TiÓu luËn triÕt häc
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1. Nguyên lý triết học của đề tài
1. Những điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
2. Các hình thức biểu hiện của quá trình khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp
3. Khoa học trở thành một lực lượng cách mạng, biến đổi căn bản diện
mạo và tính chất của nền sản xuất xã hội
3.1. Về mặt lý luận
3.2. Kiểm nghiệm qua thực tiễn
Chương 2. Những lý luận chung về công nghệ
1. Công nghệ là gì ?
2. Các bộ phận cấu thành của công nghệ
3. Các thuộc tính của công nghệ
4. Sự phát triển chung của công nghệ
5. Những công nghệ điển hình
6. Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
Chương 3. Khoa học - Công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện nay
1. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ vào cuối thế kỷ
XX và sự ra đời của nền văn minh mới
2. sự ra đời và phát triển của ngành công nghệ cao
3. Nền kinh tế tri thức
4. Khoa học và công nghệ - động lực phát triển đất nước
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 1
TiÓu luËn triÕt häc
LỜI NÓI ĐẦU
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 2
TiÓu luËn triÕt häc
Chương 1. Nguyên Lý triết học của đề tài
Cách đây hơn 100 năm, C.Mác đã dự đoán: “Đến một trình độ phát
triển nào đó thì “tri thức xã hội phổ biến” (khoa học) biến thành “lực lượng
sản xuất trực tiếp” ”. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
luận điểm đó của C.Mác đang dần trở thành hiện thực một cách đầy thuyết
phục.
1. Những điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Khoa học và cùng với khoa học là công nghệ là những thành tố cơ bản
của lực lượng sản xuất. Tri thức khoa học được vật hóa thành công cụ sản
xuất (công cụ lao động), như máy móc, trang thiết bị kỹ thuật…, đó là yếu tố
động nhất và có vai trò quyết định đối với phương thức sản xuất. Trong quan
hệ sản xuất, tri thức khoa học có mặt trong khoa học quản lý, tổ chức và phân
phối. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung, của phương
thức sản xuất nói riêng, vai trò của khoa học và công nghệ cũng ngày càng
được nâng cao, ngày càng thể hiện rõ ràng dưới dạng một thực tiễn xã hội
trực tiếp nhờ vào quá trình không ngừng biến đổi và hoàn thiện dần của
chúng. Từ chỗ là lực lượng sản xuất tiềm năng, ngày nay, khoa học và công
nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Bước chuyển này không
phải là ngẫu nhiên, mà chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện nhất định hay
“một trình độ phát triển nào đó” như C.Mác đã dự đoán. Vậy, những điều
kiện đó là gì?
Điều kiện đầu tiên phải thuộc về sản xuất: nền sản xuất xã hội phải đạt
đến một trình độ phát triển cao, tạo cơ hội và địa bàn để khoa học và công nghệ
phát huy vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp của mình.
Trong những nền sản xuất xã hội còn ở trình độ phát triển thấp trước
đây, khoa học không thể trực tiếp đi vào sản xuất, mà phải trải qua khâu trung
gian thực nghiệm khoa học, nhiều khi kéo dài hàng trăm năm. Tri thức khoa
xuất hiện đại. Trong thời đại ngày nay, trong khoa học đang diễn ra quá trình
tương tác mạnh mẽ giữa các khoa học, quá trình liên kết khoa học theo hướng
tổng hợp tri thức của các khoa học hiện đại nhằm giải quyết những vấn đề
bức xúc do thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội đặt ra, như vấn đề khai thác
và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
sống, vấn đề phát triển bền vững, vấn đề hội nhập toàn cầu mà trước hết, là
hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là những vấn đề về con người (tăng cường
sức khỏe, phòng, chống bệnh tật, nâng cao tuổi thọ, và sự phát triển toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần của con người…). Bởi thế, sự phát triển của khoa
học nói riêng, xã hội nói chung đều nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu
ngày càng cao của con người, phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con
người với tư cách một thực thể sinh học - xã hội, một thực thể sống hài hòa
giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Những khám phá mới của
khoa học về con người, như làm rõ nguồn gốc và bản chất của con người, lập
và giải mã bản đồ gien người, nhân bản vô tính người, làm rõ vai trò và chức
năng của tế bào gốc ở người, trí tuệ nhân tạo, những khả năng còn tiềm ẩn ở
con người, v.v. đang chứng tỏ rằng, con người không chỉ là chủ thể sáng tạo
khoa học, chủ thể của quá trình sản xuất xã hội, của lịch sử, mà còn là đối
tượng khai thác của khoa học và công nghệ hiện đại.
