ôn tập văn nghị luận - Pdf 17

Công thức làm văn nghị luận
Trong thể làm văn nghị luận thì 2 môn Chứng Minh và Giải Thích là nền tảng cho các
loại còn lại. Binh luận hay Phân tích thực chất cũng là sự kết hợp pha trộn giữa Chứng
Minh và Giải Thích. Khi Phân tích thì phầngiải thích nặng hơn chứng minh, khi Bình
luận thì phần chứng minh nặng hơn giải thích. Do đó, nắm rõ phương pháp Chứng
Minh và Giải Thích sẽ giúp cho việc làm văn trở nên dễ dàng hơn.
Cơ bản của phươngpháp này là các công thức dễ nhớ, dựa vào các công thức này mà
ngườiviết có thể tìm ý, xây dựng khung ý tưởng dồi dào cho bài viết.
Làm văn ai cũng biết có 3 phần Mở bài - Thân bài - Kết Luận
1. Mở bài: là chìa khóa cho toàn bộ bài văn, phần mở bài gồm có 3 phần:
Gợi- Đưa - Báo : tức là GỢI ý ra vấn đề cần làm - sau khi gợi thì ĐƯA vấnđề ra - cuối
cùng là BÁO - tức là phải thể hiện cho biết mình sẽ làm gì.
Khó nhất là phần gợi ý dẫn dắt vấn đề, có 3 cặp /6 lối để giải quyết như sau:
- Tươngđồng / tương phản : đưa ra một vấn đề tương tự/hoặc trái ngược để liêntưởng
đến vấn đề cần giải quyết, sau đó mới tạo móc nối để ĐƯA vấn đềra, cách này thường
dùng khi cần CM-GT-BL về câu nói, tục ngữ, suy nghĩ.
- Xuất xứ / đại ý: dựa vào thông tin xuất xứ/ đại ý để dưa vấn đề ra, cách này thường
dùng cho tác phẩm/tác giả nổi tiếng
- Diễn dịch/ quy nạp: cách này thì cũng khá rõ về ý nghĩa rồi.
2. Thân bài
Thân bài thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn đề
chung. Để tìm ý cho phần thân bài thì có thể dùng các công thức sauđâyđể đặt câu hỏi
nhằm tìm ý càng nhiều và dồi dào càng tốt, sau đó cóthể sử dụng toàn bộ hoặc một
phần ý tưởng để hình thành khung ý cho bàivăn:
Đối với Giải thích: Gì - Nào - Sao - Do - Nguyên - Hậu
Đối với Chứng Minh: Mặt - Không - Giai - Thời - Lứa
2.1 Đối với Giải thích: Gì - Nào - Sao - Do - Nguyên - Hậu
Gì: Cái gì, là gì
Nào: thế nào
Sao: tại sao
Do: do đâu

Nguyễn Dữ là " Truyền kì mạn lục ", gồm 20 truyện viết đan xen giữa biền văn và
thơ ca .
2/ Chủ đề của truyện " Chuyện người con gái Nam Xương " : thể hiện niềm cảm
thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt , đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống
của người phụ nữ VN dưới chế độ PK.
3/ Tóm tắt truyện : Câu chuyện kể về Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam
Xương, tính tình nết na thuỳ mị. Cô lấy chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì
chàng phải đi lính . Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ chồng già và nuôi con nhỏ . Để dỗ
con, nàng thường chỉ bóng mình trên tường và bảo đó là cha nó . Khi Trương Sinh về
thì con đã biết nói. Đứa bé ngây thơ nói với Trương sinh rằng cha nó đêm đêm vẫn
đến nhà . Trương Sinh sẵn tính ghen, nghi ngờ vợ không chung thuỷ, mắng nhiếc và
đuổi đi. Vũ Nương giãi bày không được. Hàng xóm biện bạch cũng không xong.
Phẫn uất, Vũ Nương chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn . Nàng được tiên rùa Linh Phi rẽ
nước cho xuống sống dưới thuỷ cung . Khi hiểu ra nỗi oan của vợ thì sự đã rồi .
Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng . Vũ Nương hiện về nói lời từ biệt rồi biến
mất .
II/ Đề văn tham khảo :
Đề 1 : Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương
Dàn bài :
1/ Mở bài : Ca dao có câu " Thân em như hạt mưa sa , hạt vào giếng ngọc hạt ra
ruộng lầy " . Câu ca dao trên như tiếng than ai oán cho thân phận của người phụ nữ
dưới chế độ phong kiến . Họ là những người có nhiều vẻ đẹp đáng được trân trọng
nhưng số phận của họ thì luôn chịu phải những đắng cay oan nghiệt . Với " Chuyện
2
người con gái Nam Xương " , Nguyễn Dữ- một nhà văn nổi tiếng ở thế kỉ 16 đã thể
hiện niềm thương cảm sâu sắc cho cuộc đời bất hạnh của những kiếp hồng nhan trong
xã hội PK nam quyền .
2/ Thân bài:
* Cảm nhận chung : Câu chuyện về số phận bất hạnh của Vũ Thị Thiết vẫn ám ảnh
người đọc . Đó là sự xót thương, thông cảm cho cuộc đời người phụ nữ đức hạnh,

