3 LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Trần Ngọc Tiếng, học viên lớp Cao học Kỹ thuật Tàu
thủy, khóa 2004-2007, xin cam đoan :
Mọi tài liệu, số liệu dùng tính toán, dẫn chứng đều hợp lệ và
chính xác, không vi phạm pháp luật.
Nếu có cá nhân, Tổ chức nào tranh chấp xung quanh các
tài liệu, số liệu trên, Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn.
4
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện và hoàn thành trong một thời gian
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, ẢNH ................................................11
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................14
Chương1 : HIỆN TRẠNG ĐỘI TÀU LƯỚI KÉO TỈNH KIÊN GIANG VÀ
MÁY CHÍNH CỦA CHÚNG
1.1-TÌNH HÌNH KHAI THÁC HẢI SẢN CỦA TỈNH KIÊN GIANG.............17
1.1.1. Ngư trường và ngành nghề khai thác hải sản .......................................17
1.1.2. Nghề lưới kéo............................................................................................25
1.2. ĐỘI TÀU LƯỚI KÉO VÀ MÁY CHÍNH CỦA CHÚNG...........................27
1.2.1. Vỏ tàu lưới kéo..........................................................................................27
1.2.2. Máy chính trên tàu...................................................................................39
1.2.3. Ngư cụ của nghề lưới kéo ........................................................................42
1.2.4.Các cơ sở dịch vụ khác..............................................................................43
1.3. NHẬN XÉT...................................................................................................44
Chương 2 : LỰA CHỌN MÁY CHÍNH CHO TÀU LƯỚI KÉO KIÊN GIANG
2.1. CHỌN ĐỘNG CƠ LÀM MÁY CHÍNH CHO TÀU LƯỚI KÉO ...............46
2.1.1. Thỏa mãn công suất đòi hỏi cuả tàu.......................................................47
2.1.2. Thỏa mãn về tốc độ ..................................................................................48
2.1.3. Thỏa mãn điều kiện lắp đặt trong buồng máy ......................................50
2.1.4. Chi phí nhiên liệu và dầu bôi trơn thấp.................................................51
2.2. VẤN ĐỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI LIÊN QUAN.........................51
2.2.1. Giá thành thấp..........................................................................................51
2.2.2.Nguồn cung cấp động cơ và thiết bị dồi dào...........................................52
6
2.2.3. Các vấn đề chính trị, xã hội có liên quan...............................................53
Chương 3 : ĐỘNG CƠ CUMMINS VÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHÚNG
KHI LÀM MÁY CHÍNH TRÊN TÀU LƯỚI KÉO CỦA TỈNH
3.1. HỌ ĐỘNG CƠ CUMMINS .........................................................................54
3.1.1. Giới thiệu..................................................................................................54
3.1.2.Phân loại.....................................................................................................58
3.1.3. Đặc điểm cấu tạo và tính năng kỹ thuật của động cơ CUMMINS ….59
M-V-CV - Máy - Vỏ - Chân vịt
HQSD - Hiệu quả sử dụng
LK Đơ - Lưới kéo đơn
LK Đô - Lưới kéo đôi
MTCTT - Mẫu tàu cá truyền thống
TLK - Tàu lưới kéo
ĐCTCD - Động cơ thủy chuyên dùng
ĐCBTH - Động cơ bộ thủy hóa
Thủy-mới 100% - Động cơ thủy chuyên dùng mới 100%
Thủy-Cũ vừa 80% - Động cơ thủy chuyên dùng cũ vừa 80%
Thủy-Cũ 50% - Động cơ thủy chuyên dùng cũ 50%
Bộ - Cũ vừa 80% - Động cơ bộ thủy hóa cũ vừa 80%
Bộ -cũ 50% - Động cơ bộ thủy hóa cũ 50%
VCĐ - Vốn cố định
VLĐ - Vốn lưu động
SLHV - Sản lượng hoàn vốn
DTHV - Doanh thu hoàn vốn
8 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. So sánh kích thước cá và mực khai thác ở Vịnh Thái Lan và Biển
Đông.
Bảng 1.2. Sản lượng và cơ cấu sản phẩm khai thác.
Bảng 1.3. Thống kê năng lực tàu thuyền và năng suất khai thác.
Bảng 1.4. Tỷ lệ % nghề theo số lượng tàu thuyền và tổng công suất.