Rõ ràng là, ngày nay, khoa học đang tiến rất gần đến mục tiêu như
C.Mác đã tiên đoán: “Khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con
người cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự nhiên:
đó sẽ là một khoa học”. Với trình độ phát triển cao như hiện nay, khoa học
hoàn toàn có thể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều kiện thứ ba để khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp là
sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước, nhất là ở các nước công nghiệp
phát triển; là xu thế toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa kinh tế trên cái
nền của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là cách
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 4
TiÓu luËn triÕt häc
một đất nước, một khu vực trong cuộc cạnh tranh khốc liệt về kinh tế của thế
giới hiện đại.
2. Các hình thức biểu hiện của quá trình khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp
Quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất có nhiều biểu hiện
khác nhau, song, ở đây, chúng tôi chỉ có thể nêu lên một số biểu hiện chủ yếu.
Trước hết, tri thức khoa học được vật hóa thành các công cụ sản xuất ngày
càng tinh xảo hơn, càng hoàn thiện hơn và nhanh hơn. Đó là các loại máy
móc, trang thiết bị dùng trong công nghệ thông tin, như máy vi tính, máy siêu
tính, mạng Internet; trong công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, công
nghệ năng lượng mới, công nghệ nguyên tử, công nghệ vật liệu mới, công
nghệ nano, v.v Các thế hệ người máy (robot) ngày càng hoàn thiện, có thể
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 5
TiÓu luËn triÕt häc
đảm nhiệm không chỉ các chức năng về trí tuệ, mà cả cảm xúc. Ngày nay, các
máy móc, trang thiết bị được vật hóa từ tri thức của khoa học hiện đại được
sử dụng trong các công nghệ hiện đại không chỉ mang lại hiệu quả và năng
suất lao động cao hơn, chất lượng tốt hơn, mà còn góp phần quan trọng vào
việc tiết kiệm nguyên vật liệu; tạo ra các loại vật liệu mới vốn không có sẵn
trong tự nhiên; giảm thời gian lao động phải chi phí cho một đơn vị sản phẩm.
Thực tế sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển đã cho thấy rằng, tri thức
khoa học ngày càng chiếm hàm lượng cao hơn trong giá trị các sản phẩm làm
ra, nguồn lợi do khoa học mang lại cũng ngày càng lớn hơn. Điều đó được thể
hiện ở chỗ, nếu như trong những năm đầu của thế kỷ XX, khi chỉ có một bộ
phận nhỏ của thế giới, chủ yếu là các nước tư bản phát triển ở phương Tây
bước vào công nghiệp hóa, khi sự phát triển của khoa học chưa sự gắn kết
chặt chẽ với kỹ thuật và sản xuất, thì lao động cơ bắp của con người, tính
trung bình, chiếm một tỷ lệ rất cao, lên đến 9/10 trong giá trị sản phẩm. Đến
những năm 90 của thế kỷ trước, khi hầu hết các nước trên thế giới đã và đang
tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và ở nhiều nước đã và đang diễn ra
phẩm như nhau, nếu biết tổ chức, quản lý, điều hành công việc một cách hợp
lý, sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Không chỉ thế, việc quản lý, điều hành trong sản xuất cũng như trong
các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã có những biến đổi về chất so
với trước đây, như nhanh nhạy, chính xác, kịp thời nhờ có sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin. Xã hội ngày nay là xã hội đang được tin học hóa. Trong xã
hội thông tin, kẻ giàu, kẻ mạnh, kẻ chiến thắng không phải là kẻ trường vốn,
kẻ giàu về vật chất cụ thể, mà chính là kẻ biết nắm bắt một cách nhanh nhạy
các thông tin, đặc biệt là các thông tin khoa học - công nghệ và thông tin về
thị trường. Bởi vì, nhờ nắm bắt được thông tin mà thay đổi công nghệ để có
thể kịp thời sản xuất ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu và thị hiếu
của người tiêu dùng, giúp cho việc lưu thông hàng hóa nhanh hơn. Việc nắm
bắt thông tin kịp thời, nhanh chóng, chính xác còn giúp cho người sản xuất,
kinh doanh mở rộng thị trường, dự báo và đón đầu nhu cầu, thị hiếu của
người tiêu dùng và xã hội, nhờ đó, có thể giành được chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh gay gắt trên thương trường.
3. Khoa học trở thành một lực lượng cách mạng, biến đổi căn bản diện
mạo và tính chất của nền sản xuất xã hội
3.1. Về mặt lý luận
Trong thời kỳ cổ đại, việc sử dụng khoa học vào sản xuất còn ít ỏi,
trồng trọt, chăn nuôi và nghề thủ công chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm.
