1
Chương 3: ĐỘI TÀU LƯỚI KÉO VÀ
MÁY CHÍNH C
ỦA CHÚNG
1.2.1. Vỏ tàu lưới kéo: Đội tàu lưới kéo của tỉnh Kiên Giang
có s
ố lượng
khá l
ớn khoảng 3851 chiếc với 910.894 cv, trung bình 236,5 cv/
chi
ếc. Chiếm
53% t
ổng lượng tàu toàn tỉnh. Thống kê về số lượng, công suất tàu
theo ngh
ề và
địa bàn được thể hiện rỏ trên
bảng 1.6.
Từ những đặc điểm đã nêu trong các phần ở trên, chứng tỏ nghề
lưới kéo rất cần các nguồn máy có độ tin
cậy
cao; công suất lớn;
s
ử dụng và sửa chữa dễ dàng; HQSD tốt; giá thành hạ…Đây chính
là nguyên nhân và là ti
ền đề để động cơ CUMMINS được sử dụng
r
ộng rải như một nhân tố tất yếu.
1.2.1.1-Thực trạng công tác Thiết kế, đóng mới, sử dụng tàu lưới
kéo
ở tỉnh Kiên
Gian
kéo
đánh bắt xa bờ.
+Huy
ện Hòn Đất : khu vực giáp với Rạch
Giá
đóng tàu có
dung tích l
ớn,
riêng khu v
ực giáp với Kiên Lương thì tàu đóng mới có
dung tích nh
ỏ.
3
+Huyện Kiên Lương và Hà Tiên : Thường đóng các tàu có
dung tích trung bình tr
ở xuống ( khoảng 30-40 TĐK).
Ngoài ra còn có các khu v
ực khác như Châu Thành, An Biên,
Tân Hi
ệp,
Kiên H
ải đóng mới tàu với số
lượng ít.
T
ất cả các tàu khi đóng đều phải tuân theo sự quản lý thống
nhất của Bộ
Thủy sản về kiểm tra an toàn kỹ thuật và cấp đăng ký tàu. Theo
quy
ết định số
494/2001/QĐ-BTS ngày 15/6/2001 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản
đến tàu trong quá trình giám sát kỹ thuật thi công. Hồ sơ thiết kế tàu
4
chủ yếu có 2 dạng :
a-Tàu đóng mới theo MTCTT : là mẫu tàu, thuyền được đóng
và s
ử dụng lâu đời ở một địa phương nhất định. Mẫu đó phải thể
hiện rõ những ưu điểm về tính năng, kết cấu, phù hợp với tập quán
s
ử dụng và điều kiện ngư trường ở địa phương.
Quá trình giám sát
được chia thành các bước kiểm tra như sau:
+ Ki
ểm tra khung sườn ( Cong, đà, mối nối, liên kết, hệ thống
d
ằn…).
+ Ki
ểm tra ván vỏ, hầm boong, cabin ( giàn đáy, mạn, mối nối con
ván…).
5
+ Kiểm tra chung trước khi hạ thủy (độ kín nước, bả xảm, áo bao
tr
ục, chân
v
ịt, sò nước, bánh lái …)
+ Th
ử tàu (Động cơ chính, phụ; hộp giảm tốc; các thiết
bị
phụ
trợ; van; két;
ống; bơm; thiết bị hàng hải, khai thác; quay trở; …).
ản vẽ đường hình.
+B
ản vẽ bố trí chung.
+B
ản vẽ kết cấu cơ bản.
+B
ản vẽ bố trí buồng máy và lắp đặt hệ động lực.
1.2.1.2- Mầu tàu cá truyền thống của tỉnh.
Ở Kiên Giang các mẫu tàu đóng mới đều theo MTCTT mà
không qua gia
i đoạn thiết kế kỹ thuật. Mẫu
nầy
là sự đúc kết từ
kinh nghiệm dân gian có các tính năng ưu việt từ các tàu đã sử
6
dụng nên nó có kiểu dáng đẹp, tính năng phù hợp. Tuy nhiên khi
đóng các chủ tàu thường yêu cầu cơ quan thiết kế thay đổi ít nhiều
so v
ới mẫu tàu hiện có để phù hợp với nghề nghiệp, với từng ngư
trường, từng khu vực, đôi khi cũng chỉ vì yếu tố tâm linh.