* Khái quát lại phần I và chuyển ý : Tác giả tập trung làm nổi bật những phẩm chất
quí báu của Vũ Nương . Nàng không chỉ thuỳ mị Nàng xứng đáng được hưởng
một hạnh phúc trọn vẹn . Nhưng nàng lại chịu những đắng cay , oan trái , càng
cay đắng và chua xót hơn khi những nỗi oan ấy lại do chính những người thân yêu
nhất của nàng gây ra .
b/ Nỗi oan của Vũ Nương : Trương Sinh trở về bình an như ước nguyện của nàng ,
nhưng giấc mộng xum họp cùng thú vui nghi gia nghi thất lại từ đây mà tan vỡ .
3
+ Trương Sinh nghi ngờ vợ : Đứa con không nhận cha " Ô hay, ông cũng là cha tôi
ư , ông lại biết nói , chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Trương Sinh
gặng hỏi, Đản thông tin thêm " Có một người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi
cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả ". Lời nói ngây thơ
vô tình của con trẻ đã làm nảy sinh mối nghi ngờ trong lòng con người vốn qua
đa nghi, Trương Sinh đinh ninh vợ hư hỏng .
+ Vũ Nương chết oan khuất : Nàng van xin,giãi bày không được , hàng xóm biện
bạch cũng không xong . Nàng bị chồng cho là thất tiết " la um cho hả giận " rồi "
mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi ".Vũ Nương mất tất cả " chồng con rẫy bỏ tiếng
chịu nhuốc nhơ " . Nàng phải chọn cái chết để giãi tỏ lòng trong sạch
+ Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương :
Trực tiếp : Lời nói ngây thơ vô tình của bé Đản, sự đa nghi thái quá của Trương
Sinh
Gián tiếp : Chiến tranh phong kiến liên miên dẫn đến sự xa cách
Sâu xa : Chế độ PK nam quyền với nhiều hủ tục khắt khe trói buộc người phụ
nữ , dung túng cho sự hồ đồ, tàn nhẫn của người đàn ông
+ Liên hệ mở rộng : Phụ nữ không được tự quyết định số phận của mình , luôn chịu
sự lệ thuộc vào đàn ông ( Dẫn chứng bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương ), hoặc
phải chịu sự oan khuất ( cái chết của Vũ Nương ) . Khi Trương Sinh tỉnh ngộ thì đã
muộn màng .
c/Vũ Nương dưới thuỷ cung :
* Nhận xét chuyển ý: Trong hoàn cảnh xã hội PK đang cơn khủng hoảng, thì cái chết

II/ Đề văn tham khảo :Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung
1/ Mở bài : Ngô gia văn phái là một nhóm tác giả rất trung thành với vua Lê . Nếu
xét theo quan điểm PK thì vua Quang Trung là kẻ " nghịch tặc " . Thế nhưng trong "
Hoàng Lê nhất thống chí " thì hình ảnh Quang Trung- Nguyễn Huệ lại hiện lên thật
oai phong lẫm liệt với tài cầm quân " bách chiến bách thắng " và nhiều phẩm chất tốt
đẹp khác. Điều đó một phần bởi triều đình nhà Lê đã quá suy yếu, mục nát , mặt khác
có thể chính tài năng và đức độ của vua Quang Trung đã làm thay đổi quan điểm của
nhóm tác giả này , và hình ảnh Quang Trung cùng chiến công hiển hách của ông được
Ngô gia văn phái thể hiện trong tác phẩm một cách chân thực và rõ nét .
2/ Thân bài :
- Đoạn trích thuộc hồi 14 của tác phẩm . Phần đầu đoạn trích cho thấy vua Quang
Trung là người mạnh mẽ, quyết đoán nhưng không hề độc đoán, chuyên quyền .
( Lắng nghe ý kiến thuộc hạ, lên ngôi vua để giữ lòng người rồi mới xuất quân ra
Bắc , hỏi người Cống sĩ ở Nghệ An về việc đánh quân Thanh ntn , chứng tỏ ông rất
quan tâm đến ý dân, lòng dân .)
- Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng hết sức thuyết phục: vừa khéo léo, mềm
mỏng lại vừa kiên quyết, hợp tình, hợp lí ( nói với binh sĩ ông cho họ ngồi, lời nói
giản dị, dễ hiểu, lấy lịch sử để nêu gương ,tuyên bố sẽ trừng phạt những kẻ ăn ở hai
lòng)
- Cách ứng xử với các tướng lĩnh mềm mỏng mà kiên quyết : Khi đến Tam Điệp , Sở
và Lân mang gươm tren lưng xin chịu tội , ông thẳng thắn chỉ ra tội của họ nhưng
cũng nói rõ họ là người có công lớn trong việc bảo toàn lực lượng , đợi thời cơ .
- Lời nói, việc làm của vua Quang Trung hợp tình, hợp lí và hợp lòng người : mềm
dẻo, kiên quyết, xét đúng công, đúng tội , đặt lợi ích của quốc gia và của dân chúng
lên trên hết , khiến binh sĩ cảm phục, hết lòng chống giặc.
- Tài dụng binh như thần : Việc tuyển quân, cuộc hành quân tấn công thần tốc của
vua Quang Trung, lời hứa trước lúc xuất quân chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng, tài
thao lược, xử trí nhạy bén, mưu trí ( đảm bảo bí mật hành quân, nghi binh tấn
cônglàng Hà Hồi , dùng ván phủ rơm ướt để tấn công đồn Ngọc Hồi ) . tài dùng binh
khôn khéo đó khiến quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, dẫn tới sự thất bại thảm hại của