Từ thế kỷ XVII, khoa học phát triển, vai trò của khoa học ngày càng quan
trọng đối với sản xuất và đời sống. Nền công nghiệp cơ khí lớn sẽ không thể
có được nếu không có sự vận dụng tự giác những quy luật của tự nhiên do
khoa học khám phá ra. Càng về sau, khoa học càng tác động mạnh mẽ đến
sản xuất, khoa học trở thành một lực lượng cách mạng, biến đổi căn bản diện
mạo và tính chất của nền sản xuất xã hội. Trong sự phát triển của lực lượng
sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển của khoa học
gắn liền với sản suất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ngày nay khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của
phương pháp công nghệ của sản xuất và những hình thức tổ chức sản xuất.
Như vậy, bước sang thế kỷ XXI, khoa học đã phát triển cực kỳ mạnh
mẽ và nhanh chóng, vai trò của khoa học đối với đời sống cũng như mối quan
hệ giữa khoa học và thực tiễn, sản xuất biến đổi to lớn, khoa học đã thâm
nhập vào mọi lĩnh vực, mọi quá trình và mọi mặt của đời sống xã hội và đã
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
3.2. Kiểm nghiệm qua thực tiễn
Ngày nay toàn cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành
một xu thế khách quan của thế giới đương đại. Xu thế toàn cầu hoá kinh tế bắt
nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực
lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế
giới. Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với
quá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển của
các công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật
liệu mới, công nghệ vũ trụ ) đã làm thay đổi về chất lực lượng sản xuất của
loài người, đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp lên văn minh tin học,
từ cơ khí hoá sản xuất lên tự động hoá, tin học hoá sản xuất. Cách mạng khoa
học và công nghệ đang tạo ra những biến đổi căn bản và sâu sắc không những
trong công nghệ, trong sản xuất, mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Nửa sau của thế kỷ XX, nhất là trong những thập kỷ cuối, loài người
đang chứng kiến những thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của cuộc cách mạng khoa học – kỹ
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 8
TiÓu luËn triÕt häc
thuật hiện đại. Với việc phát triển và phổ cập nhanh chóng của vi điện tử,
công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, v.v người ta ngày càng nói nhiều tới
cái gọi là “chiến tranh công nghệ” và coi công nghệ là biến số có ý nghĩa
chiến lược trong lựa chọn con đường phát triển quốc gia. Ngày nay các nước
kém phát triển buộc phải hành động theo một phương châm hoàn toàn mới là
Pacific) uỷ ban kinh tế và xã hội châu á Thái Bình Dương thì : công nghệ là
một hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và
thông tin. Sau đó ESCAP mở rộng định nghĩa của mình: Nó bao gồm tất cả
các kỹ năng kiến thức thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo,
dịch vụ, quản lý, thông tin.
Định nghĩa này được coi là bước ngặt trong lịch sử quan niệm về công
nghệ. Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản
xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể mà mở rộng khái niệm ra các lĩnh vực
mới như dịch vụ và quản lý.
+ Cuối cùng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ :
công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra.
2. Các bộ phận cấu thành của công nghệ
Công nghệ là phương tiện để giải quyết các mục tiêu kinh tế nên thước
đo của hoạt động công nghệ là phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào việc
nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội.
Công nghệ phụ thuộc vào môi trường kinh tế, môi trường xã hội trong
thực tế. Yêu cầu chất lượng, xu thế phát triển của thị trường, sản phẩm là
nhân tố hạn chế sự lựa chọn. Đồng thời lựa chọn công nghệ lại bị ràng buộc
bởi quan hệ buôn bán trong nước và quốc tế, do đó vấn đềáp dụng công nghệ
vào quá trình phát triển kinh tế giải quyết một mục tiêu cụ thề là một tập hợp
các vấn đề cần tính toán vàđồng bộ.
Bất cứ một công nghệ nào, dù công nghệđơn giản hay công nghệ phức
tạp thì cũng đều được cấu thành từ 4 yếu tố cơ bản, bốn thành phần đó tác
động qua lại lẫn nhau và hợp thành một chính thể khoa học.
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 10
TiÓu luËn triÕt häc
+ Con người- đội ngũ lao động kỹ thuật vận hành điều khiển và quản lý
có kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm (Human ware - Viết tắt là H)
+ Thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tùng. Đây là phần vật chất, phần cứng
của công nghệđược gọi là kỹ thuật (Techro ware - viết tắt là T)
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 11
TiÓu luËn triÕt häc
Con người là chủ thể của sản xuất và là yếu tố quyết định. Song sự phát
triển của con người về tri thức và kỹ năng sản xuất thì lại biểu hiện hay kết
tinh ở tư liệu lao động. Việc sử dụng và sáng tạo ra những tư liệu lao động tuy
đã có mầm mống ở một vài loài động vật nào đó. Nhưng vẫn là một nét đặc
trưng riêng của quá trình lao động của con người. Đối với việc đánh giá
những hình thái kinh tế xã hội cũng nhưđánh giá sự phát triển của tiến bộ
khoa học loài người thì chúng ta nên đánh giá từ những mốc lịch sử khám phá
sơ khai của loài người.