Bảng 1.5. Sản lượng khai thác và lượng tàu thuyền của tỉnh Kiên Giang từ 2001-
2006
Bảng 1.6a. Bảng thống kê số lượng, công suất tàu thuyền và nghề toàn tỉnh (
Tính đến ngày 31/12/2006)
10
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ VÀ ẢNH
Hình 1.1. Dạng mũi tàu cá tỉnh Kiên Giang.
Hình 1.2. Mối nối giữa lô và típ ( Sống mũi và ky chính ).
Hình 1.3. Kết cấu phần đuôi tàu.
Hình 1.4. Đáy tàu và độ lượn phần đuôi
Hình 1.5. Khung sườn phần buồng máy.
Hình 1.6. Khung sườn tàu.
Hình 1.7. Mối nối cong đà.
Hình 1.8. Phần khung boong tàu.
Hình 2.1. Đồ thị vận hành tàu.
Hình 3.1. Mô hình động cơ Hvid Cummins.
Hình 3.2. Ông W.G.Irwin cùng chiếc xe hòm lắp động cơ Diesel cải tiến.
Hình 3.3. Hình chiếu đứng của động cơ nhìn từ phía ống góp.
Hình 3.4. Hình chiếu đứng của động cơ nhìn từ phía bơm nhiên liệu.
Hình 3.5. Hình chiếu bằng của động cơ.
Hình 3.6. Hình chiếu cạnh nhìn từ phía trước động cơ.
Hình 3.35. Cấu tạo bơm bánh răng.
Hình 3.36. Cấu tạo khung bọc lò xo của bộ điều tốc.
Hình 3.37. Cấu tạo bơm phun nhiên liệu.
Hình 3.38a. Hình chiếu bổ dọc của bộ kiểm soát (AFC) khi piston điều
12
khiển ở vị trí không có không khí.
Hình 3.38b. Hình chiếu bổ dọc của bộ kiểm soát (AFC) khi piston điều
khiển ở vị trí đầy không khí.
Hình 3.39. Lọc nhiên liệu.
Hình 3.40. Động cơ CUMMINS KTA 19M.
Hình 3.41. Động cơ CUMMINS KTA 19G.
Hình 3.42. Đường đặc tính của động cơ CUMMINS KTA 19M.
trên các tàu nằm ngoài chương trình như : HINO, MITSUBISHI, ISUZU,
DAEWOO, CUMMINS, CATERPILLAR…Và dần đã trở thành giải pháp khắc
phục được tình hình khan hiếm động cơ trong thời gian dài.
14
Xét về mặt khách quan thì vấn đề nầy đã gây nên những mâu thuẩn sau:
- Vấn đề sử dụng động cơ làm máy chính cho tàu cá thực tế đã không còn nằm
trong tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng. Ngư dân luôn muốn đầu tư ít
mà hiệu quả, trong khi các cơ quan chức năng lại luôn áp đặt những nguyên tắc
cứng nhắc trong quản lý mà không xét đến tính hiệu quả của nó.
- Các khâu thiết kế, chế tạo chưa được áp dụng triệt để, trong khi khai thác kỹ
thuật tàu cá thì thiếu đồng bộ và chưa dựa trên những luận chứng khoa học. Từ
đó chưa đánh giá được tính hiệu quả của nó.
-Trong quản lý và kiểm soát các hoạt động khai thác của mình, ngư dân vẫn
chưa nắm bắt đầy đủ mọi chi phí của mình do khả năng phân tích tài chính bị
hạn chế. Do đó không kiểm soát được sự dao động của hiệu quả sử dụng khi
khai thác con tàu, nhất là trong giai đoạn giá cả tăng cao như hiện nay
Xét về mặt chủ quan thì các cơ quan quản lý vẫn chưa đưa ra được câu trả
lời về tính hiệu quả trong đầu tư, hiệu quả trong kỹ thuật, hiệu quả kinh tế mang
lại từ việc sử dụng các động cơ ở trên nói chung và họ động cơ CUMMINS nói
riêng.
Xuất phát từ những mâu thuẩn trên tôi đã đề xuất thực hiện luận văn
“Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng họ động cơ CUMMINS làm máy chính
cho đội tàu lưới kéo của tỉnh Kiên Giang” với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngư dân và ngành đóng tàu của tỉnh
Kiên Giang nói riêng và của Việt Nam nói chung. Mặt khác củng cố và tăng
cường những hiểu biết trong lĩnh vực cơ khí thủy sản để hoàn thành nhiệm vụ
chuyên môn ở địa phương với chất lượng và hiệu quả cao nhất.
Luận văn này gồm có 5 Chương chính :
Chương 1 : Hiện trạng đội tàu lưới kéo tỉnh Kiên Giang và máy chính
của chúng.