Kim Trọng tìm đến trọ học ở gần nhà Kiều . Hai người gặp nhau và tự nguyện đính
ước .
- Gia biến và lưu lạc: Kim Trọng về quê chịu tang chú .Gia đình Kiều bị vu oan, cha
và em trai nàng bị bắt . Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng rồi quyết định bán
mình để cứu cha và em .Không ngờ, Kiều bị bọn Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà lừa
gạt , đẩy vào lầu xanh. nàng được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng, cứu
thoát. Nhưng nàng lại bị Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh ghen tuông,đầy đoạ đành
phải trốn đến nương nhờ cửa Phật . Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà- một kẻ
buôn người như Tú Bà. Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ 2. Rồi nàng gặp Từ Hải - một
anh hùng đầu đội trời chân đạp đất cứu thoát , lấy nàng làm vợ và giúp nàng báo ân
báo oán .Vì mắc lừa tên tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến nên Từ Hải bị giết. thuý
Kiều phải hầu đàn, hầu rượu cho Hồ tôn Hiến và bị ép gả cho tên thổ quan. Đau đớn,
tủi nhục, nàng trẫm mình xuống sông Tiền Đường nhưng sư Giác Duyên lại cứu lần
thứ hai và gửi nàng nơi cửa Phật .
- Đoàn tụ: Kim Trọng trở lại tìm Kiều . Nghe tin Kiều bán mình, chàng vô cùng đau
xót .Tuy kết duyên với vân nhưng chàng không thể nào quên mối tình đầu say đắm.
6
Chàng lặn lội đi tìm Kiều .Nhờ gặp Giác Duyên , Kim - Kiều gặp nhau, gia đình đoàn
tụ sau 15 năm Kiều lưu lạc. Chiều ý mọi người, Kim- Kiều nối lại duyên xưa nhưng
họ cùng nguyện ước" Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy " .
III/ Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều :
1/ Giá trị nội dung : Hiện thực và nhân đạo
- Hiện thực:
Là bức tranh hiện thực về xã hội bất công, tàn bạo , đặc biệt là ma lực đồng tiền
Phơi bày nỗi thống khổ của người lương thiện đặc biệt là người phụ nữ
- Nhân đạo: Là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người nhất là
người PN
Tiếng nói lên án , tố cáo những thế lực xấu xa
Tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát
vọng chân chính của con người như quyền sống, quyền tự do, công lí và hạnh phúc

7
hơn nỗi niềm cô đơn, buồn tủi của Kiều khiến nàng thêm bẽ bàng chua xót :
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya. Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”
Cụm từ “mây sớm đèn khuya” là chỉ thời gian khép kín. Khuya và sớm, đêm và ngày,
Kiều lẻ loi trơ trọi chỉ biết làm bạn với mây và đèn . Có thể nói đây là lúc nàng cô đơn
tuyệt đối.Trong xúc cảm, trước hết, nàng nhớ đến Kim Trọng. Nàng hình dung ra
người yêu đang sầu tư ngóng đợi. Có lẽ hơn lúc nào hết, trong lúc này, Kiều thương
Kim Trọng vô hạn. Trong tình thương ấy có một chút ân hận , nàng cảm thấy như
mình có lỗi với chàng. Để chàng phải ngày đêm trông ngóng, đau khổ, mòn mõi “rày
trông mai chờ”, Kiều xót xa, ân hận như một kẻ phụ tình. “Tưởng người dưới nguyệt
chén đồng. Tin sương luống những rày trông mai chờ”.Càng thương nhớ người yêu ,
càng tiếc nuối mối tình đầu không trọn vẹn, Kiều càng thấm thía tình cảnh bơ vơ nơi
đất khách quê người của mình và càng hiểu tấm lòng sắt son của mình đối với chàng
Kim sẽ không bao giờ phai nhạt. “Bên trời góc bể bơ vơ. Tấm son gột rửa bao giờ cho
phai”.
Với người yêu, nàng nhớ thương nuối tiếc . Còn với cha mẹ, Kiều xót xa thương nhớ
khôn cùng “Xót người tựa cửa hôm mai . Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa. Có khi gốc tử đã vừa người ôm”
Nỗi nhớ thương ấy của Kiều mới cảm động làm sao . Kiều quả là một người con hiếu
kính cha mẹ . Tuy đã bán mình cứu cha và em khỏi cảnh ngục tù nhưng Kiều vẫn thấy
mình chưa trọn đạo làm con . Nàng hình dung ra bóng song thân già yếu đang ngày
đêm “tựa cửa” ngóng trông mình và xót xa tự nghĩ ai sẽ là người thay mình chăm sóc
cha mẹ. Chỉ với bốn câu thơ độc thọai nội tâm, tác giả đã thể hiện một cách sinh động
và đầy xúc cảm tấm lòng hiếu thảo của Kiều.Trong đọan thơ này , tài năng của thi hào
Nguyễn du còn thể hiện ở chỗ đã đặt tình trước hiếu khi viết về tâm trạng Kiều. Để
nàng nhớ người yêu trước rồi mới nhớ đến cha mẹ. Điều này thật chuẩn xác và khách
quan vì đối vơi cha mẹ Kiều đã tự bán mình, như vậy cũng đã đền đáp được một phần
chữ hiếu, công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Còn đối với Kim Trọng, Kiều đã
thấy mình lỗi hẹn như một người bạc tình: “Kim lang ơi, hỡi Kim lang. Thôi thôi
thiếp đã phụ chàng từ đây” Cái tinh tế trong tâm lý nhân vật mà Nguyễn Du nhận ra