Những thời đại Kinh tế khác nhau không phải là chúng sản xuất ra cái gì
mà là chúng sản xuất bằng cách nào. Với những tư liệu lao động gì và khám
pháđược gì cho nền sản xuất kinh doanh. Như vậy sự phát triển của kỹ thuật
công nghệ có thểđược biết tới qua những mốc lịch sử lớn sau đây:
+ Thứ nhất: những công cụ nguyên thuỷ: hòn đá, cây gậy nhọn, cung tên
và những tư liệu lao động khác như ngọn lửa, một sốđộng vật được thuần
dưỡng … Đây có thể xem như là sự khám phá tìm tòi. Nghiên cứu cùng như
là những phát minh của con người ở thủa còn sơ khai.
+ Thứ hai: thời đại đồ đá, đây là một giai đoạn phát triển khá dài vàđược
phân rõ thành 2 giai đoạn:
- Thời đại đồ đá cũ
- Thời đại đồ đá mới
+ Thứ ba: thời đại đồ đồng
+ Thứ tư: thời đại đồ sắt
+ Thứ năm: thời đại cơ khí hoá. Mở đầu bằng cuộc công nghệ công
nghiệp cuối thế kỷ 18 và được phát triển mạnh hơn cao hơn với việc ứng
dụng rộng rãi của điện khí hoá từđầu thế kỷ 19.
Cuộc CM khoa học-kỹ thuật hay còn gọi là cuộc CM khoa học - công
nghệ. Khởi đầu từ những thập niên 50 của thế kỷ 20 với tên gọi này người ta
muốn nhấn mạnh đến sự kết nối trực tiếp từ những phát minh khoa học đến
máy móc để sản xuất ra maý móc như một quy luật quan trọng của C.Mác đã
phát hiện của sản xuất đại công nghiệp nhằm cơ khí hoá tiếp các ngành sản
xuất khác như vận tải, nông nghiệp…
Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra đầu tiên ở Anh (trong khoảng thời
gian 1750-1830) rồi sau đó lan rộng sang Pháp, Đức và một số nước Châu Âu
cụ thể là:
- Máy kéo Sợi (1735) và tiếp sau là máy dệt.
- Máy hơi nước (1784) và tiếp sau đó làôtô chạy bằng hơi nước (1789).
- Đầu tàu hoả chạy bằng hơi nước (1803)
- Tàu biển chạy bằng hơi nước (1851)
- Động cơ đốt trong (1860) và tiếp sau là ôtô chạy bằng động cơ đốt
trong (1886).
- Điện tín (1843), liên lạc điện thoại (1875), trạm điện thoại (1878)
- Đèn điện (1878)
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 13
TiÓu luËn triÕt häc
-Từ đầu thế kỷ XX, điện được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất và vào
nhiều ngành kỹ thuật cơ khí hoá được phát triển và nâng cao nhờ Điện khí
hoá.
Tất cả những thành tựu về công nghệ đã dẫn đến kết quả làm cho lực
lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng cao. Nhờ đó mà loài người
chuyển từ phương thức sản xuất này lên phương thức sản xuất khác cao hơn,
chuyển từ nền văn minh này lên nền văn minh khác tiên tiến hơn.
Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra nửa thế kỷ nay cũng đang gây ra
những biến đổi sâu sắc trong các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã
hội, sản xuất tự động hoá ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng
cao, sản phẩm dồi dào. Tỷ lệ lao động tríóc trong sản xuất tăng lên trong khi tỉ
lệ lao động chân tay giảm xuống, nảy sinh nạn thất nghiệp cơ cấu. Hợp chất
mới sáng tạo ra thay thế một số vật lực có sẵn trong thiên nhiên, tiết kiệm tài
nguyên, thiên nhiên, con người qua hạn hẹp mà thiên hiên đã ban tặng cho họ.
biến đổi tín hiệu điện.
-Tạo hình, tạo âm thanh… lúc đầu, linh kiện chính trong các thiết bịđó
làđèn điện tử, được phát minh vào năm 1906, năm 1947 xuất hiện các linh
kiện bán dẫn, năm 1961 xuất hiện mạnh tích hợp IC và năm 1971 là các mạch
vi sử lý thường phát minh các dụng cụđiển tử mở ra kỷ nguyên của máy tính
điện tử.
