viên của nó hợp tác với các điều khoản công bằng.
Trong chuỗi cung ứng, sự vận động của các dòng vật chất và dòng thông tin
cũng là một đặc điểm khác biệt. Dòng thông tin di chuyển ngược chiều chuỗi cung
ứng trong khi dòng vật chất thì di chuyển xuôi chiều chuỗi cung. Thông tin được
truyền từ phía khách hàng đến nhà bán lẻ, nhà sản xuất , công ty cung cấp dịch vụ
vận tải, nhà cung cấp nguyên vật liệu. Đó là cách thức mà một hệ thống sản xuất
vẫn hoạt động trong nhiều thập niên. Điều khác biệt trong chuỗi cung là việc thông
tin được truyền đến các thành viên một đồng thời và nó cần thiết cho quá trình ra
quyết định riêng của họ.
1.3. Phân loại
Có rất nhiều tiêu chí để có thể phân loại chuỗi cung ứng nhưng có hai tiêu
chí được coi là cơ bản và tiêu biểu nhất. Thứ nhất là dựa vào sự tính toán thời điểm
thực hiện hoạt động có liên quan đến nhu cầu của khách hàng cuối cùng. Thứ hai là
dựa vào cấu trúc của chuỗi cung ứng.
1.3.1. Tiêu chí thứ nhất
Căn cứ vào sự tính toán thời điểm thực hiện hoạt động liên quan đến nhu cầu của
khách hàng cuối cùng, chuỗi cung ứng được chia thành ba loại là chuỗi cung ứng
đẩy, chuỗi cung ứng kéo, và chuỗi cung ứng đẩy- kéo.
a) Chuỗi cung ứng đẩy:
Trong loại chuỗi cung ứng này, các quyết định liên quan đến sản xuất và phân phối
đều dựa trên những dự báo trong dài hạn. Điển hình là các nhà sản xuất đơn thuần

8
dựa vào đơn đặt hàng của các nhà bán lẻ để dự báo về nhu cầu của khách hàng. Do
đó chuỗi cung ứng đẩy phải mất một khoảng thời gian dài để có thể phản ứng trước
sự thay đổi của thị trường. Hiệu ứng Bullwhip là hiện tượng phổ biến trong chuỗi
cung ứng đẩy. Đặc điểm của hiệu ứng này là sự biến động trong đơn hàng mà nhà

Trên thực tế, nhu cầu đối với một loại linh kiện là tập hợp nhu cầu của nhiều sản
phẩm hoàn chỉnh có sử dụng đến nó. Căn cứ vào nguyên tắc tổng hợp nhiều dự
đoán sẽ chính xác hơn, sự không chắc chắn của cầu đối với linh kiện sẽ nhỏ hơn sự
không chắc chắn của cầu đối với sản phẩm cuối cùng. Điều này đảm bảo sự giảm số
lượng tồn kho an toàn.
1.3.1) Tiêu chí thứ hai
Căn cứ theo cấu trúc, chuỗi cung cứng được chia ra làm bốn loại là chuỗi cung ứng
sản xuất để dự trữ (Build-to-stock), chuỗi cung ứng định hình theo đơn hàng
(Configure-to-order), chuỗi cung ứng sản xuất theo đơn hàng (Build-to-order),
chuỗi cung ứng thiết kế theo đơn hàng (Engineer-to-order).
a) Chuỗi cung ứng sản xuất để dự trữ ( BTS):
Sản phẩm được sản xuất với lượng nguyên vật liệu tiêu chuẩn trước khi có đơn
hàng của khách hàng. Chuỗi cung ứng BTS có thời gian đáp ứng yêu cầu khách
hàng ngắn nhất. Khách hàng đặt hàng và được đáp ứng gần như ngay lập tức từ các
giá hàng hay nhà kho thành phẩm của các cửa hàng bán lẻ. Bởi khách hàng đánh giá
cao khả năng đáp ứng nhanh chóng nên các sản phẩm được khách hàng mua theo
cảm hứng thường được cung cấp thông qua chuỗi cung ứng BTS. Nhưng đổi lại sự
đáp ứng nhanh chóng, chuỗi cung ứng BTS mất tính chọn lọc. Khách hàng chỉ chọn
được những gì có sẵn trên kệ hàng do nhà sản xuất cung cấp. Các phụ tùng, linh
kiện quan trọng như linh kiện máy bay thường được cung cấp dưới chuỗi cung ứng
loại này. Nhược điểm nữa của chuỗi cung ứng BTS là do sản phẩm được sản xuất ra
chủ yếu dựa vào dự đoán nên mọi sai sót trong dự đoán ở bất kỳ một khâu nào cũng
ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi cung ứng. Nếu như sản phẩm lâm vào tình trạng lỗi
thời, hay bị lỗi, thì việc thu hồi lại với chi phí rất cao là điều bắt buộc. Khi đó nếu
lượng tồn kho sản phẩm quá lớn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh tất cả các
thành viên, hơn nữa còn gây tốn kém chi phí tái sản xuất. Còn với trường hợp lượng
dự trữ linh kiện quá thấp, thời gian thực hiện đơn hàng của toàn bộ chuỗi cung ứng
sẽ bị kéo dài.