16
Chương 1 : HIỆN TRẠNG ĐỘI TÀU LƯỚI KÉO TỈNH KIÊN
GIANG VÀ MÁY CHÍNH CỦA CHÚNG
1.1-TÌNH HÌNH NGÀNH KHAI THÁC HẢI SẢN TỈNH KIÊN GIANG
1.1.1. Ngư trường và ngành khai thác hải sản.
1.1.1.1. Vai trò và vị trí ngành thủy sản.
Tỉnh Kiên Giang nằm ở tọa độ từ 104
0
40’ đến 105
0
32’4” Kinh độ Đông
và từ 9
0
23’50” đến 10
0
32’30” Vĩ độ Bắc ( phần đất liền). Phía Đông và Đông
Nam giáp các tỉnh Cần Thơ, An Giang, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu,
phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200 km và phía Bắc giáp
Campuchia với đường biên giới đất liền dài 56,8 km. Địa hình phần đất liền
tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ phía đông bắc (độ cao trung bình từ
0,8 – 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 – 0,4 m) so với mặt biển,
đồng thời tạo nên nhiều keânh rạch, sông ngòi. Vùng biển có hai huyện đảo với
hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ.
Điều kiện khí hậu, thời tiết ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản như ít
thiên tai, không có bão đổ bộ trực tiếp, không rét (nhiệt độ trung bình hàng năm
từ 27 – 27,5
0
C) ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, rất thuận lợi cho cây trồng vật
nuôi sinh trưởng. Đồng thời với vị trí địa lý của tỉnh cũng rất thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế mở cửa, hướng ngoại do có cảng biển, sân bay và có khoảng
Tổng sản
lượng
196.535 210.100 218.500 239.219 256.200 270.000 286.000 295.000
Cá
149.599 155.000 159.515 173.571 181.900 191.700 206.200 210.500
Tôm
20.182 19.950 21.850 21.530 22.600 24.300 26.050 27.000
Mực
13.812 14.000 14.203 17846 19.500 20.250 23.000 26.000
Hải sản khác
12.942 21.150 22932 26.272 32.200 33.750 30.750 31.500
18
Theo kết quả điều tra của các đề tài và các số liệu thống kê của ngành thì
cơ cấu trong tổng sản lượng có đến 80% sản phẩm thủy sản khai thác được là do
nghề lưới kéo mang lại, nhưng trong số này các loài cá nhỏ có giá trị kinh tế thấp
chiếm đến 60 % sản lượng; tàu có công suất càng nhỏ tỷ lệ này càng cao. Đối
với tàu kéo tôm thì những loài tôm khai thác được có giá trị kinh tế cao như tôm
thẻ, tôm sú, tôm chì chỉ chiếm từ 7-10% sản lượng, còn lại là tôm gậy có giá trị
kinh tế thấp.
Bảng 1.3.
Thống kê năng lực tàu thuyền và năng suất khai thác
Năng suất trung bình/năm
Năm
Số lượng
tàu
Công suất
Bình quân
Cv/chiếc
Theo tàu
(t/ch)
Số lượng % 73,8 16,41 6,12 3,67
1997
Công suất % 72,63 18,36 4,82 4,19
Số lượng % 71,29 15,23 6,59 6,89
1998
Công suất % 78,17 12,82 5,39 3,62
Số lượng % 71,12 13,37 7,34 8,17
1999
Công suất % 77,04 11,8 5,44 5,72
Số lượng % 76,53 13,85 12,06 6,56
2000
Công suất % 76,21 12,28 6,93 4,58
Số lượng % 68,07 13,46 11,77 6,7
2001
Công suất % 76,48 12,00 6,93 4,59
Số lượng % 68,74 12,8 10,86 7,6
2002
Công suất % 76,27 10,68 7,72 5,33
Số lượng % 71,94 10,67 9,07 8,32
2003
Công suất % 80,05 8,33 5,9 5,72
Từ bảng 1.4 cho thấy:
+ Nghề lưới Kéo là nghề chính trong cơ cấu khai thác hải sản xa bờ
(68,07 - 76,53% về số lượng và 72,63 - 80,05% về công suất).
+ Nghề Rê chỉ chiếm 3,67 - 8,32% về số lượng và 3,62 - 5,72% về công suất.
+ Trong quá trình thực hiện chương trình khai thác hải sản xa bờ thì tỷ lệ
này đã có sự điều chỉnh. Những năm đầu 1997-1999 tập trung đầu tư cho nghề
lưới kéo xa bờ còn các năm 2000-2003 có xu hướng giảm.
