Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:
Làm và sử dụng đô dùng dạy học môn tự nhiên và xã hội.
Người thực hiện : Ngô THị Phương Thanh.
Trường: Tiểu học Cát Linh - Đống Đa - Hà Nội
Hà Nội 2003 - 2004Phần I: Lý do chọn đề tài
*******************
Bậc học ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ là bậc Tiểu học. Các em sẽ
trở thành những công dân tốt mang trong mình những phẩm chất tạo thành cốt lõi của một
nhân cách Việt Nam trong giai đoạn mới. Những phẩm chất đó là: trí tuệ phát triển, ý chí cao,
tình cảm đẹp.
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng nên nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng
đã chỉ rõ là phải “Nâng cao chất lượng toàn diện bậc Tiểu học”. Trong chương trình hiện hành
của môn tự nhiên và xã hội ở lớp năm được chia thành ba phần: Khoa học – Lịch sử - Địa lý.
Những tri thức thu nhận được từ môn học này là những cơ sở ban đầu, những đường nét ban
đầu của nhân cách. Vì vậy việc dạy các em như thế nào để có hiệu quả giáo dục cao. Những tri
thức mà các em thu nhận được sẽ gắn chặt trong kí ức, tâm trí và một số kiến thức sẽ được
hiện thực hoá trong cuộc sống thơ ngây và cả cuộc đời của học sinh.
Trong nhiều năm qua ở các trường Tiểu học đã có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp
dạy học. Một điều quan trọng trong sự đổi mới đó là việc làm và sử dụng các phương tiện dạy
học để xoá bỏ tình trạng “thầy đọc, trò ghi” rồi “học thuộc lòng, nói lại theo sách”. Vì vậy việc
làm và sử dụng đồ dùng dạy môn Tự nhiên và xã hội theo tôi thấy là rất cấp thiết để góp phần
thực hiện phương pháp dạy học chương trình hoá.
Xuất phát từ những lí do đó mà tôi chọn đề tài: “Làm và sử dụng đồ dùng dạy học môn
Tự nhiên và xã hội 5”.
cái cụ thể và cái trìu tượng, phù hợp với các đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học. Nó còn
tạo điều kiện tích cực trong quá trình học tập của học sinh.
A/ sử dụng đồ dùng trực quan tạo biểu tượng trong việc dạy môn lịc sử 5.
************************
Bộ môn lịch sử trong trường Tiểu học là một bộ môn góp phần giáo dục toàn diện cho
học sinh. Tuy nhiên trong học sinh vẫn còn tồn tại tâm lí coi môn lịch sử là môn phụ, thụ
động, ít suy nghĩ. Cần sử dụng đồ dùng trực quan để tạo biểu tượng, để giờ dạy không tẻ nhạt
mà trở nên sinh động tạo hứng thú trong học tập cho học sinh.
Do đặc điểm của việc nhận thức lịch sử là không thể trực tiếp quan sát sự kiện, nhân vật
trong quá khứ cho nên việc tạo biểu tượng lịch sử là một yêu cầu rất quan trọng. Biểu tượng
lịch sử là hình ảnh chân thực về hiện thực trong quá khứ bằng hoạt động của các giác quan:
thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua
lời giảng của giáo viên.
Tạo biểu tượng là điều kiện để biết lịch sử trên cơ sở khôi phục đúng quá khứ như nó đã
tồn tại và là cơ sở quan trọng để hình thành khái niệm. Muốn đạt được điều này ở học sinh thì
đòi hỏi ở người giáo viên phải cung cấp tài liệu – sự kiện lịch sử chính xác, vừa sức tiếp thu
của học sinh, có hình ảnh cụ thể, sinh động. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa dễ hiểu sâu sắc
bản chất của sự kiện lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các tri thức, các khái
niệm lịch sử.
Năm 2004 này, cả nước ta tưng bừng kỉ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Vì
vây, bài học lịch sử:
“Điện Biên Phủ – Pháo đài thực dân sụp đổ”
có tầm quan trọng và tính cập nhật cao. Để thực hiện thành công giờ dạy này, trước hết
giáo viên phải thiết kế một bại học đầy đủ, cụ thể. Bản thiết kế phải mang nhiều tâm sức, trí
tuệ và thời gian vì “Muốn dạy học có kết quả, cần thiết kế thành công”.
Hai yếu tố chủ yếu của bản thiết kế này là:
1) Phương pháp dạy học: đảm bảo sự chủ động của học sinh.
- Hướng về học sinh, phát huy tính tích cực của các em trong học tập ở các khâu (lên
lớp, học ở nhà, kiểm tra, bài tập, thực hành )
- Khuyến khích học sinh nêu câu hỏi, thắc mắc, đặt vấn đề để tự trả lời, cùng bạn học
chhú ý quan sát của các em. Điều đó luôn luôn gợi cho các em suy nghĩ để giải quyết vấn đề
trung tâm của bài giảng.