10


11
Sản phẩm được sản xuất, lắp ráp với những linh kiện và thiết kế riêng biệt. Sản
phẩm trong chuỗi cung ứng loại này mang tính cá biệt hóa cao và thường được
dùng cho những nhu cầu cụ thể. Thời gian để thực hiện đơn hàng là tương đối lâu.
Bên cạnh đó, hoạt động logistics và lập kế hoạch ngược dòng chuỗi cung ứng
thường phức tạp do chúng chỉ gắn với một đơn hàng duy nhất.
1.4. Mục tiêu và tầm quan trọng
Mục tiêu của chuỗi cung ứng là hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống;
tổng chi phí của toàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên
vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm, cần phải được tối thiểu hóa. Nói
cách khác, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ
thống. Giá trị tạo ra của chuỗi cung cấp là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm
cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung cấp dùng vào việc đáp ứng
nhu cầu của khách hàng. Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên
quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà
khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của
cả chuỗi cung ứng. Ví dụ, khách hàng khi mua máy tính từ công ty Dell phải trả
2.000 USD, đại diện cho doanh thu mà chuỗi cung ứng nhận được. Dell và các giai
đoạn khác của chuỗi cung ứng phát sinh chi phí để thu thập thông tin, sản xuất bộ
phận và sản phẩm, lưu trữ chúng, vận tải, dịch chuyển tài chính…Sự khác biệt giữa
2.000 USD mà khách hàng trả và tổng chi phí phát sinh trong chuỗi cung ứng trong
việc sản xuất và phân phối máy vi tính đến khách hàng đại diện cho lợi nhuận của
chuỗi cung ứng. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận được chia sẻ
xuyên suốt chuỗi. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công
của chuỗi cung cấp càng lớn. Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo lường
dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lượng lợi nhuận ở mỗi giai
đoạn riêng lẻ.
Một chuỗi cung ứng hiệu quả thực sự là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp,
quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh. Chất lượng của chuỗi cung ứng ảnh

ngày càng trở nên phổ biến.
Sự phát triển của thị trường toàn cầu có hai tác động chính đến chuỗi cung ứng. Thứ
nhất là chuỗi cung ứng cũng mang tính toàn cầu. Điều này mang lại nhiều lợi ích
như khả năng cung cấp nguyên vật liệu đa dạng với mức giá hợp lý từ các nhà cung

13
cấp nước ngoài. Tuy nhiên, toàn cầu hóa lại tạo ra sức ép cho chuỗi cung ứng bởi
khi đó các cơ sở vật chất sẽ bị phân tán, việc phối hợp hoạt động gặp nhiều khó
khăn. Tác động thứ hai là sự gia tăng cạnh tranh, trước kia doanh nghiệp chủ yếu
kinh doanh độc quyền trong sự bảo hộ của nhà nước thì nay họ sẽ phải đối mặt với
sự cạnh tranh quyết liệt các doanh nghiệp nước khác. Điều đó vừa là động lực để
tăng lợi nhuận của toàn chuỗi cung ứng vừa là áp lực buộc các thành viên trong
chuỗi phải hợp tác tốt hơn để đạt được sự cân bằng cần thiết.
2.2. Vòng đời sản phẩm
Ngày nay, có nhiều sản phẩm mà vòng đời của chúng chỉ được đo bằng
tháng chứ không phải bằng năm như theo tiêu chuẩn cũ. Điều này không chỉ xảy ra
với các sản phẩm khác biệt hóa, như máy tính bây giờ vòng đời sản phẩm rút ngắn
xuống còn vài tháng, thậm chí nhiều nhà sản xuất ô tô đã giảm vòng đời sản phẩm
của chúng từ 5 năm xuống 3 năm. Điều này khiến cho việc xây dựng, quản trị chuỗi
cung ứng gặp rất nhiều khó khăn vì chuỗi cung ứng vừa phải thích nghi với việc sản
xuất và phân phối sản phẩm mới vừa phải giải quyết được sự không chắc chắn của
nhu cầu sản phẩm. Vòng đời sản phẩm bị rút ngắn làm gia tăng tính không chắc
chắn trong khi đó lại làm giảm cơ hội xây dựng được chuỗi cung ứng phù hợp với
chiến lược kinh doanh.
3. Phân biệt chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị của một doanh nghiệp theo phát biểu của Micheal Porter bao
gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi
được cấu hình một cách thích hợp. Một chuỗi giá trị hiệu quả sẽ tạo ra nhiều lợi
nhuận.Qua định nghĩa về chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, chúng ta cũng đã phần nào
thấy được sự liên hệ giữa chúng. Nhìn chung, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đều là

