MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại ngày nay, chiến lược phát triển nhanh, bền vững nhất đối
với mỗi quốc gia đó là chú trọng hàng đầu của chính phủ đến công tác đổi mới
hệ thống Giáo dục – Đào tạo, đầu tư, quan tâm đến giáo dục, tạo tiền đề quan
trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước. Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra
nhanh, mạnh, có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên cả nước, trên tất cả các lĩnh
vực. Trong đó, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển giáo dục đào
tạo, coi "giáo dục là quốc sách hàng đầu". Đại hội X của Đảng cộng sản Việt
Nam tiếp tục khẳng định: " Giáo dục và Đào tạo cùng khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu". Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất
lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của ban Bí thư Trung
ương Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm
chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". [4, tr1]
Một trong các yếu tố quyết định cho sự thành công của giáo dục là đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quyết định đến
chất lượng và hiệu quả giáo dục của mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục.
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục nước ta được xây dựng ngày càng đông đảo, phần lớn có bản
lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, trình độ
1
chuyên môn nghiệp vụ ngày càng nâng cao. Đã góp phần quan trọng thực hiện
mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần
vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học huyện
Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường Tiểu học.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Các trường Tiểu học thuộc huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ.
4.3 Giới hạn về khách thể điều tra:
- Thành phần: Đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học bao gồm: Hiệu
trưởng và Phó hiệu trưởng.
- Số lượng: 68 Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng.
5. Giả thuyết khoa học.
Đội ngũ CBQL trường Tiểu học sẽ phát triển cân đối và đồng bộ, đáp
ứng được sự phát triển của giáo dục và đào tạo nói chung và của giáo dục
Tiểu học nói riêng, nếu đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học được phát
triển trên cơ sở một hệ thống các biện pháp có căn cứ khoa học và phù hợp
với thực tiễn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài.
3
6.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường
Tiểu học huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Ngành giáo
dục và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
tra, chỉnh lý...phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động giúp người thủ
trưởng, người đứng đầu phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm,
trong cộng đồng, trong tổ chức đạt mục tiêu đề ra.
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quản lý nói chung, quản
lý giáo dục nói riêng là vấn đề luôn được sự thu hút, quan tâm của các nhà
lãnh đạo, các nhà khoa học và các nhà quản lý.
Vấn đề quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là
vấn đề có ý nghĩa trong việc " Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài", đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục – đào tạo của nhà trường.
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục
của các tác giả như: "Những vấn đề về quản lý trường học" (P.V Zimin, M.I
Kônđakốp), "Quản lý vấn đề quốc dân trên địa bàn huyện", (M.I Kônđakốp).
Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh
nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trưởng nhà trường cho
rằng " Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc
tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học". Cùng với nhiều tác giả khác ông
đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý
giữa Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra.
5
Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước cho đến
nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục có giá trị
đó là: "Giáo trình khoa học quản lý" của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB
ĐHQG Hà Nội năm 2011); "Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý
luận và thực tiễn" của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB
thống kê Hà Nội 1999); " Tâm lý xã hội trong quản lý" của Ngô Công Hoàn
(NXB ĐHQG Hà Nội năm 2002); "Tập bài giảng lý luận đại cương về quản
lý" của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội
1998)...Bên cạnh đó còn một số bài viết đề cập đến quản lý giáo dục như: "
Vấn đề kinh tế thị trường, quản lý nhà nước và quyền tự chủ các trường học"
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Ngày nay
khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi
như: "Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ..." đều
xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ đó là: " Khối đông
người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng
chiến đấu".
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có
chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một
lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không
cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định.
Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số
đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống
nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
1.2.4 Khái niệm “Cán bộ”.
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt
Nam thì cán bộ có nghĩa là:
Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước.
7
Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân
biệt với người thường không có chức vụ.
1.2.5 Khái niệm “Quản lý”.
Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ
chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan".
Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể
quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác
định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến
hành những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch
định các chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối
hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật
lực, nhân lực...để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối
yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng
tới mục tiêu. Đó là "bí quyết" làm việc của người quản lý được khám phá
trên sự đúc rút kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm thực tế được khái
quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết,
đó chính là khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý
vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
+ Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể
như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe..., vừa có thể là sự việc như: luật lệ,
quy chế, quy định...Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện
trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động
qua lại, tương hỗ nhau. Theo Nguyễn Minh Đạo "Chủ thể làm nảy sinh các
tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần
9
có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục
đích của chủ thể quản lý". [9, tr 7]
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp
hợp lý các tác động nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp
chặt chẽ giữa tri thức và lao động. Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng
quản lý (đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế đúng.
Nguyễn Minh Đạo cho rằng "Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt
của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và
chuyên môn hoá việc quản lý".[9, Tr 64].
Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ
bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá
trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Tổ hợp tất cả các chức năng
quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Chức năng quản lý được quy
định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý.
triển và phẩm chất, năng lực của nhà quản lý cũng phát triển.
Hoạt động quản lý có thể được sơ đồ hoá như sau
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quản lý
11
Chủ thể quản lý
Cơ chế quản lý
Đối tượng quản lý
Mục tiêu quản lý
Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn
các quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng
với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với các quy luật khách quan.
1.2.6 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.
1.2.6.1. Khái niệm Quản lý giáo dục:
Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục.
Vậy, quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật
được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các
phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất
lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ.
Theo M.I. Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích
đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và
vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và
tâm lý của trẻ em". [18, Tr 10].
Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: " Quản lý nhà trường, quản lý
giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và
thế hệ trẻ và đối với từng học sinh" [15, Tr 34].
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ
bộ, kế hoạch hoá...) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan
trong hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng" [30, Tr 93].
13
1.2.6.2. Chức năng quản lý giáo dục:
Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục có
hai chức năng tổng quát sau:
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện
hành của nền kinh tế - xã hội.
- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh
tế - xã hội. Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường
để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế.
Từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục phải quán triệt, gắn
bó với bốn chức năng cụ thể là:
- Kế hoạch hoá.
- Tổ chức.
- Chỉ huy điều hành.
- Kiểm tra.
Hệ thống quản lý giáo dục nhà trường hoạt động trong động thái đa
dạng, phức tạp. Quản lý giáo dục là quản lý các mục tiêu vừa tường minh
vừa trong mối tương tác của các yếu tố chủ đạo:
- Mục tiêu đào tạo.
- Nội dung đào tạo.
- Phương pháp đào tạo.
- Lực lượng đào tạo.
- Đối tượng đào tạo.
- Hình thức tổ chức đào tạo.
- Điều kiện đào tạo.
- Môi trường đào tạo.
- Quy chế đào tạo.
- Bộ máy tổ chức đào tạo.
trường mà trọng tâm là quá trình dạy và học.
Bản chất của công tác quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy, điều
khiển sự vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành
tố. Mối quan hệ đó là do quá trình sư phạm trong nhà trường quy định.
Quản lý trường học nói chung và quản lý trường tiểu học nói riêng là
tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học
tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc
phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích giáo dục, đào tạo.
1.2.7 Đội ngũ cán bộ quản lý.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng
chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ
thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định. [29, tr32]
Có thể hiểu đội ngũ là một tập thể gắn kết với nhau, cùng chung lý
tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo
một nguyên tắc. Ví dụ: " Đội ngũ trí thức"; " Đội ngũ nhà giáo"; " Đội ngũ y,
bác sỹ"...v.v. Khi xem xét đội ngũ người ta thường chú ý tới ba yếu tố tạo
thành đó là: Số lượng, cơ cấu đội ngũ; trình độ đội ngũ; phẩm chất, năng lực
đội ngũ.
Theo đó, đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học được hiểu là tập hợp
những người làm công tác quản lý ở các trường tiểu học, là những người
thực hiện điều hành quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường tiểu học, đây
là những chủ thể quản lý bên trong nhà trường.
