20
Chương 2: Tình hình hoạt động của
ngành th
ủy sản hiện nay và kế
hoạch trong tương lai
Trong năm 2006, SLKT là 311.618 tấn, đạt 99,56% kế hoạch,
t
ăng 1,98% so với cùng kỳ. Ngoài các đợt tăng giá dầu các năm
tr
ước, năm 2006 giá dầu điều chỉnh 2 đợt tăng 14,6%. Ngư dân làm
ngh
ề lưới kéo phải mất đi hàng chục triệu đồng chi phí chuyến biển
trong lúc giá h
ải sản không tăng tương ứng, hiệu quả khai thác càng
gi
ảm sút. Việc trả nợ vay ngân hàng của chủ tàu khai thác bị ảnh
hưởng, đời sống ngư dân lao động gặp nhiều khó khăn do mức ăn
chia th
ấp . Đã có trên 400 phương tiện khai thác tạm ngưng hoạt
động, lực lượng ngư phủ cũng biến động theo, gây khó khăn cho
ho
ạt động đánh bắt. Số tàu đóng mới trong năm là 73 chiếc -
21.028CV bình quân 288CV/chi
ếc, giảm 150 chiếc so với năm
2005.
V
ốn vay ưu đãi (VVUĐ) khai thác xa bờ thu được nợ gốc là
40,053 t
ỷ đồng (lũy kế)/69,84 tỷ đồng, đạt 57,3%, thu lãi được
14,602 t
ỷ đồng, trong đó riêng năm 2005 thu nợ gốc là 4,627 tỷ
ai
t
h
ác
Năm
Tổng
cộng
Quốc
doanh
N
goài
Quốc
doan
S
ố
lượng
tàu
c
á
C
ô
n
g
suất
(cv
)
Cô
n
g
suất
7.695
1
.
099
.
40
0
142,87
2005 305.565
3032 302.533
7.700
1
.
170
.
44
6
152,01
2006 311.618
- 311.618
7.330
1
.
176
.
65
1
160,53
22
Về định hướng phát triển trong tương lai, theo quy hoạch
+ Về Khai thác thủy
s
ản :
T
ập trung đầu tư cho chương trình đánh bắt xa bờ, tăng cường
n
ăng lực khai thác, sắp xếp lại cơ cấu nghề cá, chuyển đổi ngành
ngh
ề phù hợp đối với phương tiện khai thác gần bờ hiện có. Chú
tr
ọng bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thực hiện triệt để quyết định
1236/Q
Đ-UB ngày 29/6/1999 của Uỷ Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh
v
ề việc cấm khai thác thủy sản
bằng
nghề xiệp, te, bóng mực và
cào ven b
ờ trên địa bàn của tỉnh.
23
Trong khai thác cần chú trọng xây dựng đội tàu khai thác khơi
đủ mạnh, được trang bị các phương tiện, thiết bị khai thác hiện đại,
h
ệ thống thông tin liên lạc và cứu hộ đầy đủ. Đội tàu quốc doanh
làm nòng c
ốt. Chú trọng đội tàu đa chức năng, vừa khai thác vừa
ch
ế biến ngay trên biển, phát triển đội tàu dịch vụ hậu cần, thu
mua, b
ảo quản,
KTTS c
ủa tỉnh Kiên Giang
nh
ư sau :
1-Mặt thuận lợi :
- Được sự quan tâm và ủng hộ của chính quyền các cấp. Thủy sản
Kiên Giang
được đặt ở vị thế mũi nhọn của nền kinh tế
tỉnh nhà.
- Có m
ột ngư trường rộng lớn và đa dạng hải sản ứng với một trữ
lượng tôm, cá đảm bảo cung ứng cho khai thác trong thời gian tới.
- Có l
ượng tàu thuyền khá đông đảo và công suất lớn. Sẳn
sàng
đáp ứng những mục tiêu đã định. Mặt khác xu hướng phát
tri
ển lượng tàu lớn, bám biển dài ngày và có công suất lớn để
đ
ánh bắt ở vùng biển xa vẫn đang được địa phương khuyến khích
25
và ngư dân đầu tư nhiều. Đây là tiền đề cho luận văn này.
- Vi
ệc đầu tư vào lĩnh vực khai thác vẫn mang lại cho ngư dân nhiều
hi
ệu quả
mặc dù có nhiều khó khăn về giá dầu và thị trường
xu
ất khẩu.