động lòng người .
Mã Giám Sinh mua Kiều
" Trong tay có sẵn đồng tiền
Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì "
( Nguy ễn Du- Truy ện Ki ều )
Quả là trong truyện Kiều , ma lực đồng tiền thật vô cùng ghê gớm . Vì tiền , con
người có thể đánh mất lương tri. Cũng vì tiền , con người có thể bất chấp mọi thủ
đoạn, sẵn sàng chà đạp lên tâm hồn và thể xác của những người lương thiện . Đoạn
trích Mã Giám Sinh mua Kiều đã vạch trần bộ mặt của những kẻ hám tiền , bất
lương , xảo trá đó , đồng thời thể hiện nỗi xót xa thương cảm trước tình cảnh đáng
thương tội nghiệp , nỗi ê chề, nhục nhã trong tai họa bất hạnh đầu tiên của cuộc đời
Kiều.:
Sau khi gặp gỡ, đính ước cùng Kim Trọng thì thình lình gia đình Kiều gặp tai họa.
Cha và em bị bắt bớ, hành hạ. Không đành lòng để gia đình tan nát, nàng đã tự
nguyện bán mình để lấy tiền lo lót cho bọn tham quan để chuộc cha và em ra khỏi
vòng lao lý. Chẳng may, kẻ đến mua nàng lại là Mã giám sinh, một tên buôn người .
Xuất hiện trong vai một chàng sinh viên đi lấy vợ lẽ, Mã giám sinh đến nhà Kiều đển
dạm hỏi Kiều qua lễ “vấn danh”. Hắn là người phương xa, cả quê quán, lí lịch đều
không rõ ràng. Tuy tuổi đã ngoài bốn mươi nhưng hình thức diện mạo vẫn như trai lơ,
bảnh chọe (Quá niên tạc ngoại tứ tuần. Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao).
Hỗ trợ cho gã "trai lơ" ấy còn có cả một đám tôi tớ lao xao nhâng nháo đi theo. Tất
cả đều được mời vào nhà một cách trang trọng . Thế nhưng ngay từ phút đầu tiên, Mã
đã không giấu được bộ mặt thật của mình. Đặc biệt với cử chỉ thô lỗ, không văn hoá
“Ghế trên ngồi tót sổ sàng”. Chỉ với từ “ngồi tót, tác giả đã vạch mặt gã cho mọi
người thấy rõ đó không phải là “giám sinh” gì cả mà chỉ là một tên vô học, thiếu lịch
sự, thiếu văn hoá, một tên con buôn đúng nghĩa “buôn thịt bán người” .
Tiếp đến là cách Mã nhìn, ngắm Kiều. Không phải là cách thức, tâm trạng của người
9
đi “xem mặt vợ” mà là cách nhìn, xem xét và đánh giá một một mòn hàng “đặc biệt”.
Hắn đã “đắn đo cân sắc cân tài. Ép cung đàn nguyệt, thử bài quạt thơ”. Hắn đã nhấc

tài ấy càng được ông thể hiện một cách đặc sắc . Trong truyện Kiều, thiên nhiên bốn
mùa đều được ông miêu tả với những đặc trưng rõ nét . Cảnh mùa xuân cũng là một
trong những bức tranh thiên nhiên như thế . Cảnh ngày xuân nằm ở phần đầu của
truyện. Đây là đoạn tiếp liền theo đoạn tả vẻ đẹp hai chị em Kiều. Đoạn này tả cảnh
chị em Kiều du xuân trong tiết Thanh minh. Đó cũng là một nét đẹp lễ hội ngày xuân
Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân . Một bức tranh xuân tuyệt tác:
“Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. ”
Ngày xuân qua đi nhanh như chiếc thoi dệt vải trong khung cửi .Câu thơ này vừa diễn
tả không khí rộn ràng, tươi sáng của cảnh vật trong mùa xuân đồng thời thể hiện tâm
10
trạng nuối tiếc ngày xuân trôi qua nhanh quá. Như thế hai câu đầu vừa nói về thời gian
mà còn gợi tả không gian mùa xuân. Hai câu còn lại là một bức tranh thiên nhiên tuyệt
đẹp.
“Cỏ non xanh tận chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Bát ngát trải rộng đến tận chân trời là thảm cỏ non tơ xanh rợn. Đó chính là gam màu
nền của bức tranh ngày xuân tươi đẹp. Trên nền thảm cỏ xanh ấy điểm thêm vài bông
lê trắng. Sự phối hợp màu sắc của bức tranh thật hài hòa.Không có gì tuyệt vời hơn
thế . Màu xanh non tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, cho sức sống đang lên , còn
màu trắng là biểu tượng của sự trong trắng tinh khiết . Tất cả cho thấy ngày xuân ở
đây thật khoáng đạt, mới mẻ, thanh tân, dạt dào sức sống trong một không khí trong
lành, thanh thoát. Từ “điểm” dùng ở đây làm cho bức tranh thêm sinh động, có hồn.
Cảnh lễ hội trong tiết thanh minh cũng được miêu tả thật sinh động , náo nức:
Gần xa nô nức yến oanh . Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ngổn ngang gò đống kéo lên . Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay"
Tết thanh minh, mọi người cùng nhau đi sửa sang lại phần mộ của người thân . Không
khí thật rộn ràng đựơc thể hiện qua một loạt các từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình .Tất
cả đều góp phần thể hiện cái không khí lễ hội đông vui , một truyền thống tốt đẹp của
những nước Á Đông.