*Công nghệ thông tin
Thành quả của công nghệ Điện tử-Vi điện tử tạo ra máy tính điện tử
cùng với phần mềm là các chương trình ứng dụng, tạo ra một công nghệ mới
là tin học (informaties).
Cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX xuất hiện kỹ
thuật số (digital) tạo bước ngoặt trong lĩnh vực truyền tin, do các ưu việt:
- Độ tin cậy cao
- Số lượng truyền lớn.
- Tốc độ trao đổi nhanh.
Kỹ thuật số kết hợp với vật liệu quang truyền dẫn thông tin bằng Laze
trong cáp quang.
Tin học cùng viễn thông tạo ra ngành công nghiệp mới, công nghệ thông
tin qua các hoạt động lưu trữ và truyền số liệu điện tử (EDI) dẫn đến các hoạt
động như vay vốn chuyển vốn ngoại tệ, mua bán cổ phần, tìm chênh lệch giá
tín dụng, chứng khoán… Tạo ra một xã hội hoàn toàn mới trong thế kỷ XXI.
*Công nghệ sinh học
Công nghệ sinh học sử dụng các tác nhân sinh vật vào quá trình sản xuất,
cóđặc trưng công nghiệp, sản xuất tư liệu sản xuất cho nó và các nành khác,
có quy mô sản xuất là tế bào trong lĩnh vực này có 4 khía cạnh cụ thể:
- Công nghệ Vi sinh
- Kỹ thuật enzim
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 15
TiÓu luËn triÕt häc
- Kỹ thuật nuôi cấy tế bào
nhiễm môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên quốc gia, góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội.
Qua nghiên cứu vai trò cụ thể của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng
kinh tế, nhà kinh tế học P.A. Samuelson và W.P.Nordhaus đã dùng các phân
tích của mình để tính toán phần đóng góp của khoa học công nghệ trong tăng
trưởng kinh tế của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1984 và đã rút ra kết luận: Trong mức
tăng trưởng 2,2%/năm về sản lượng theo đầu công nhân, khoảng 0,5% là do
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 16
TiÓu luËn triÕt häc
tăng yếu tố tư bản(vốn), và do yếu tố công nghệ là 1,7%. Như vậy, nhân tố
khoa học công nghệ giữ một vai tròđặc biệt đối với tăng trưởng kinh tế.
Cũng theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học S.A.Samuelson và
W.P.Nordhaus, cho thấy: Từ năm 1981 ở Mỹ với mức tăng trưởng trung bình
là 3,2%/năm thì sự đóng góp của yếu tố đầu vào: đất đai, vốn, lao động chỉ
chiếm 1,1%, còn yếu tố giáo dục và khoa học công nghệ chiếm tới 2,1%.
(Bảng1.1)
Bảng 1.1. Đóng góp của các yếu tố vào mức tăng trưởng GDP thực tế
Yếu tố đóng góp Tăng % hàng
năm
% của tổng
số
GDP thực tế 3,2 100
Đóng góp đầu vào
-Vốn
-Lao động
-Đất đai
1,1
0,5
0,6
0
thái năng suất thấp, hiệu quả thấp, sử dụng lao động thủ công là chính, sang
một hệ thống có năng suất cao, dựa trên những phương pháp công nghiệp,
những công nghệ tiên tiến. Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá cũng là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng
khoa học công nghệ giá trị cao. Muốn đạt mục tiêu trên phải đổi mới công
nghệ trong toàn bộ nền kinh tế, phải sử dụng có hiệu quả thành tựu khoa học
và công nghệ của thế giới.
Chương 3. Khoa học - Công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện
nay
Thế giới đang bước vào một thế kỷ mới. Do tác động của khoa học -
công nghệ thế giới cũng đang bước sang một giai đoạn phát triển cao hơn
trong lịch sử phát triển của mình. Ðó là giai đoạn ra đời của nền kinh tế tri
thức, giai đoạn ra đời và phát triển của xã hội thông tin.