- Có c
ạng khai thác hải sản non, khai thác bằng chất nổ, xung điện…
làm h
ủy hoại môi trường sinh thái biển vẫn còn nghiêm trọng và khó
lo
ại trừ triệt để.
- Hi
ệu quả kinh tế từ việc đầu tư vào khai thác hải sản vẫn ở
mức độ chấp nhận được nhưng trước tình hình biến động thất
th
ường của thị trường làm cho độ ổn định của nó không vững chắc.
- Tình hình t
ổ chức quản lý trong lĩnh vực ĐM-SCTT; khai thác
h
ải sản và DVHCNC còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Hầu hết các
đơn vị sản xuất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tự tổ chức
vi
ệc khai thác, cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm. Trong phân
ph
ối giá trị sản phẩm, nhiều chủ tàu chưa tính đúng, tính đủ các
kho
ản chi phí đầu vào như : trả nợ gốc và lãi vay đến hạn và quá
h
ạn nên có nơi đã xảy ra hiện tượng không rỏ hiệu quả đầu tư và
khai thác c
ủa từng con tàu.
- Công tác nghiên c
ứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ
khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực ĐM-SCTT và khai thác
h
ải sản ( KTHS) còn rất chậm, thụ động và chưa bắt kịp với tốc độ
Nghề lưới kéo của tỉnh Kiên Giang có bề dầy lịch sử khá ấn
t
ượng. Xuất phát từ nghề cào tôm ở ven bờ với những tàu có công
su
ất nhỏ chỉ khoảng 10-20 cv, đánh bắt ở ven các bãi mắm, giá và
ven các
đảo, chủ yếu đánh bắt các loại hải sản như tôm cá các loại
ph
ục vụ cho tiêu dùng nội địa trong những năm 60 của thế kỷ
trước. Với sự phát triển ngày càng cao của xã hội; nhu cầu tiêu thụ
của con người ngày càng lớn; thị trường ngày càng được mở rộng
và
ưa chuộng hàng hải sản của chúng ta, cộng vào đó là sự tiếp xúc
m
ột cách tự phát của ngư dân Kiên Giang với công nghệ khai thác
l
ưới kéo tiên tiến của khu vực, điển hình là Thái Lan, đã tạo nên
m
ột bước đột phá về tư tưởng và công nghệ trong KTHS bằng lưới
kéo c
ủa tỉnh Kiên Giang. Ban đầu là việc trang bị các thiết bị mặt
boong nh
ư : cần cẩu, tời khai thác,… rồi đến kết cấu tàu, máy
chính… sa
u đó là các dạng ngư cụ mới mà người Thái đã dùng khi
khai thác tr
ộm trên vùng biển Kiên Giang. Trong giai đoạn nầy chủ
yếu là phát triển nghề Lưới kéo đơn (LKĐơ), loại nghề chỉ có một
tàu lai dắt ngư cụ và dùng tang gông và dép để mở miệng ngư cụ.
Đầ
ững ngư trường xa hơn và mới hơn, điển hình của tình trạng
n
ầy là việc di chuyển đến ngư trường Đông Nam bộ của đội tàu của
công ty Quốc doanh đánh cá Kiên Giang (vào những năm 90 của
thế kỷ trước) đã mở ra một ngư trường mới giàu tiềm năng
trong vi
ệc KTHS, đặc biệt là cá bò.
Hi
ện nay, việc khai thác quá mức của nghề lưới kéo đã làm
cho các ngu
ồn lợi thuỷ sản (NLTS) ( đặc biệt là các NLTS ven bờ )
ngày càng b
ị cạn kiệt, một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao đã
b
ị tuyệt chủng. Do đó, cần phải có sự phân loại lại hệ thống lưới
kéo
để sao cho việc khai thác được hiệu quả và đồng thời bảo vệ
đượ
c NLTS. Trước tình hình đó cộng với công nghệ khai thác lưới
kéo c
ủa Trung Quốc đang phát triển rất mạnh, nhất là đánh bắt cá,
mà
điển hình là nghề “cào bay”. Tuy loại ngư cụ nầy có mắt lưới
khá to, ch
ổ nhỏ nhất khoảng vài tấc, chổ to nhất khoảng trên 1m,
nh
ưng do sử dụng động cơ kéo có công suất cao, di chuyển với tốc
độ
lớn nên nó vẫn bắt được các loại cá nhỏ lẫn cá lớn.
Xét trên quan