20
1.1.1.2. Tình hình hoạt động của ngành thủy sản hiện nay và kế hoạch
Công suất
(cv)
Công suất
bình quân
(cv/chiếc)
2001 256.200
21.022 235.178
6.821
701.944
102,91
2002 270.000
11.469 258.531
7.030
814.570
115,87
2003 286.000
8955 277.045
7.390
989.655
133,92
2004 295.500
6885 288.615
7.695
1.099.400
142,87
2005 305.565
3032 302.533
7.700
1.170.446
152,01
được trang bị các phương tiện, thiết bị khai thác hiện đại, hệ thống thông tin liên
lạc và cứu hộ đầy đủ. Đội tàu quốc doanh làm nòng cốt. Chú trọng đội tàu đa
chức năng, vừa khai thác vừa chế biến ngay trên biển, phát triển đội tàu dịch vụ
hậu cần, thu mua, bảo quản, vận chuyển nhiên liệu nhằm tăng thời gian bám
biển, tăng hiệu quả đánh bắt hải sản. Tăng cường đào tạo đội ngũ thuyền trưởng,
22
máy trưởng, tạo điều kiện cho ngư dân tiếp cận với việc quản lý tàu có công suất
lớn, hiểu biết kỹ thuật khai thác khơi, thông hiểu ngư trường, thông tin liên lạc
hàng hải và kỹ thuật bảo quản sơ chế sản phẩm trên biển. Trong giai đoạn 2006-
2010 tăng thêm 340 chiếc, công suất tăng thêm là 107.000 cv, đến năm 2010
tổng số tàu thuyền của tỉnh đạt 7450 chiếc, tổng công suất 857.000 cv, công suất
bình quân 115 cv/chiếc.
+ Về dịch vụ hậu cần nghề cá (DVHCNC) :
Tiếp tục đầu tư có trọng điểm kết cấu hạ tầng và các cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ nghề cá. Tăng cường các cơ sở đóng mới - sửa chữa tàu thuyền
(ĐM-SCTT) , đặc biệt là phục vụ cho chương trình đánh bắt xa bờ (CTĐBXB).
Từ tình hình trên có thể thấy rỏ những mặt thuận lợi và hạn chế của ngành
KTTS của tỉnh Kiên Giang như sau :
1-Mặt thuận lợi :
- Được sự quan tâm và ủng hộ của chính quyền các cấp. Thủy sản Kiên Giang
được đặt ở vị thế mũi nhọn của nền kinh tế tỉnh nhà.
- Có một ngư trường rộng lớn và đa dạng hải sản ứng với một trữ lượng tôm,
cá đảm bảo cung ứng cho khai thác trong thời gian tới.
- Có lượng tàu thuyền khá đông đảo và công suất lớn. Sẳn sàng đáp ứng
những mục tiêu đã định. Mặt khác xu hướng phát triển lượng tàu lớn, bám biển
dài ngày và có công suất lớn để đánh bắt ở vùng biển xa vẫn đang được địa
phương khuyến khích và ngư dân đầu tư nhiều. Đây là tiền đề cho luận văn này.
- Việc đầu tư vào lĩnh vực khai thác vẫn mang lại cho ngư dân nhiều hiệu quả
mặc dù có nhiều khó khăn về giá dầu và thị trường xuất khẩu.
- Có cơ sở vật chất phục vụ tốt cho khâu DVHCNC qua hệ thống cảng cá và cơ
đó động cơ chính và chân vịt cũng được chọn theo kinh nghiệm. Kết quả là
không có quan điểm chính xác về sự làm việc hiệu quả của liên hợp máy - vỏ -
chân vịt ( M - V - CV).
24
Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng, sự phát triển bền vững của ngành
thủy sản Kiên Giang nói chung và hiệu quả sử dụng (HQSD) lượng tàu thuyền
công suất lớn nói riêng đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện về Kinh tế,
chính trị - xã hội (CT-XH), kỹ thuật, quản lý… trong đó HQSD động cơ chính
trên tàu phải được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn.