được giới thiệu ngay từ đầu truyện mà chỉ được nhắc đến qua lời của bác lái xe. Anh
xuất hiện, trò chuyện với bác họa sĩ và cô kỹ sư trẻ chỉ trong ba mươi phút, rồi lại
khuất lấp trong cái bạt ngàn, tĩnh lặng của núi rừng Sapa.
Trước khi anh xuất hiện, anh đã được bác lái xe giới thiệu là "một trong những
người cô độc nhất thế gian". Lời giới thiệu của bác lái xe đã gây ấn tượng mạnh và gợi
lên sự tò mò cho tất cả mọi người. Nhưng lời giới thiệu của bác không phải là hoàn
toàn cường điệu. Anh thanh niên sống và làm việc một mình trên đỉnh núi Yên Sơn
cao 2600 mét, quanh năm chỉ có cây cỏ và sương mù lạnh lẽo. Bốn năm trôi qua, anh
chưa một lần về thăm nhà. Sống trong cái không gian lạnh lẽo chứa đượm nỗi buồn
man mác của Sapa, anh thanh niên luôn phải chịu đựng sự cô đơn. Đó là một thử
thách rất lớn đối với một thanh niên sôi nổi, nhiệt tình như anh. Vậy, điều gì đã giúp
anh vượt qua thử thách khó khăn ấy?
Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc
sống.
+ Công việc là niềm vui, niềm đam mê cháy bỏng.
+ Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người.
Anh thanh niên có những hành động cao đẹp.
+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một
mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2.600 m.
+ Dồn tất cả thời gian công sức, tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công
việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu.
Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý, đáng trân trọng.
+ Tổ chức cuộc sống ngăn nắp, khoa học, phong phú cả về vật chất và tinh thần.
+ Khiêm tốn, cởi mở, chân thành với mọi người.
Đánh giá nhân vật, phát biểu cảm nghĩ : Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho
những con người lao động mới, sống có lý tưởng, vô tư, lặng thầm, cống hiến hết
mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai
đoạn lịch sử của dân tộc.
Trân trọng, khâm phục những nhân vật đáng quý, đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”, ta

Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện, được tác giả khắc họa hết
sức tinh tế và nhạy bén,là một cô bé giàu cá tính,bướng bỉnh và gan góc.Bé Thu gây
ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm,khi mà trong
mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng “Ba” ,hay khi hất cái trứng mà
ông Sáu gắp cho xuống,cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà
ngoại.Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính
của bé Thu,nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách
của bé,dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh,dù là bị dồn vào thế bí,dù là bị ông Sáu đánh,bé
Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết ,mạng mẽ.Có người cho rằng tác giả đã xây
dựng tính cách bé Thu hơi “thái quá”, song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại
là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý.Trong tâm trí bé
Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha “chụp chung trong bức ảnh với
má”.Người cha ấy không giống ông Sáu,không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già
đi mà do cái thẹo trên má.Vết thẹo, dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng
khuôn mặt ông Sáu.Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh,nó còn
quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn,biết đến cái cay xè của mùi
thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ.Cái cảm giác đó không
đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà là sự kiên định,
thẳng thắn, có lập trường bền chặt, bộc lộ phần nào tính cách cứng cỏi ngoan cường .
Nhưng xét cho cùng,cô bé ấy có bướng bỉnh,gan góc,tình cảm có sâu sắc,mạnh mẽ
13
thế nào thì Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ mới 8 tuổi,với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ
của con trẻ.Nhà văn tỏ ra rất am hiểu tâm lý của trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với
tấm lòng yêu mến và trân trọng một cách đẹp đẽ,thiêng liêng những tâm tư tình cảm
vô giá ấy.Khi bị ba đánh,bé Thu “cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén rồi lặng lẽ
đứng dậy,bước ra khỏi mâm”.Có cảm giác bé Thu sợ ông Sáu sẽ nhìn thấy những giot
nước mắt trong chính tâm tư của mình? Hay bé Thu dường như lờ mờ nhận ra mình
có lỗi?Lại một loạt hành động tiếp theo “Xuống bến nó nhảy xuống xuồng,mở lòi
tói,cố làm cho dây lòi tói khua rổn rang ,khua thật to,rồi lấy dầm bơi qua sông”.Bé
Thu bỏ đi lúc bữa cơm nhưng lại có ý tạo tiếng động gây sự chú ý.Có lẽ co bé muốn

Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giảu tình cảm, có cá tính mạnh mẽ, kiên
quyết nhưng vẫn hồn nhiên, ngây thơ của một đứa bé 8 tuổi : Nhân vật bé Thu.
Không chỉ khắc họa thành công nhân vật bé Thu,truyện ngắn “Chiếc lược ngà” ca
ngợi tình cha con sâu đậm mà đẹp đẽ.Bên cạnh hình ảnh bé Thu,hình ảnh ông Sáu
14
được giới thiệu là người lính chiến tranh,vì nhiệm vụ cao cả mà phải tham gia chiến
đấu,bỏ lại gia đình,quê hương;và đặc biệt ông là người yêu con tha thiết.Sau ngần ấy
năm tham gia kháng chiến, ông Sáu vẫn luôn nung nấu khao khát cháy bỏng là được
gặp con và nghe con gọi một tiếng cha.Nhưng cái ngày gặp lại con thì lại nảy sinh một
nỗi éo le là bé Thu không nhận cha. Ông Sáu càng muốn gần gũi thì dường như sự
lạnh lùng,bướng bỉnh của con bé làm tổn thương những tình cảm da diết nhất trong
lòng ông.Còn gì đau đớn hơn một người cha giàu lòng thương con mà bị chính đứa
con gái ấy từ chối.Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ
làm bùng lên những tình cảm mà bấy lâu nay ông dồn nén,chứa chất trong lòng.Có lẽ
ông biết rằng mình cũng không đúng vì suốt bảy năm trời chẳng thể về thăm
con,chẳng làm gì được cho con,nên nhân những ngày này ông muốn bù đắp cho con
phần nào.Giá gì không có cái bi kịch ấy,giá gì bé Thu nhận ra ông Sáu sớm hơn,thì có
thể ông Sáu và bé Thu sẽ có nhiều thời gian vui vẻ,hạnh phúc.Nhưng sợ rằng một câu
truyện như vậy sẽ chẳng thể gây được cảm động cho người đọc với những xúc cảm
khác nhau,có lúc dồn nén,có lúc lại thương xót,có lúc lại “mừng mừng tủi tủi” cho
ông Sáu khi mà bé Thu cất tiếng gọi “Ba”,tiếng gọi muộn màng nhưng lại có ý nghĩa
đẹp đẽ!Ai có thể ngờ được một người lính dạn dày nơi chiến trường,quen với cái chết
cận kề lại là người vô cùng yếu mền trước con gái mình.Những giọt nước mắt hiếm
hoi của một cuộc đời từng trải nhiều gian khổ vất vả,song lại rơi khi lần đầu tiên ông
cảm nhận được sự ấm áp của cha con thực sự!(“Không ghìm được xúc động và không
muôn cho con thấy mình khóc,anh Sáu một tày ôm con,một tay rút khăn lau nước
mắt”).”Ba về!Ba mua cho con một cây lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của
con gái bé bỏng trong giây pút cha con từ biệt.Nhưng đối với người cha thì đó là mơ
ước đầu tiên và duy nhất,cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng ông.Tình cảm ông Sáu
dành cho bé Thu trở nên thiêng liêng,cao cả và mãnh liệt hơn biết bao khi ông tự tay