1.2.8 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học.
Chúng ta đang sống trong thời kỳ của nền kinh tế tri thức, nền kinh tế
tri thức đã làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế lao động, nền kinh tế chủ yếu dựa
vào trí tuệ con người. Tri thức ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp của chức
năng sản xuất. Đầu tư cho phát triển tri thức trở thành yếu tố then chốt cho
16
sự tăng trưởng kinh tế vững chắc. Như vậy người "nhạc trưởng" chỉ huy dàn
nhạc lúc này không thể như trước được nữa, đòi hỏi phải có trình độ cao hơn,
trị, kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu chuẩn đối với cán bộ quản lý cùng
những đặc điểm tâm lý của người CBQL để đề ra nội dung, giải pháp cho
phù hợp.
1.3. Một số vấn đề chung về nhà trường Tiểu học.
1.3.1 Vị trí của trường Tiểu học:
Điều 2 - Điều lệ trường Tiểu học xác định: " Trường Tiểu học là cơ sở
giáo dục của bậc Tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng". [5, Tr 5].
Tiểu học là bậc học nền tảng ban đầu trong việc hình thành, phát triển
nhân cách của con người. Đó là cơ sở nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ
thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
1.3.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học:
Mục tiêu giáo dục tiểu học theo điều 27 - Luật giáo dục: "Giáo dục
tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở". [26, Tr 15].
Mục tiêu quản lý trường tiểu học là quá trình sư phạm diễn ra trong
nhà trường, sử dụng có hiệu quả về nhân lực, tài lực, vật lực nhằm đạt hiệu
quả cao nhất.
Quản lý trường tiểu học chủ yếu là quản lý hoạt động dạy, học, các
hoạt động phục vụ cho việc dạy và học nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Mục tiêu cụ thể của giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay cần đạt
được một số vấn đề:
Củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học trong cả
nước, nâng tỷ lệ đạt chuẩn, củng cố vững chắc thành tựu PCGDTH – CMC.
18
Duy trì, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở bậc tiểu học, chuẩn
bị tốt các điều kiện cho học sinh học 2 buổi/ngày. Đổi mới phương pháp dạy
và học, dạy đủ các môn bắt buộc và tự chọn. Xây dựng và đánh giá các
trường theo chuẩn Quốc gia. Xây dựng các điều kiện bảo đảm việc giáo dục
- Mỗi trường tiểu học có một giáo viên tổng phụ trách Đội thiếu niên
tiền phong Hồ Chí Minh và sao nhi đồng, có trách nhiệm phối hợp với nhà
trường tổ chức và quản lý các hoạt động của Đội và hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp.
Sự phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong nhà
trường tạo nên một sức mạnh tổng hợp trong việc quản lý trường học.
Mỗi trường tiểu học chịu sự quản lý trực tiếp về chuyên môn, hành
chính của Phòng GD&ĐT cũng như cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương
nơi trường đóng.
1.3.4 Quy định hạng trường Tiểu học:
Hạng trường được quy định theo cơ cấu vùng, miền và theo số lớp học
mỗi trường của mỗi vùng miền. Quy định hạng trường giúp cho việc thực
hiện chế độ phụ cấp của Nhà nước đối với cán bộ quản lý nói chung, cán bộ
quản lý trường tiểu học nói riêng được công bằng hơn. Hạng trường của cấp
Tiểu học được quy định như sau:
Bảng số 1.1: Quy định hạng trường tiểu học.
TT
Trường tiểu học thuộc vùng,
miền
Hạng 1 Hạng 2 Hạng 3
1 Trung du, đồng bằng, thành phố. Từ 28 lớp trở lên Từ 18 đến 27 lớp Dưới 18 lớp
2 Miền núi, vùng sâu, hải đảo Từ 19 lớp trở lên Từ 10 đến 18 lớp Dưới 10 lớp
(Nguồn: Thông tư số 33/2005 /TT-BGD&ĐT, Hướng dẫn thực hiện chế độ
phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập. [23, Tr 2]
1.4 Những nội dung và yêu cầu của việc phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý trường tiểu học giai đoạn 2011-2020.
