GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌCAN GIANG ĐẾN NĂM 2015. - Pdf 25

ỦY BÂN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TÔN ĐỨC THẮNG
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY
VÀ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌCAN GIANG ĐẾN NĂM 2015.
Học viên: Nguyễn Văn Hòa
Lớp: B58. Năm học 2012-2013
Người hướng dẫn: CN. Lê Quang Vinh An Giang, tháng 5 năm 2013

Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2
TRONG GIÁO DỤC 2
1.1. Một số khái niệm 2
1.1.1. Khái niệm công nghệ thông tin 2

DANH MỤC TÀI LIỆU 22 Trang 1

MỞ ĐẦU

Nƣớc ta đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế do đó nền giáo dục đại học
nói riêng và hệ thống giáo dục quốc dân nói chung đã và đang bƣớc vào giai
đoạn hội nhập và cạnh tranh với thế giới. Một trong bảy nhiệm vụ đƣợc nêu ra
trong Nghị quyết 14/2005/NQ-CP cho ngành giáo dục là đổi mới nội dung,
phƣơng pháp và quy trình đào tạo. Trong đó yêu cầu đổi mới phƣơng pháp đào
tạo phải đảm bảo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của ngƣời
học và sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập. Công nghệ
thông tin (CNTT) là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy, học tập và
quản lý đào tạo nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lƣợng giáo dục đại
học trong đào tạo theo học chế tín chỉ.
Trƣờng đại học An Giang là trƣờng đại học non trẻ trong vùng Đồng bằng
sông Cửu Long. Nhƣng sau hơn mƣời năm thành lập nhà đƣợc đã những thành
tích trong nhiệm vụ đào tạo và chuyển giao khoa học công nghệ. Ban Giám hiệu
nhà trƣờng luôn quan tâm và chỉ đạo ứng dụng CNTT trong toàn bộ hoạt động
của nhà trƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo. Một trong những yếu tố dẫn
đến thành công trong việc chuyển sang phƣơng thức đào tạo theo học chế tín
vào năm 2009 là nhà trƣờng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong
quản lý và giảng dạy.
Bên cạnh những thành công bƣớc đầu của việc đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong toàn bộ hoạt động của nhà trƣờng thì cũng còn những tồn tại, hạn
chế. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý, giảng dạy và
học tập, tôi chọn đề tại tốt nghiệp lớp trung cấp chính trị - hành chính B58 là
“Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập

phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công
cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cƣờng
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân,
Trang 3

đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nƣớc, CNTT đƣợc ứng dụng nhằm cung cấp
thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời, đáp ứng mọi yêu cầu của bộ máy Nhà
nƣớc trong việc ra quyết định và điều hành công việc của Nhà nƣớc, cải tiến
việc cung ứng thông tin từ phía Nhà nƣớc cho nền kinh tế xã hội và cho nhân
dân, góp phần cải tiến tổ chức của bộ máy Nhà nƣớc.
1.2. Quan điểm của Đảng ta về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo
dục.
Đảng và Nhà nƣớc luôn quan tâm, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển bền vững, là nhân tố quyết định thành công
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Bắt đầu từ Chỉ thị 58 của
Ban chấp hành Trung ƣơng (58-TW), ngày 17 tháng 10 năm 2000, về đẩy mạnh
ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chỉ thị cũng
nhấn mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo “Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học,
ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập
của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo
dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh :
"Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra
sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của nền kinh tế
Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc
tế”.

khả năng tham gia thị trƣờng đào tạo nhân lực CNTT quốc tế, từng bƣớc trở
thành một trong những nƣớc cung cấp nhân lực CNTT chất lƣợng cao cho các
nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Từ mục tiêu chung này quyết định này cũng
nêu lên các mục tiêu cụ thể nhƣ sau:
- Đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề đƣợc đào
tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT. Đến năm 2010, 100% sinh
Trang 5