cảm,mạnh mẽ, đã gắn bó với cuộc đời con người mất mát xích lại gần nhau để cùng
đứng lên hát tiếp bài ca chiến thắng,
“Chiếc lược ngà” như một câu chuyện cổ tích hiện đại, thành công trong việc xây
dựng hình thượng bé Thu và gửi gắm thông điệp đẹp về tình cha con.Nhân vật ông
Ba-người kể chuyện hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng,phải là người từng
trải,sống hết minh vì cách mạng kháng chiến của quê hương,gắn bó máu thịt với
những con người giàu tình yêu,nhân hậu mà rất kiên cường,bất khuất,nha văn mới có
thể nhập hồn được vào các nhân vật,sáng tạo nhiều hình tượng với các chi tiết sinh
động,bất ngờ, hơn nữa lại có giọng văn dung di,cảm động!
Chiến tranh là hiện thực đau xót của nhân loại,nhưng từ chính trong gian khổ khốc
liệt,có những thứ tình cảm đẹp vẫn nảy nở: tình đồng chí,tình yêu đôi lứa,tình cảm gia
đình,và cả tình của một người cha với con gái.Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là một
áng văn bất hủ ca ngợi tình phụ tử giản dị mà thiêng liêng,với những con người giàu
tình cảm và đẹp đẽ,như nhân vật bé Thu.
Truyện ngắn làng-KimLân
Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945
với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn
quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện
tinh thần kháng chiến của người nông dân
- Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở
chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công
một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể,
người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình
cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
B- Thân bài
1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê
hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu
làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình
cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.
2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện

gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có
tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước, lòng trung
thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu
thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như
cắt.
- Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất
khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời
thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách
căng thẳng này:
+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”
nữa là ông, bố của nó.
+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi
cho bố con ông”.
+ Qua đó, ta thấy rõ:
Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn
17
theo giặc).
Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của
kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành. Tình cảm đó sâu nặng,
bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ
dám đơn sai.
d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột
cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.
- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi
sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.
- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng
chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.
3. Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí
tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.
- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ

mình. Mấy bông hoa bằng lăng như đậm hơn. Thấp thoáng phía xa là con sông Hồng
với những tia nắng chiếu xuống, nước sông có màu vàng thau đẹp lạ thường. Mọi thứ
tưởng chừng rất đỗi quen thuộc lại trở nên hết sức lạ lẫm trong mắt Nhĩ- Cảnh vật đẹp
quá làm Nhĩ cứ ngắm hoài một cách say mê. Bỗng Nhĩ thấy “vòm trời như cao hơn”,
“dòng sông như rộng ra’. Cảnh vật vẫn hiện hữu bao lâu nay như thế đấy chứ? Đó chỉ
là cái nhìn của một con người có dự cảm sắp phải đi xa, đến một nơi rất xa, xa lắm….
Phải chăng Nhĩ đã nhận ra bằng trực giác của mình một điều: mình không còn sống
được bao lâu nữa? Dự đoán của Nhĩ như thực hơn, rõ hơn sau những câu hỏi anh đã
hỏi Liên- vợ mình: “Hôm nay đã là ngày thứ mấy rồi nhỉ?”. Hình như Liên đã hiểu
những gì Nhĩ đang nghĩ nên chị không trả lời. Không phải ngẫu nhiên mà những bông
hoa bằng lăng trong mắt Nhĩ trở nên đậm sắc hơn, tiếng đất lở ở bãi bồi bên kia sông
lại vang đến tại Nhĩ hay Nhĩ hỏi Liên nhưng câu như thế nó dự báo về quãng đời còn
lại của Nhĩ một cách thật kín đáo, thầm lặng. Những hình ảnh mang tính biểu tượng
được Nguyễn Minh Châu sử dụng khá thành công. Một con người luôn đi đến những
nơi xa lạ như Nhĩ mà lại bị bó chân trên giường bệnh thì không đau khổ nào bằng.
Nhưng chính những ngày này Nhĩ mới được sống bởi lẽ anh đã nhìn rõ được hình ảnh
của quê hương. Đó là những bông hoa bằng lăng, là con sông, là bãi bồi, là vòm trời
quê hương… Lần đầu tiên Nhĩ thấy Liên mặc áo vá. Người vợ mà mà bấy lâu nay anh
chưa quan tâm hết mực nay hiện ra trước mắt anh hình ảnh, một dáng dấp tần tảo, chịu
đựng, giàu đức hy sinh. Mọi sinh hoạt của Nhĩ đều nhờ vào sự chăm sóc của Liên.
Đến lúc này anh mới thấy thương và yêu vợ mình hơn bao giờ hết. Dù bao năm tháng
đã qua đi nhưng nét đẹp của Liên không hề thay đổi cũng như quê hương vậy, vẫn
chan chứa nghĩa tình. Quê hương mình sao đẹp thế? Nhĩ càng ngắm càng yêu quê
hương, yêu thương những gì gần gũi, bình dị của quê mình. Khát khao cuối cùng của
Nhĩ là được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông Hồng nhưng anh biết điều này không
thể. Anh đã nhờ con anh- Tuấn thực hiện ước nguyện này giúp anh. Nhưng nghịch lý
thay! Con anh cũng không làm được điều mà cha mình mong muốn. Tuấn chưa hiểu
được ý muốn của cha và ra đi một cách miễn cưỡng. Và anh sa vào đám phá cờ thế
trên đường để thoả mãn nhu cầu ham chơi, thích khám phá của mình. Nhĩ không trách
Tuấn bởi lẽ anh cũng từng như thế. Hoạ chăng chỉ có những người từng trải như anh