20
1.4.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng.
a, Hiệu trưởng:
Theo Điều lệ trường tiểu học, Hiệu trưởng trường tiểu học có những
Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;
Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý theo
quy định. [6, Tr 9, 10]
1.4.2 Quy hoạch, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý.
Quy hoạch đội ngũ CBQL là một trong những hoạt động quản lý của
người quản lý và các cơ quan quản lý giúp cho người quản lý và cơ quan
quản lý biết được số lượng, cơ cấu tuổi, trình độ cơ cấu chuyên môn, cơ cấu
giới...của đội ngũ cán bộ quản lý từ đó có những biện pháp điều chỉnh cho
phù hợp. Quan trọng hơn việc quy hoạch làm cơ sở chủ yếu mang tính định
hướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý vào
hoạt động quản lý trong các trường tiểu học nói riêng, trong ngành giáo dục
nói chung.
Để hoàn thiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, thì cấp quản lý phải
lập kế hoạch cho sự cân đối trong tương lai bằng cách so sánh số lượng
CBQL cần thiết với số lượng CBQL hiện có, phân tích độ tuổi, trình độ,
năng lực, khả năng làm việc, thời gian công tác của từng người trong đội
ngũ, để ấn định số lượng cần thiết đưa vào quy hoạch. Mặt khác cấp quản lý
còn phải căn cứ vào nhu cầu, quy hoạch mạng lưới trường lớp trong tương
lai theo kế hoạch phát triển để tạo nguồn CBQL cũng như các nguồn lực
khác. Quy hoạch với phương châm "động" và "mở": Một chức danh có thể
quy hoạch nhiều người, một người có thể quy hoạch nhiều chức danh. Quy
hoạch thường gắn kết với các khâu: Nhận xét, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng,
luân chuyển, sắp xếp, sử dụng, bãi miễn. Quy hoạch luôn được xem xét,
đánh giá, bổ sung, điều chỉnh hàng năm, có thể đưa ra khỏi quy hoạch những
22
người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi quy hoạch, bổ sung vào quy hoạch những
nhân tố mới, có triển vọng. Quy hoạch cán bộ phải mang tính khoa học, thực
tiễn, vừa tạo được nguồn lực, vừa tạo được động lực thúc đẩy sự phấn đấu
vươn lên của cán bộ.
1.4.3 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người cán bộ quản lý
Hợp tác và tôn trọng cha mẹ học sinh;
Hợp tác với chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội trong giáo
dục học sinh.
+) Học tập, bồi dưỡng:
Học tập, bồi dưỡng và tự rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo
đức; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; năng lực lãnh đạo và quản lý
nhà trường;
Tạo điều kiện và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên học tập, bồi
dưỡng và rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức; năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ sư phạm.
b. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm:
+) Trình độ chuyên môn:
Đạt trình độ chuẩn đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo
dục đối với giáo viên tiểu học;
Hiểu biết chương trình và kế hoạch giáo dục ở tiểu học;
Có năng lực chỉ đạo, tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục có hiệu
quả phù hợp đối tượng và điều kiện thực tế của nhà trường, của địa phương;
24
Có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, y tế, văn hóa, xã hội liên
quan đến giáo dục tiểu học.
+) Nghiệp vụ sư phạm:
Có khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và giáo dục
nhằm phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh;
Có khả năng hướng dẫn tư vấn, giúp đỡ giáo viên về chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm của giáo dục tiểu học;
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng ngoại ngữ hoặc
tiếng dân tộc nơi công tác phục vụ cho hoạt động quản lý và giáo dục.
c. Năng lực quản lý trường tiểu học:
+) Hiểu biết nghiệp vụ quản lý:
Hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục theo quy định;