T
ừ thực tế là việc đóng mới tàu của ngư dân chủ yếu dựa vào
kinh nghi
ệm
dân gian mà không theo quy trình: thi
ết kế thân tàu (phần vỏ tàu)
r
ồi mới tính
7
toán chân vịt ( thiết kế tính năng ) và chọn máy chính cho tàu. Do
ẫu TLK khơi đa số được trang bị động cơ có công suất
l
ớn hơn 450 cv và là mẫu dùng nhiều động cơ CUMMINS nhất. Các
m
ẫu này có các tỷ số B / D =(1,7 – 2) ; L / B= (3,6 - 3,84).
Các MTCTT c
ủa tỉnh Kiên Giang được trình bày ở bảng 1.7.
* Đặc điểm chung của vỏ tàu lưới kéo tỉnh
Kiên Giang
:
Hầu hết tàu cá của Kiên Giang là tàu vỏ gỗ, trong đó loại
có chi
ều dài thiết kế > 20 m khoảng trên 130 chiếc (chiếm tỷ lệ
>1,83 %). Loại vỏ gỗ bọc composite khá nhiều, chiếm tỷ lệ
khoảng 20%.
Vỏ
tàu lưới kéo của tỉnh Kiên Giang có các đặc điểm
chính nh
ư sau :
-
Phần mũi tàu có sống mũi ( lô ) thẳng, hướng nghiêng về phía
8
trước một góc khoảng 105
0
( so với ky chính ) nhằm tạo nên dạng
th
ủy động lực học để giảm lực cản, cắt sóng tốt. Khi chọn lô tàu phải
lưu ý chọn sao cho đoạn còn lại sau khi lắp ván vỏ xong phải còn lại
ít nh
ất 0,5m để tạo dáng khoẻ và đẹp cho tàu. Mặt cắt ngang phía
so v
ới chiều thẳng đứng nhằm tránh cho vòm đuôi ngập
không quá sâu vào n
ước và làm giảm sức cản của nước, nhất là
hi
ện tượng sóng vỗ vào vòm đuôi khi tàu lùi về phía sau.
Đoạn nối giữa thân tàu và vòm đuôi là một đường cong lượn
r
ất đẹp vừa có tác dụng hướng dòng tốt cho dòng nước phía đuôi tàu
đổ vào cung cấp cho chân vịt làm việc được tốt hơn, vừa tạo dáng
đẹp cho tàu.
V
ới hình dạng đuôi vuông của tàu đã cải thiện được tình trạng
l
ật tàu khi bị mắc cạn, đảm bảo lực nổi dự trữ ở đuôi tàu, tăng diện
tích làm vi
ệc, sinh hoạt và tăng lượng chở đáng kể. Tuy nhiên với
đuôi tàu quá béo đã làm tổn thất về tốc độ tàu, tính quay trở chậm,
làm gi
ảm tính định hướng khi tàu lùi do bị sóng vỗ .
-Đáy tàu có dạng bằng, chiều dài đoạn bằng nầy khoảng (0,3-
0,6)B. Ph
ần chìm dưới nước của nữa trước thân tàu thuôn đều về
phía mũi có tác dụng giảm sức cản cho tàu và đảm bảo tính cơ động
cho tàu khi di chuy
ển.
-Phần quan trọng nhất của con tàu và nằm ở đáy tàu là ky
chính (Típ
tàu ).
32
lắp
tời trích lực và chứa dây đuổi khi thu lưới.
Ph
ần Boong khai thác chiếm khoảng 50% chiều dài tàu, kéo
dài t
ừ cabin đến bổ trâu (bích buộc chính của tàu ) nằm phía mũi.
Trên di
ện tích nầy có khoảng 1/4 được dùng bố trí cần cẩu ( đối với
lo
ại 2,3 hoặc 4 chân).
Ph
ần dưới mặt boong khai thác là các hầm chứa cá.
- Cabin tàu được bố trí phía đuôi tàu và chiếm khoảng 40%
chi
ều dài tàu. Chiều rộng chiếm khoảng 0,5B, chiều cao bằng D.
35
Nó thường là loại 2 tầng, cá biệt có loại 3 tầng (thường ở tàu có
kích th
ước lớn hoặc tàu có xuất xứ từ Thái Lan). Theo chiều dài, đi
về phía lái thì cabin được chia làm 02 khu vực :
36
+Hầm máy : Nằm ngay phía dưới cabin và chiếm khoảng
80% chi
ều dài cabin. Việc bố trí hầm máy tại đây đã giúp rút
ng
ắn chiều dài hệ trục chân vịt; tăng diện tích mặt boong khai
thác và t
ăng thêm phần thể tích hầm cá. Buồng máy được thông
v
ới không gian bên ngoài qua hai hàng cửa sổ nằm ở hai bên