ta hướng tới những ước mơ, khát vọng đích thực trong hương thơm lộng gió của cuộc
đời.
Phân tích nhân vật Phương Định - Truyện: Những ngôi sao xa xôi.
Chúng ta đã từng tự hào về hình ảnh những chiến sĩ lái xe hiên ngang trong bài
thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật . Lê Minh Khuê, một nhà văn trẻ
thuộc thế hệ thanh niên xung phong thời chống Mỹ lại giúp ta được chiêm ngưỡng vẻ
đẹp của các cô gái trong 1 tổ trinh sát ở tuyến đường Trường Sơn đầy máu lửa nhưng
cũng thật anh hùng . Sự gặp gỡ của những nhân vật này đã giúp người đọc có 1 cảm
nhận đẹp đẽ về tuổi trẻ VN trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ . Nhưng cái tạo
nên sự hấp dẫn của Những ngôi sao xa xôi là sự am hiểu cặn kẽ cuộc sống và tâm lí
tình cảm cùng với những suy nghĩ của những con người trẻ tuổi ở Trường Sơn .
Truyện được kể qua lời 1 nhân vật cũng là nhân vật chính : Phuơng Định .
Đoạn trích trong tác phẩm kể về công việc vô cùng gian khổ của 3 cô gái tổ trinh
sát mặt đường .Duới ngòi bút hết sức chân thực cùng với những tâm tư suy nghĩ của 1
nhà văn nữ và bằng những cảm nhận của những năm tháng hoạt động ở trường sơn ,
Lê Minh Khuê đã giúp chúng ta thấy rõ những cô gái mang chí khí bà Trưng Bà Triệu
xung phong ra tiền tuyến. Và chiến trường Trường sơn huyền thoại được làm nên
bằng xương máu, bằng mồ hôi cùng với bao chiến tích phi thường của những cô gái
VN anh hùng . Ba cô ở trong 1 cái hang dưới chân cao điểm . Nơi máy bay giặc Mĩ
đánh phá dữ dội . Nơi tưởng như ko có sự sống, ko có lá xanh ,cành cây bị tước khô
20
cháy . chỉ có thần chết chờ chực . thần kinh căng như chão .Thứ sẵn có duy nhất ở đây
là những quả bom: nó sẽ nổ và làm sao đừng để nó cướp đi sinh mạng của mình .
Công việc của các cô là san lấp mặt đường và phá bom - một công việc hết sức quan
trọng và vô cùng nguy hiểm . Để tái hiện lại cảnh phát bom vô cùng nguy hiểm, nhà
văn đã sử dụng những chất liệu hết sức chân thực: cảm nhận của Phương Định . Định
dùng lưỡi xẻng đào đất bỏ gói thuốc mìn xuống, châm ngòi vào dây mìn rồi chạy
nhanh về chỗ nấp .Chị thao thổi còi , bom nổ , mảnh bom xé ko khí, nổ váng óc , ngực
đau nhói . Chỉ đọc qua mà đã thấy sự nguy hiểm căng thẳng ko thể nào kể xiết . Bom
nổ, hầm sập, Nho bị thương, chị Thao nghẹn ngào và Phương Đinh hát . Cuộc sống

ngày chạy trên cao điểm,từng giờ từng phút đếm bom rơi,bom nổ , ước lượng khối đất
đá lấp vào hố bom,tậm chí phá bom nếu cần,thật nguy hiểm bởi ngày ngày phải đối
mặt với Tử thần nhưng dường như cô không hề quan tâm đến cái chết,cô luôn đặt
nhiệm vụ lên hàng đầu và hoàn thành tốt công việc.Đọc "Những ngôi sao xa xôi" ta
21
như thấy được ở người con gái ấy hình ảnh của cả thế hệ thanh niên xung phong trong
kháng chiến chống Mĩ cứu nước . Những trang văn của Lê Minh Khuê đã khép lại
nhưng hình ảnh một cô gái Hà Nội với "hai bím tóc dày" đang "ngồi bó gối mơ màng"
bên khung cửa sổ vẫn còn mãi trong lòng người đọc. Nhà văn đã dựng nên 1 tượng đài
về khí phách anh hùng lẫm liệt . Đó là hình ảnh những cô nữ thanh niên xung phong
không tiếc máu xương, sẵn sàng cống hiến sức lực và tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp
cứu nước . Phương Định , chị Thao, Nho đã sáng ngời lên trong khói lửa bom đạn .
Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng như những người anh hùng ở ngã 3
Đồng lộc , như lớp lớp thanh niên Việt Nam đã
"Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai."
( Tố Hữu )
Và như nhà thơ Lâm Thị Mĩ Dạ đã từng ca ngợi trong" Khoảng trời và hố bom":
Em nằm dưới hố sâu
Như những khoàng trời đã nằm gần trong đất
Đêm đêm tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói lung linh.
Phân tích bài thơ "Đồng Chí"
Không biết bao mùa thu đã trôi qua kể từ mùa thu Tháng Tám của dân tộc. Chiến
tranh đã đi qua trên mảnh đất Việt thân yêu, để lại với đời mùa thu nay tươi đẹp của
hòa bình, hạnh phúc và để lại với lòng người bao chiến công của những chiến sĩ mùa
thu xưa – những mùa thu của cuộc kháng chiến chống Pháp với những con người
“chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”(Tây Tiến_Quang Dũng). Họ đã dựng nên tượng
đài bất hủ trong thơ ca về người chiến sĩ Cách mạng.Hình ảnh người lính năm xưa đi
vào thơ ca một cách tự nhiên chân thực như chính họ_những con người quê hương