viên đại học, cao đẳng, học sinh trung học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ
sở và 20% học sinh tiểu học đƣợc học tin học và đến năm 2015 đạt 100% đối
với học sinh trung học cơ sở, 80% học sinh tiểu học đƣợc học tin học;
- Tăng cƣờng đào tạo, bồi dƣỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên dạy tin
học cho các cơ sở giáo dục phổ thông, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng
dạy và trong quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học. 65% số giáo viên có đủ khả
năng ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, bồi dƣỡng;
- Đẩy mạnh việc phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng CNTT. Đảm bảo
đa số cán bộ, công chức, viên chức; đƣợc đào tạo về ứng dụng CNTT trong công
việc của mình.
Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2007 đến này thì hàng năm
Bộ đều ban hành hƣớng dẫn thực nhiện vụ CNTT. Trong đó Hƣớng dẫn
4987/BGDĐT-CNTT, ngày 2 tháng 8 năm 2012 nêu rõ đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong công tác điều hành và quản lý hành chính tại các sở DGĐT và các
trƣờng đại học nhƣ sử dụng các phần mềm sếp thời khóa biểu, phần mềm phổ
cập giáo dục, triển khai các mô hình website tiên tiến.
Đặc biệt Hƣớng dẫn này chỉ đạo ứng dụng CNTT trong học tập và giảng
dạy theo hƣớng ngƣời học có thể học qua nhiều nguồn học liệu; hƣớng dẫn cho
ngƣời học biết tự khai thác và ứng dụng CNTT vào quá trình học tập của bản
thân, thay vì chỉ tập trung vào việc chỉ đạo giáo viên ứng dụng CNTT trong
giảng dạy, trong tiết giảng.
Tạo thƣ viện học liệu mở: Huy động giáo viên tham gia đóng góp các bài

sông Cửu Long, đồng thời nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ
trong vùng.
Trƣờng có 37 ngành trình độ đại học, cao đẳng. Số thí sinh dự thi tuyển
sinh hàng năm khá lớn, có năm hơn 11.000 ngƣời (2012). Đây là tín hiệu đáng
mừng, cho thấy sự ra đời của Trƣờng Đại học An Giang đáp ứng đúng nhu cầu
thật sự ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tính đến nay, Trƣờng có 9 khóa tốt nghiệp
với 10.256 kỹ sƣ, cử nhân. Đa số họ đều có việc làm ổn định và có đóng góp
đáng kể cho đơn vị mình công tác
Từ những ngày đầu khi mới thành lập, trƣờng chỉ có 190 cán bộ, công
chức, gần 40 ngƣời có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Hiện nay, trƣờng đã có 878 cán
bộ, công chức, trong đó, trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là 317 ngƣời (1 phó giáo sƣ, 17
tiến sĩ), 113 ngƣời đang theo học sau đại học trong và ngoài nƣớc, 56 giảng viên
chính. Hiện tại trƣờng có 6 khoa: Sƣ phạm, Nông nghiệp và Tài nguyên thiên
nhiên, Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Công nghệ Kỹ thuật Môi trƣờng, Văn
hóa nghệ thuật, Lý luận chính trị.
Hiện tại, trƣờng có 11.857 sinh viên. Cũng đến năm 2015, trƣờng phấn
đấu đạt chỉ tiêu 70% giảng viên có trình độ sau đại học. Trƣờng đang tập trung
Trang 8

đào tạo nguồn nhân lực các ngành nghề mà tỉnh nhà và khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long đang cần nhƣ kỹ sƣ nông nghiệp, công nghệ sinh học, kinh tế, công
nghệ sau thu hoạch, dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Nhà trƣờng đã và đang nỗ lực đổi mới, nâng cao phƣơng thức, chất lƣợng
đào tào. Từ năm học 2009-2010, nhà trƣờng đã chuyển toàn bộ các ngành đào
tạo đại học, cao đẳng chính quy sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Đây là
phƣơng thức đào tạo tiên tiến mà các nƣớc phát triển đã áp dụng từ lâu, song ở
Việt Nam còn khá mới mẻ, nhƣng phƣơng thức đào tạo này có nhiều ƣu điểm so
với phƣơng thức đào tạo theo niêm chế, bởi tính mềm dẻo của chƣơng trình đào
tạo nhƣ sinh viên có thể lựa chọn các học phần để học trƣớc, học theo tiến độ
nhanh để tốt nghiệp sớm. Một ƣu điểm nữa của phƣơng thức đào tạo này là giảm