1.1.2.Nghề lưới kéo:
Nghề lưới kéo của tỉnh Kiên Giang có bề dầy lịch sử khá ấn tượng. Xuất
phát từ nghề cào tôm ở ven bờ với những tàu có công suất nhỏ chỉ khoảng 10-20
cv, đánh bắt ở ven các bãi mắm, giá và ven các đảo, chủ yếu đánh bắt các loại
hải sản như tôm cá các loại phục vụ cho tiêu dùng nội địa trong những năm 60
của thế kỷ trước. Với sự phát triển ngày càng cao của xã hội; nhu cầu tiêu thụ
của con người ngày càng lớn; thị trường ngày càng được mở rộng và ưa chuộng
hàng hải sản của chúng ta, cộng vào đó là sự tiếp xúc một cách tự phát của ngư
dân Kiên Giang với công nghệ khai thác lưới kéo tiên tiến của khu vực, điển
hình là Thái Lan, đã tạo nên một bước đột phá về tư tưởng và công nghệ trong
KTHS bằng lưới kéo của tỉnh Kiên Giang. Ban đầu là việc trang bị các thiết bị
mặt boong như : cần cẩu, tời khai thác,… rồi đến kết cấu tàu, máy chính….. sau
đó là các dạng ngư cụ mới mà người Thái đã dùng khi khai thác trộm trên vùng
biển Kiên Giang. Trong giai đoạn nầy chủ yếu là phát triển nghề Lưới kéo đơn
(LKĐơ), loại nghề chỉ có một tàu lai dắt ngư cụ và dùng tang gông và dép để mở
miệng ngư cụ.
Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ngư dân Kiên Giang bắt đầu phát
triển một nghề lưới kéo mới nhờ học tập kinh nghiệm của ngư dân vùng Đông
Nam bộ : nghề lưới kéo đôi (LKĐô), là loại nghề có đến 2 tàu lai dắt 1 ngư cụ và
việc mở miệng ngư cụ do hai tàu tự hiệu chỉnh mà không cần tang gông hoặc
dép.
bị đi cùng cũng phải đặc trưng và đắt đỏ. Từ đó cho thấy đầu tư vào nghề này
mang lại hiệu quả cao, nhưng chi phí đầu tư cũng lớn cho nên việc tính toán hiệu
quả đầu tư là điều hết sức quan trọng và cần thiết.
1.2. ĐỘI TÀU LƯỚI KÉO VÀ MÁY CHÍNH CỦA CHÚNG
1.2.1. Vỏ tàu lưới kéo: Đội tàu lưới kéo của tỉnh Kiên Giang có số lượng
khá lớn khoảng 3851 chiếc với 910.894 cv, trung bình 236,5 cv/ chiếc. Chiếm
53% tổng lượng tàu toàn tỉnh. Thống kê về số lượng, công suất tàu theo nghề và
địa bàn được thể hiện rỏ trên bảng 1.6.
Từ những đặc điểm đã nêu trong các phần ở trên, chứng tỏ nghề lưới kéo rất
cần các nguồn máy có độ tin cậy cao; công suất lớn; sử dụng và sửa chữa dễ
dàng; HQSD tốt; giá thành hạ…Đây chính là nguyên nhân và là tiền đề để động
cơ CUMMINS được sử dụng rộng rải như một nhân tố tất yếu.
1.2.1.1-Thực trạng công tác Thiết kế, đóng mới, sử dụng tàu lưới kéo ở tỉnh Kiên
Giang.
Theo số liệu thống kê của ngành Đăng kiểm tàu cá tỉnh Kiên Giang từ
2004 đến 2006 thì lượng tàu đóng mới tăng không đều, nhất là năm 2006 chỉ có
73 chiếc, nhưng có xu hướng là tàu đóng có dung tích khá lớn từ 70TĐK trở lên
và công suất >300 cv chiếm số lượng lớn. Đặc biệt loại có đường nước thiết kế >
20m xuất hiện càng nhiều, hiện có trên 130 chiếc.
Một đặc điểm nổi bật của công nghệ đóng tàu cá ở tỉnh Kiên Giang là
thường áp dụng Mẫu tàu cá truyền thống (MTCTT), có lai tạp một số đặc điểm
của tàu cá Thái Lan, đã tạo nên một mẫu tàu có nét thẩm mỹ cao và kết cấu
thuận lợi trong khai thác. Tàu cá thường được đóng mới ở 3 khu vực chính:
+Thành phố Rạch Giá : đây là nơi tập trung đóng những con tàu có dung tích
lớn và công suất cao, nhằm bổ sung cho đội tàu lưới kéo đánh bắt xa bờ.
+Huyện Hòn Đất : khu vực giáp với Rạch Giá đóng tàu có dung tích lớn,
riêng khu vực giáp với Kiên Lương thì tàu đóng mới có dung tích nhỏ.
27
+Huyện Kiên Lương và Hà Tiên : Thường đóng các tàu có dung tích trung
bình trở xuống ( khoảng 30-40 TĐK).