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 18
TiÓu luËn triÕt häc
1. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ vào cuối thế kỷ XX
và sự ra đời của nền văn minh mới
Từ khi có loài người đến nay, sự phát triển của con người luôn dựa vào
tri thức, vào khả năng sáng tạo, tức là dựa vào khoa học - công nghệ. Song ở
các thời kỳ khác nhau thì tác động của khoa học - công nghệ ở mức rất khác
nhau. Ơ thời kỳ tiền sử - một thời gian rất dài, con người chủ yếu làm theo
bản năng, có ít tri thức, không đủ để có sáng tạo. Chuyển sang thời đại văn
minh nông nghiệp, con người bắt đầu có những sáng tạo như tạo ra các công
cụ trồng trọt (cái cày, cây cuốc) và biết tưới nước, tuy nhiên cũng phải mất tới
4000 - 5000 năm sau con người mới bắt đầu có tri thức thật sự, nhận thức
được các quy luật khách quan và bước sang một thời đại mới là thời đại công
nghiệp, thời đại của những sáng tạo kỹ thuật lớn lao. Những sáng tạo lớn như
máy hơi nước, động cơ điện, luyện kim, hoá công nghiệp, v.v đã làm thay
đổi nền kinh tế, những sáng tạo ấy đưa xã hội lên một tầm cao mới đó là thời
đại công nghiệp, xã hội công nghiệp. Xã hội công nghiệp cũng mới chỉ bắt
tiếp, và khoa học trực tiếp làm ra sản phẩm, đã trở thành hiện thực. Nó thể
hiện rất rõ trong các ngành công nghệ cao. Có thể nói rằng cuộc cách mạng
khoa học mới hay còn gọi là "cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại" bắt đầu từ những năm 50, sau Ðại chiến thế giới lần thứ hai, có đặc điểm
là phát triển rất mạnh mẽ, khoa học gắn liền với công nghệ (trước kia ta gọi là
kỹ thuật). Kỹ thuật gắn với khoa học làm một. Bên cạnh khái niệm "cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại", còn có khái niệm "cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ ba" (Cách gọi này xuất phát từ khía cạnh công nghiệp).
Xét khía cạnh trình độ kỹ thuật thì khái niệm lâu nay vẫn dùng là "cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại". Giai đoạn phát triển mới của nó là
những công nghệ cao.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với giai đoạn phát
triển mới là công nghệ cao đang làm đảo lộn cả thế giới, thay đổi một cách cơ
bản không chỉ lực lượng sản xuất mà cả các quan hệ xã hội, lối sống, quan hệ
quốc tế Nói tóm lại, có thể nói thế kỷ XX là thế kỷ diễn ra sự đảo lộn rất lớn
của thế giới nhờ khoa học Ờ công nghệ, mà giai đoạn đỉnh cao nhất của nó là
thời gian giao thời hai thế kỷ hiện nay.
Thế kỷ XXI sẽ đánh dấu sự ra đời của nền văn minh mới trong lịch sử
loài người. Về tên gọi của nền văn minh đang phôi thai này thì còn có nhiều ý
kiến khác nhau, có người gọi là "nền văn minh hậu công nghiệp", "nền văn
minh trí tuệ", "xã hội tri thức", "nền kinh tế tri thức", "xã hội thông tin"
Ðây là bước chuyển biến đặc biệt lớn tương tự như bước chuyển từ thời tiền
sử sang văn minh nông nghiệp hay từ văn minh nông nghiệp sang văn minh
công nghiệp. Nền văn minh công nghiệp so với nông nghiệp thì mới chỉ là
thay thế cơ bắp con người và giúp con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Thời kỳ văn minh nông nghiệp con người mới sử dụng đến lao động và đất
đai. Cách mạng công nghiệp đã làm cho sức con người lớn hơn rất nhiều, sử
dụng được nhiều tài nguyên. Song đã lâu cách sản xuất công nghiệp, sản xuất
ào ạt, tiêu thụ ào ạt không còn thích hợp nữa, một phần bởi tài nguyên đã cạn
kiệt mặt khác bởi những thách thức về môi trường đã trở nên rất gay gắt. Ðể
nó quyết định sự phát triển nhanh hay chậm của xã hội loài người. Ở cả bốn
ngành khoa học trụ cột này đều đã có những sự phát triển vượt bậc mở ra khả
năng rất lớn cho loài người. Về khoa học sự sống thì công nghệ gen, công
nghệ tế bào đã phát triển đến giai đoạn con người có thể tạo ra những giống,
những loại theo ý muốn. Chú cừu Doly ra đời bằng phương pháp sinh sản vô
tính là một dẫn chứng. Thế giới đang rất lo ngại về hậu quả của phát minh
này, bởi nó mở ra khả năng của việc áp dụng phương pháp này vào con
người. Việc tạo ra một đội bóng toàn Maradona là hoàn toàn có thể, vấn đề
chỉ còn là thời gian và có dám cho làm hay không. Về công nghệ vật liệu thì
ngoài những vật liệu hiện đại đã có, vật liệu tổ hợp (composit) có những tính
năng có thể nói là kỳ diệu. Ðặc biệt gần đây là kỹ thuật Nano technology. Với
công nghệ này có thể chế tạo ra vật liệu so với thép nhẹ hơn 7 lần song sức
bền cao hơn khoảng 400 lần. Với loại vật liệu này việc sản xuất các loại rôbốt
tí hon, thậm chí rôbốt không nhìn thấy là hoàn toàn có thể. Về công nghệ
năng lượng, hiện thế giới vẫn đang phải đương đầu với khủng hoảng năng
lượng, khủng khoảng môi trường. Song việc giải quyết khủng khoảng cũng
chỉ còn là thời gian vì triển vọng xuất hiện các nguồn năng lượng mới đã rất
rõ. Triển vọng nhất là năng lượng mặt trời. Thời gian gần đây xuất hiện nhiều
giải pháp nhằm hạ giá thành do vậy sắp tới chắc chắn sẽ được dùng nhiều.