dạy, nghiên cứu của giảng viên và sinh viên. Việc giảng viên và sinh viên có thế
kết nối Internet mọi lúc mọi nơi trong khuôn viên của nhà trƣờng giúp cho giảng
viên và sinh viên dễ dàng kết nối và khai thác các nguồn tri thức khổng lồ của
nhân loại. Từ đó giúp cho giảng viên và sinh viên có cơ hội tiếp cận tri thức mới
của nhân loại và thu hẹp khoảng cách về địa lý đối với các trƣờng lớn trong khu
vực. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết dẫn của việc chuyển đổi thành
công từ phƣơng thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo phƣơng thức học
chế tín chỉ. Vì ứng dụng CNTT giúp sinh viên chủ động hơn trong tự học nhƣ
tìm hiểu sâu hơn hoặc mở rộng khối kiến thức trên lớp thông qua công cụ tìm
kiếm trên Internet.
Công nghệ thông tin cũng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng
dạy, học tập nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lƣợng giáo dục đại học
trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Nhà trƣờng thấy đƣợc điều này nên ngay từ
lúc thành lập trƣờng đã tiến hành lặp đặt các máy chiếu (Projector). Đến nay có
khoảng tám mƣơi phần trăm (80%) các giảng đƣờng, phòng học tại khu trung
tâm đƣợc trang bị LCD. Các giảng viên đều soạn bài giảng (slides) bằng cách sử
dụng hình ảnh, âm thanh, bảng biểu, lƣu đồ, mô hình, thí nghiệm ảo. Những tƣ
liệu trực quan này làm sáng tỏa những kiến thức trừu tƣợng từ đó kích thích
Trang 10

hứng thú học tập của sinh viên. Giảng viên có thể tự tạo hoặc tìm kiếm những tƣ
liệu trực quan trên từ Internet.
Ngoài ra, không có CNTT thì hệ thống quản lý đào tạo và quản lý thông
tin sinh viên trong học chế tín chỉ không thể vận hành đƣợc. Khi các trƣờng đại
học thực hiện chủ trƣơng của Bộ Giáo và Đào tạo chuyển sang đào tạo theo học
chế tín chỉ, thì một trong những khó khăn mà các trƣờng đại học gặp phải là việc
triển khai hệ thống quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ. Vì bản chất của học chế
tín chỉ là cá thể hóa việc học trong một nền giáo dục đại học theo số đông, quá
trình học trình học là quá trình kiến thức đƣợc góp nhặt dần, tích lũy đến đâu ghi
nhận đến đấy. Do đó hệ thống thông tin quản lý đào tạo theo tín chỉ phải mềm

chỉ mang tính chất cô động. Từ những kiến thức đó sinh viên phải tìm hiểu xâu
hơn thông qua việc khai thác kho dƣ liệu trên Internet hay là tìm hiểu những ứng
dụng của các kiến thức mà sinh viên lĩnh hội đƣợc. Đặc biệt hiện nay không ít
sinh viên có thái độ học tập chƣa nghiêm túc chẳng hạn nhƣ lên lớp mà không
tập trung vào hoạt động học mà có tâm lý ỷ lại vì đã có slide bài giảng của môn
học đó rồi.
Mặc dù nhà trƣờng đã sử dụng chƣơng trình quản lý đào tạo với 12 phân
hệ nhƣng việc xếp thời khóa biểu còn bộc lộ một số hạn chế: trùng giờ, trùng
phòng học, thời khóa biểu báo giảng viên có giờ nhƣng không tồn tại lớp hoặc
phải di chuyển xa khi đổi tiết, trùng thời khóa biểu của sinh viên (nhất là sinh
viên học các ngành có nhiều học phần thỉnh giảng), Một vài trƣờng hợp làm
cho bộ phận xếp thời khóa biểu rất bị động là lịch giảng của giáo viên thỉnh
giảng không chủ động đƣợc, thƣờng chỉ biết trƣớc vài ngày. Điều này ảnh
hƣởng đến việc đăng ký, học các học phần khác của sinh viên.
Khoảng 80% các hội trƣờng, giảng đƣờng và phòng học đƣợc trang bị
máy chiếu (Projecter) cố định. Nhƣng do điều kiện đặc thù ở Việt Nam hay bị
cúp điện vào mùa khô và nhà trƣờng vẫn chƣa có nguồn phát điện dự phòng đến
các tất cả phòng học. Do đó khi cúp điện một số giảng viên cho lớp nghĩ vì
giảng viên chƣa chuẩn bị bài giảng khi không có máy chiếu. Việc này sẽ gây ra
sự xáo trộn thời khóa biểu của sinh viên.
Trang 12