Thứ hai
- Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan như sơ đồ, đĩa CD Room phù hợp với
bài dạy vừa nâng cao trình độ về lịch sử và nghiệp vụ cho giáo viên vừa giúp cho học sinh nắm
được bài học một cách có hiệu quả nhất
- Tại sao Pháp và Mỹ gọi Điện Biên Phủ là “Pháo đài không thể công phá”
- Thời gian và quy mô của chiến dịch.
- 56 ngày đêm (từ ngày 13 – 03 – 1954 đễn ngày 7 – 05 – 1954)
- Ta tấn công đợt một → Vòng vây sau đợt một.
- Ta tấn công đợt hai → vòng vây sau đợt hai.
- Ta tấn công đợt ba → giành chiến thắng.
- Dùng các hình ảnh thực trong quá khứ để xây dựng hình tượng anh hùng của:
Binh chủng pháo binh: Anh Tô Vĩnh Diện.
Binh chủng bộ binh: Anh Phan Đình Giót.
- Đặc biệt qua đoạn phim ngắn về cuộc tổng công kích chiều ngày 7 tháng 5 năm
1954 đã giúp cho học sinh như được sống thực trong chiến thắng ở Điện Biên Phủ
năm xưa.
- Tiếng bộc phá, tiếng súng lớn cùng khói lửa mịt mù báo hiệu giây phút thất bại
của thực dân Pháp đã tới.
- Tiếng cầu cứu của Đờ Cát với Cô - nhi qua bộ đàm cho thấy sự thảm hại của
khoa học kĩ thuật quân sự đế quốc thực dân giàu mạnh trước sức mạnh dân tộc Việt
Nam kiên cường.
- Tiếng hò reo chiến thắng vang dội trên chiến trường cùng với lá cờ đỏ sao vàng
được các chiến sĩ tung cao trên nóc hầm Đờ Cát và bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ đã khắc sâu trong tâm trí của các em.
Thứ ba
Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan tạo biểu tượng như vậy không chỉ tiếp nhận
kiến thức đã học, chuẩn bị để tiếp thu các bài học tiếp theo. Dùng sơ đồ, phim ảnh học sinh
được quan sát kĩ hơn, cụ thể sinh động hơn, phát hiện và nêu lên những quan điểm mới. Do
con". Vì vậy trong quá trình giảng dạy của thầy cô và tiếp thu của học sinh còn có nhiều hạn
chế. Từ thực trạng đó tôi đã suy nghĩ, tìm cách tạo ra đồ dùng dạy học để khai thác được nọi
dung bài học một cách đầy đủ, sâu sắc và sinh động.
Đây là một hệ thống các hình ảnh sưu tầm có xen kẽ các đoạn phim ngắn được sắp xếp
theo từng nội dung nhỏ của tiết học. Với màu sắc tươi tắn, hình dáng sống động như trong
thiên nhiên làm cho các em chú ý theo dõi, lôi cuốn các em vào bài học. Từ đó các em tự rút
ra những kiến thức sâu sắc, mở rộng sự hiểu biết của mình.
Để làm được đĩa CD Room này tôi đã sử dụng tư liệu lấy được từ mạng Internet, các
chương trình thế giới động vật ở truyền hình cáp và trnh ảnh sưu tầm.
Chương trình là một dạng phim video. Để tạo chương trình này, tôi đã sử dụng chương
trình chính là Adobe Premiere (chương trình biên tâp phim). Hỗ trợ thêm còn có chương trình
Adobe Photoshop (xử lí ảnh) và một số chương trình Video converting, Adobe Aftereffect (hiệu
ứng cho phim), Nero Burning Rom (ghi đĩa), Xara Webstyle (tạo chữ nổi).
Đĩa gồm 6 phần:
Phần 1: giới thiệu đề mục và tên bài.
Phần 2: Đời sống của chim.
Phần 3: Đặc điểm sinh sản của chim.
Phần 4: sự phát triển của trứng nở thành chim con.
Phần 5: Sự nuôi dưỡng chăm sóc của chim bố mẹ với chim con.
Phần 6: Phần tham khảo về sự muôn màu muôn vẻ của thế giới các loài chim.
Sau khi tiến hành giờ dạy tôi nhận thấy:
1) Bằng các hình ảnh trực quan, khoa học, chính xác học sinh hiểu nội dung bài một
cách dễ dàng và rút ra được kiến thức một cachs sâu sắc.
2) Qua từng đoạn phim ngắn, nhất là đoạn trứng phát triển nở thành chim con, học sinh
được tận mắt thấy một quá trình sinh sản đầy đủ, sâu sắc, sống động chỉ trong thời gian ngắn
(2 phút). Qua đó học sinh giải đáp được vấn đề mà giáo viên đã nêu:
- Con chim non trong trứng làm sao ra được khỏi vỏ trứng?
- Nó phá vỏ hay mẹ nó giúp?