Ðáng lưu ý nhất là năng lượng nguyên tử. Công nghệ khuyếch đại năng lượng
nguyên tử, một phát minh mới - rất an toàn, phản ứng dưới nhiệt độ tới hạn,
không bao giờ xảy ra phản ứng dây chuyền, sử dụng tối đa nguồn nhiên liệu,
gần như không có chất thải và rất an toàn. Vấn đề hiện vẫn đang được thử
nghiệm và rất có triển vọng. Sắp tới khi nghiên cứu thành công thì vấn đề
khủng khoảng năng lượng của toàn thế giới sẽ được giải quyết. Hướng nghiên
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 21
TiÓu luËn triÕt häc
cứu công nghệ nhiệt hạch tổng hợp thì chắc còn lâu. Một công nghệ đặc biệt
phát triển nữa là công nghệ thông tin (thuộc trụ cột thứ tư). Sự phát triển như
vũ bão của công nghệ thông tin khiến thế gíơi ngày càng thu nhỏ, ngày càng
dương học hay khoa học vũ trụ đều là công nghệ cao. Song thông thường,
người ta nhấn mạnh 4 lĩnh vực công nghệ nói trên vì đó là 4 trụ cột của nền
sản xuất, nền kỹ thuật. Trong 4 trụ cột đó công nghệ thông tin có vai trò quan
trọng nhất, tạo ra động lực để con người chuyển sang xã hội thông tin.
Quá trình phát triển của công nghệ thông tin diễn ra qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn thu thập và xử lý thông tin thông thường bằng
tay bằng sổ sách Sang đến giai đoạn hai đã bắt đầu có sự can thiệp của máy
móc, giúp con người xử lý chính xác hơn, tin cậy hơn, nhanh hơn. Giai đoạn
ba là giai đoạn sử dụng máy tính, việc xử lý thông tin hơn hẳn giai đoạn
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 22
TiÓu luËn triÕt häc
trước, nhiều việc xử lý được tự động hoá, và do đó thông tin biến thành tri
thức mới (xử lý thông tin cho người ta những hiểu biết mới, các mối quan hệ
có tính quy luật) . Chuyển sang giai đoạn thứ tư là giai đoạn "thông minh",
máy móc không chỉ làm khâu tính toán mà còn tổng hợp số liệu, phân tích số
liệu, rút ra kết luận một cách rất nhanh chóng và chuẩn xác và đưa ra cách
giải quyết các vấn đề. Ðây là giai đoạn nhân nhanh tri thức con người. Thông
tin là tài nguyên quý giá, thông tin là tri thức. Có thể nói giai đoạn này là giai
đoạn máy móc có trí tuệ hay còn gọi là giai đoạn của những cỗ máy thông
minh. Hiện nay công nghệ thông tin Trung Quốc đã qua giai đoạn thứ ba, và
đang chuyển sang giai đoạn thứ tư, chính là nhờ mạng máy tính.
Công nghệ cao có những đặc điểm gì ?
Công nghệ cao là công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới
nhất với hàm lượng tri thức và hàm lượng khoa học cao nhất. Với đặc điểm
khoa học phát triển mạnh mẽ như ngày nay thì công nghệ cao là sự gắn kết
của khoa học với sản xuất. Nó chập cả ba quá trình khoa học: nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai làm một. Những lĩnh vực
khoa học mà trực tiếp ra sản xuất như thế là công nghệ cao.