lần họ goi nhau bằng hai tiếng hết đỗi thân thương trìu mến ấy thì mọi khoảng cách ,
ranh giới bị xóa nhòa, họ trở thành những người bạn, người thân và trên hết là nhưnữg
chiến sĩ cùng chung lí tưởng : đứng lên giải phóng quê hương giải phóng ách nô lệ.
Phải chăng tình đồng chí vang lên là kết tinh đẹp đẽ nhất của tình bạn , tình thân , tình
người? Hai tiếng "đồng chí" tưởng chừng như ngắn ngủi ấy lại ẩn chứa bao ý nghĩa
sâu xa, đặc biệt nó có vai trò như một chiếc bản lề khép lại khổ thơ đầu mở ra trước
mắt người đọc khổ thơ tiếp theo.
Đồng chí còn là cảm thông sâu sắc tâm tư nỗi niềm của nhau, những người lính họ
hiẻu nhau đến từng nỗi niềm sâu xa,thầm kín của đồng đội mình "Ruộng nương anh
gửi bạn thân cày/Gian nhà không mặc kệ gió lung lay".Từ "mặc kệ" trong câu thơ đã
thể hiện sâu sắc chiều sâu trong tâm hồn người lính,mang dáng dấp của một bậc
trượng phu vì nghĩa lớn dứt áo ra đi bỏ lại sau lưng quê hương với bộn bề công việc
cùng nỗi nhớ của mẹ già,vợ trẻ,đứa con thơ,nhưng không đằng sau hành động tưởng
chừng như dứt khoát ấy là biết bao những bịn dịn,vấn vương.Gác bỏ tình riêng vì
nghĩa lớn,họ quyết chí lên đường nhưng vẫn nặng lòng với quê hương làng xóm,có lẽ
vì vậy mà hình ảnh "giếng nước gốc đa" như làm sống lại trong lòng người lính cái
bóng dáng quê nhà thân thương để rồi tình yêu và nỗi nhớ quê da diết cùng trỗi dậy
tiếp thêm sức mạnh để người chiến sĩ tiếp tục chiến đấu.Đó phải chăng chỉ là tình cảm
của người lính nơi chiến hào gửi về hậu phương hay đó còn là tình cảm của quê
hương,của những người ở lại gửi ra tiền tuyến?Bước chân vào cuộc chiến đấu,họ đã
phải đối mặt với bao chông gai thử thách,khó khăn gian khổ,ai đi lính chẳng từng ít
nhất một lần bị cơn sốt rét rừng hành hạ, dày vò tàn phá cơ thể "Anh với tôi biết từng
cơn ớn lạnh/Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi",câu thơ như nhắc lại một kỉ niệm của
người lính nơi chiến hào,chắc hẳn bạn đọc vẫn chưa quên hình ảnh người lính Tây
Tiến với cơn sốt rét đến xanh da,trụi tóc"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/Quân
xanh màu lá giữ oai hùm".Những người lính ,họ không những phải vật lộn chiến thắng
bệnh tật mà họ còn phải đối mặt với sự thiếu thốn về quân trang quân dụng "áo anh
rách vai",quần tôi lại có "vài mảnh vá","chân không giày" hay trong "Nhớ" của Hồng
Nguyên ta lại bắt gặp hình ảnh người lính đang "Lột sắt đường tàu/Rèn thêm đao
kiếm/Áo vải chân không/Đi lùng giặc đánh",có thế ta mới thấm thía nỗi gian lao vất

nhưng cũng rất đỗi lãng mạn và đầy mộng mơ. Những người lính cầm súng chiến đấu
cho vầng trăng hòa bình , hơn ai hết họ hiểu rằng bảo vệ quê hương đât nước chính là
bảo vệ gia đình người thân. Phải chăng chính vì thế, mà người lính sẵn lòng chấp nhận
và đối mặt với mọi khó khăn thử thách để giành lại cuộc sống ấm no hạnh phúc?
Trang thơ của Chính Hữu đã khép lại từ rất lâu rồi nhưng người đọc vẫn thấy đâu đây
cái dư vị ngân nga về bức tranh và nhất là biểu tượng của tình đồng chí đồng đội
thiêng liêng cao đẹp.
Phân tích hình ảnh " Đầu súng trăng treo " trong bài " Đồng chí" của Chính
Hữu
Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. ở
truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những
mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Hơn thế
24
nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được Chính Hữu kết
tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình.
Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Thế
mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp, thơ mộng, rất thực nhưng
không thiếu nétl ãng mạnđó.Đầu súng trăng treo- đó là một hình ảnh tả thực một bức
tranh tả thực và sinh động. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm
thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Và hình
ảnh này cũng thật lạ làm sao, súng và trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau
vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải
tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người
lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi
sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây, người chiến sĩ như không còn
vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm
ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay
“đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm
nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn
và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status