3) Học sinh có cơ hội tranh luận cùng bạn học, được giải đáp và tìm hiểu về:
- Mục đích làm tổ, nguyên vật liệu mà chim sử dụng để làm tổ, làm tổ rất công phu, tổ
- Hình ảnh các dân tộc ít người mà học sinh chưa được quan sát ở lớp bốn (khi học bài
"các dân tộc mìên núi phía Bắc") có gắn liền với nhà cửa, nơi sống và xen kẽ một số đoạn
phim ngắn.
- Biểu đồ hình quạt giữa các dân tộc.
- Bảng thống kê tên và số lượng người của 54 dân tộc nước ta.
Để làm được các đồ dùng này tôi đã:
- Sưu tầm tranh ảnh về các dân tộc tại Viện bảo tàng dân tộc học.
- Tìm hiểu các số liệu thống kê mới nhất để đảm bảo cập nhật thông tin.
- Sưu tầm một số đoạn phim ngắn về nơi sinh sống, cảnh lao động sản xuất, sinh hoạt
văn hoá của các dân tộc.
Sử dụng tính năng quay phim, phát hình của máy ảnh số cắm ttrực tiếp qua tivi cho học
sinh quan sát.
Sau giờ dạy , tôi nhận thấy một số điều sau:
1) Đồ dùng trực quan đã giúp học sinh tự đi được trên con đường từ trực quan sinh động
đến tư duy trìu tượng. Các em có thể tự rút ra được kết luận hoặc giải thích được những vấn
đề mà giáo viên và chính bản thân các em nêu ra:
- Việt Nam là nước có ít hay nhiều dân tộc?
- Người dân tộc nào có số lượng đông nhất và thường sống ở đâu?
- Các dân tộc khác thường sống nhiều ở đâu?
- Em đã biết nhiều hình ảnh về dân tộc nào?
- Dân tộc nào có số lượng người ít nhất?
- Từ đỉnh Hà Giang tới mũi Cà Mau có người dân tộc nào sinh sống nhiều ở địa phương
đó?
2) Trong một thời gian ngắn các em có thể quan sát và nhớ lâu được nhiều hình ảnh mà
thao tác sử dụng tranh khó có thể có hiệu quả cao như vậy. Các em như được đi du lịch qua
màn ảnh nhỏ. Giáo viên có thể dừng hình để mở rộng thêm kiến thức về dân tộc và chuyển ý
sang phần Sự phân bố dân cư, kế hoạch điều chỉnh dân cư của nước ta.
Tạo cho giờ học không khí nhẹ nhàng, thoải mái, học sinh không bị căng thẳng, không
phải nghe thuyết trình nhiều, đơn điệu, khô khan. Các em có nhiều thời gian nêu ý kiến của
mình, khong phải chỉ đơn thuần có thầy "vấn", trò "đáp". Trong giờ học các em được tìm hiểu
tạo biểu tượng kkhông dừng lại ở việc xem học sinh có học thuộc, có nhớ hay không mà còn
xem các em đã nhớ, đã biết để hiểu như thế nào?
- Làm quen, biết cách sử dụng các phương tiện trực quan hiện đại ở trường và áp dụng
được ở nhà theo kịp bước phát triển chung của khoa học kĩ thuật.
- Trong giờ học, đồ dùng trực quan không phải mang nhiều cồng kềnh. Giáo viên giảng
được nhiều các thao tác. Việc dạy nhẹ nhàng, giờ học có không khí vui hơn.
- Đồ dùng trực quan góp phần xây dựng nhân cách cho học sinh. Tiểu học là cấp học
nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con
người. Các em có lòng yêu quê hương đất nước, yêu con người, yêu hoà bình… từ những hình
ảnh, lời nói sinh động trong từng bài học.
Phần IV: Kết luận
***************
Phần nội dung đề tài đã nêu lên những công việc, những biện pháp chính mà tôi đã cố
gắng thực hiện trong quá trình dạy học từ đầu năm đến nay.
Kết quả từ phía học sinh cho thấy:
- Bài kiểm tra chất lượng đầu năm còn chưa cao. Số điểm 9, 10 chưa nhiều, nhất là ở
lớp 5B và 5C.
- Số điểm hàng tháng giữa học kì I có tiến bộ hơn, đặc biệt là lớp 5E và 5C.
- Bài kiểm tra cuối học kì I:
+ Cả 3 lớp đạt 100% số điểm trên trung bình.
+ Điểm 5, 6 chỉ còn số lượng nhỏ.
+ Điểm 9, 10 chiếm số lượng cao hơn hẳn.
- Điểm trung bình các bộ môn cuối học kì I:
+ Lớp 5E: 80% đạt loại giỏi từ 9,0 trở lên
+ Lớp 5C: 62% đạt loại giỏi từ 9,0 trở lên
(Tính trung bình cả 3 môn Khoa - Sử - Địa).
Trên đây là những suy nghĩ và việc làm của tôi về: "Làm và sử dụng đồ dùng dạy học
môn Tự nhiên và xã hội 5".