Do đặc điểm như vậy tác động của công nghệ cao đến sự phát triển là
rất rõ ràng. Nó tạo ra các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực dịch vụ mới có năng
Ðặc điểm cần nhấn mạnh nữa của công nghệ cao là nó đẩy trình độ sản
xuất của loài người tiến lên một bước. Quá trình sản xuất kiểu cổ điển đi từ
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng rồi mới đến nghiên cứu triển khai và
sản xuất hàng loạt nay ngày càng rút ngắn thậm chí không còn phân biệt ranh
giới nữa. Quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất được rút ngắn đến tận cùng. Ơ
nhiều lĩnh vực đã không còn phân biệt được đâu là sản xuất đâu là nghiên
cứu. Vào thăm cơ sở của một hãng nào đó ở thung lũng Silicon người ta
không biết gọi nó là xưởng sản xuất hay là phòng thí nghiệm bởi cả hai cách
gọi đều không sai. Gọi là xưởng sản xuất vì ở đó sản phẩm được sản xuất ra
hàng loạt còn gọi là labo bởi quá trình làm ra sản phẩm là quá trình tìm tòi,
nghiên cứu khoa học. Ðiều kiện sản xuất trong những cơ sở này tinh vi hơn
rất nhiều so với các phòng thí nghiệm thông thường. Phòng sản xuất các linh
kiện đặc biệt dùng trong máy tính xây dựng tốn kém mấy trăm triệu đôla bởi
chỉ riêng không khí vào phòng đã phải lọc qua bẩy lần.
Khoa học mang tính chuyên sâu rất cao đồng thời cũng đòi hỏi tính
tổng hợp rất cao, đòi hỏi sự phối hợp giữa các ngành, sự gắn bó chặt chẽ giữa
hai lĩnh vực, cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Ðó cũng là một trong
những xu hướng phát triển khoa học ngày nay.
Công nghệ cao đặt ra đòi hỏi mới đối với giáo dục - đào tạo:
Xưa nay ta vẫn dùng các khái niệm "quốc sách", "nền tảng" để nói lên
vị trí, vai trò của giáo dục trong xã hội. Song với sự phát triển như vũ bão của
khoa học Ờ công nghệ trên thế giới hiện nay có lẽ các khái niệm ta vẫn dùng
chưa nói hết được vai trò đặc biệt hiện nay của giáo dục. Hoạt động công
nghệ bây giờ chủ yếu là nghiên cứu khoa học do vậy nó đặt ra yêu cầu rất cao
về tri thức. Con người phải được giáo dục, đào tạo sao cho có đủ tri thức để
đảm đương được mọi công việc trong lĩnh vực công nghệ cao. Trong lĩnh vực
này, tất cả mọi người đều phải đạt đến một trình độ nhất định. Tập thể lao
động chỉ bao gồm toàn các chuyên gia. Chính vì vậy, để phát triển được công
nghệ cao, phải có giáo dục, giáo dục trở thành yếu tố quyết định, là cơ sở chủ
yếu nhất cho xã hội công nghệ cao.
nói nền kinh tế trí thức là giai đoạn cao nhất trong sự phát triển hoạt động sản
xuất của loài người. Từ trước đến nay loài người đã trải qua nhiều giai đoạn
phát triển kinh tế, phát triển văn minh. Ví dụ ở thời kỳ kinh tế nông nghịêp,
kinh tế dựa chủ yếu vào lao động thô sơ, ở thời kỳ kinh tế công nghiệp kinh tế
dựa chủ yếu vào tài nguyên sang giai đoạn mới này kinh tế dựa chủ yếu vào
tri thức, tri thức là quyết định. Ai chiếm hữu được tri thức thì người đó thắng
trong cuộc cạnh tranh. Từ đó đặt ra rất nhiều vấn đề mới. Ví dụ, sở hữu công
nghịêp, sở hữu trí tuệ không phải là vấn đề mới, nó đã có từ hàng trăm năm
nay, song vấn đề là ở chỗ mọi thể chế, mọi quy định về sở hữu trí tuệ hiện nay
trên thế giới đều trở nên bất cập, không còn phù hợp nữa. Sắp tới khi xã hội
chuyển mạnh hơn sang xã hội thông tin thì vấn đề này sẽ càng gay cấn, quyết
liệt hơn.
Những số liệu nêu lên dưới đây cho thấy vai trò đặc biệt của giáo dục
và khoa học trong nền kinh tế tri thức. Trước hết nói về vai trò của khoa học:
trong kinh tế nông nghiệp, vai trò khoa học còn yếu, không đáng kể. Chuyển
sang kinh tế công nghiệp vai trò lớn hơn hẳn và tác dụng của khoa học rất rõ
ràng. Dẫn chứng là bình quân GDP các nước chi cho khoa học chỉ có từ 1 Ờ 2
% GDP song đóng góp của khoa học vào nền kinh tế đạt đến 30 Ờ 40% GDP.
Ðến nền kinh tế tri thức, vai trò khoa học trở nên cực kỳ to lớn, là yếu tố
Nhóm 1- Lớp TDL&MMT 25