thiết kế, xây dựng chuỗi cung ứng mang tính chất quyết định đến sự thành công sau
này của chuỗi cung ứng.
Thiết kế chuỗi cung ứng là quá trình xác định cơ sở hạ tầng của một chuỗi
cung ứng- nhà máy, trung tâm phân phối, loại hình vận tải, quá trình sản xuất… sẽ
được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Đây là quá trình thuộc phạm vi
chiến lược trong dài hạn (Theo cuốn The Practice Of Supply Chain Management-
Hau Lee, Terry Harrison, John Neale- xuất bản 2003 của Springer science- business
media, trang 4).

15
1.2. Đặc tính nổi bật của xây dựng chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn cầu
Các quyết định về xây dựng chuỗi cung ứng thường được đưa ra trong môi
trường chứa đầy tính bất ổn, tính không hoàn hảo của thông tin và những mục tiêu
trái ngược đan xen lẫn nhau. Những khía cạnh dưới đây là một phần trong môi
trường đó:
Tái thiết chuỗi cung ứng: Trên thực tế, các quyết định xây dựng hay thiết kế
chuỗi cung ứng hiếm khi được áp dụng cho trường hợp xây dựng một chuỗi hoàn
toàn mới. Phần lớn vấn đề về thiết kế, xây dựng là kết quả của các cuộc mua lại, sáp
nhập, giảm quy mô hay chuyển đổi lớn trong chiến lược tập đoàn. Trong những
trường hợp đó, câu hỏi đặt ra tập trung vào việc hợp lý hóa chuỗi cung ứng để ứng
phó với thay đổi lớn về cơ sở hạ tầng chuỗi cung ứng.
Một quá trình mới: Nhiều tập đoàn không có kinh nghiệm trong việc đáng giá
sự thay đổi đối với chuỗi cung ứng khi các thước đo được áp dụng cho toàn bộ chuỗi.
Tác động ảnh hưởng đến nhiều tổ chức trong chuỗi cung ứng: Thay đổi trong
thiết kế chuỗi cung ứng thường dẫn đến tác động lan rộng ra toàn bộ chuỗi. Thông
thường thì không có một cá nhân hay tổ chức nào có kinh nghiệm trong việc đo
lường hay đánh giá những tác động này. Bên cạnh đó, tác động tích cực nhất của việc
xây dựng chuỗi cung ứng thường xuất hiện tại ranh giới của các đơn vị thành viên.
Động cơ của từng tổ chức thành viên có thể cản trở sự thay đổi: Kết quả của
việc xây dựng chuỗi cung ứng yêu cầu phải có sự thay đổi mà đôi khi sự thay đổi đó

khả năng giảm chi phí tối ưu nhưng trước đó chuỗi cung ứng cần phải được thiết kế
hiệu quả. Điều này sẽ cung cấp cho công việc quản trị những công cụ cần thiết như
là hệ thống thông tin, mạng lưới vận tải, cơ sở vật chất…để đưa ra những quyết
định quản lý đúng đắn.Ví dụ như với hệ thống công nghệ thông tin, nhà quản trị có
thể nắm bắt được tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, của các đối tác khác
trong chuỗi cung ứng, những xu hướng thay đổi của thị trường qua đó đưa ra những
quyết định quản lý hoạt động hàng ngày hay quyết định chiến lược một cách kịp
thời giúp giảm thiểu rủi ro và phát triển hoạt động kinh doanh.
Hơn nữa, trong một chuỗi cung ứng, mục tiêu của các tổ chức thành viên
không chỉ là đáp ứng nhu cầu khách hàng trực tiếp mà còn là cung cấp sản phẩm
phù hợp với khách hàng cuối cùng. Với dòng thông tin xuôi chiều và ngược chiều,
các doanh nghiệp sẽ luôn nắm bắt được phản hồi từ phía khách hàng về sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status