Bên cạnh đó, kinh phí đầu tƣ, vận hành, bảo trì kho học liệu và các trang
thiết bị của hệ thống mạng nội bộ kết nối Internet là rất cao nên rất dễ dẫn đến
tình trạng lãng phí hữu hình nếu không khai thác hết băng thông kết nối Internet.
Ngoài ra còn một lãng phí vô hình là có rất nhiều sinh viên không khai thác
băng thông kết nối Internet để phục vụ hoạt động học tâp mà sử dụng vào các
hoạt động giải trí nhƣ xem các video clip.
2.2.3. Nguyên nhân kết quả đạt được, hạn chế
* Nguyên nhân kết quả đạt được

tin của Phòng Quản trị - Thiết bị chƣa đầy đủ và kịp thời về phòng học, hội
trƣờng, giảng đƣờng, ), các bộ môn/khoa đề nghị điều chỉnh phân công cán bộ
giảng dạy hoặc các bộ giảng dạy đề nghị xếp lại thời khóa biểu sau khi sinh viên
đã đăng ký học phần.
Với yêu cầu và đòi hỏi của xã hội ngày càng cao, thách thức ngày càng
lớn, sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông
tin và truyền thông, đã đƣa thế giới chuyển sang nền kinh tế tri thức. Thực tế cho
thấy, một bộ phận cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên chuyển biến còn chậm
so với sự phát triển nhanh của thời đại, thiếu nhạy bén, không nắm bắt kịp thời
những cơ hội khai thác nguồn tri thức của nhân loại từ Internet.
Đa số học sinh - sinh viên là con em của nông dân, xuất thân từ các trƣờng
trung học phổ thông vùng sâu, vùng xa trong tỉnh và khu vực, chịu ảnh hƣởng
chung về mặt bằng giáo dục khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (thấp nhất so
với các khu vực khác trên phạm vi quốc gia), tốc độ bắt nhịp với phƣơng pháp
học đại học còn khá chậm, chƣa mạnh dạn trong sinh hoạt, chƣa thật sự năng
động, đặc biệt là trong việc sử dụng CNTT trong hoạt động học một cách hiệu
quả.
Trang 14 CHƯƠNG 3:
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CNTT
TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐH AN GIANG ĐẾN NĂM 2015.
3.1. Mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng dạy và
học tập theo học chế tín chỉ ở Trường ĐH An Giang đến năm 2015.
CNTT đƣợc ứng dụng rộng rải trong mội hoạt động chuyên môm của nhà
trƣờng, đặc biệt là trong các hoạt động dạy và học với mục tiêu chung là hƣớng
tới ngƣời học nhiều hơn, tăng cƣờng tính chủ động trong học tập và nghiên cứu;
góp phần tạo nên hứng thú học tập cho sinh viên nhằm nâng cao hiệu quả và

Thƣờng xuyên quan tâm và có giải pháp cụ thể đáp ứng những nhu cầu về cơ sở
vật chất và trang thiết bị nhằm động viên tinh thần của công chức, viên chức và
sinh viên.
Tập trung đổi mới nội dung, phƣơng thức lãnh đạo của Đảng uỷ phù hợp
tình hình phát triển của đội ngũ công chức, viên chức và cho chủ chƣơng thành
lập Ban / Tiểu Ban điều hành CNTT nhằm huy động và khai thác có hiệu quả
các nguồn lực CNTT (nhân lực và vật lực) trong nhà trƣờng.
Tiếp tục quán triệt nhận thức của của toàn thể các bộ, giảng viên và sinh
viên về vai trò và ý nghĩa quan trọng của công nghệ thông tin nhằm nâng lên
một bƣớc cao hơn, cũng nhƣ những lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong hoạt
động của toàn trƣờng.
Tăng cƣờng sự lãnh đạo phải đi đôi với việc đánh giá đúng, tôn trọng tính
độc lập tƣơng đối và vai trò tham mƣu của những đơn vị có thế mạnh về CNTT
nhƣ Trung tâm Tin học, khoa KTCNMT, Thƣ viện đối với Đảng uỷ.
3.2.2. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong
giảng dạy và học tập.
Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, giảng viên và sinh viên về vai
trò, vị trí và sự cần thiết của CNTT trong. Ban Giám hiệu và trƣởng các đơn vị
Trang 16

trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai các biện pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT
vào các hoạt động quản lý, giảng dạy và học tập.
Phổ biến rộng rãi và quán triệt đầy đủ các quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật và các văn bản hƣớng dẫn, chỉ đạo về CNTT của Chính phủ, của
tỉnh và của ngành giáo dục.
Hằng năm nhà trƣờng phải xây dựng kế hoạch hƣởng ứng Hƣớng dẫn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện nhiệm vụ CNTT hằng năm nhằm đẩy
mạnh ứng dụng CNTT, tạo bƣớc đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và
tạo tiền đề phát triển ứng dụng CNTT trong những năm tiếp theo.
3.2.3. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong hoạt động

Hoạt động giảng dạy của ngƣời giảng viên gồm có ba hoạt động chính:
biên soạn bài giảng và giáo trình; hoạt động dạy và hoạt động đánh giá. Để đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy thì trƣớc hết phải quán triệt chủ chƣơng
và chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong đổi mới phƣơng
pháp giảng dạy, phƣơng pháp đánh giá đối với đội ngũ giảng viên nhằm giúp
ngƣời dạy thấy đƣợc lợi ích của ứng dụng CNTT là giúp ngƣời dạy tiết kiệm
thời gian từ tìm kiếm tài liệu, biên soạn bài giảng, giảng dạy, cho đến kiểm tra
đánh giá học phần.
Với cấu trúc của từng học phần đã đƣợc thiết kế sẵn trong chƣơng trình
đào tạo, mỗi giảng viên xây dựng đề cƣơng, kế hoạch giảng dạy, bài giảng, bài
thực hành, bài tập nhóm CNTT giúp giảng viên đƣa toàn bộ nội dung này lên
trên website và đƣợc sinh viên tham khảo, nghiên cứu và chuẩn bị tài liệu, bài
tập trƣớc theo yêu cầu của giảng viên.
Hằng năm nhà trƣờng đều tổ chức cuộc thi bài giảng điện tử
(agu.edu.vn/bgdt2013) nhƣng chỉ dừng lại ở mức phong trào. Do đó cần phải
đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy hằng ngày nhằm giúp
tăng tính trực quan của bài giảng bằng cách sử dụng hình ảnh, âm thanh, bảng
biểu, lƣu đồ, mô hình, thí nghiệm ảo. Những tƣ liệu trực quan này làm sáng tỏa
những kiến thức trừu tƣợng từ đó kích thích hứng thú học tập của sinh viên.
Trang 18

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đánh giá môn học sẽ giúp ngƣời dạy
đánh giá môn học một cách khách quan hơn vì CNTT sẽ hỗ trợ ngƣời giảng viên
có thể đánh giá ngƣời học một cách thƣờng xuyên hơn (ví dụ Moodle cho phép
kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến và chấm điểm tự động). Ngoài ra ngƣời dạy có
thể dùng email để nhận báo cáo của sinh viên. Với cách thức này ngƣời dạy có
thể dễ dàng thông kế những sinh viên nộp bài đúng hạn hay trễ hạn.
Toàn bộ các giảng viên, sinh viên của trƣờng đƣợc cấp tài khoản email
nhằm khuyết khích việc trao đổi thông tin giữa giảng viên với giảng viên và giữa
giảng viên với sinh viên. Nhƣng hiện nay còn khá nhiều giảng viên có tâm lý e

thống giữa bộ phận quản lý đạo tào và sinh viên. Ngoài ra phân hệ lấy ý kiến
của ngƣời học cũng là phƣơng tiện cho sinh viên góp ý kiến nhằm giúp cho hoạt
động của nhà trƣờng ngày một tốt hơn. Nhƣng hiện nay vẫn còn tình trạng sinh
viên đóng góp ý kiến qua loa, tùy tiện hoặc không mang tính xây dựng. Do đó
để nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng thì sinh viên phải khai thác một
cách hiệu quả kênh thông tin này.

Trang 20

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết luận

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục là một chủ
trƣơng đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc. Đặc biệt trong bối cảnh nền giáo dục
của nƣớc ta, nhất là ở bậc đại học còn thấp hơn mặt bằng chung của thế giới.
Hiện nay hầu hết các trƣờng đại học của nƣớc ta đã chuyển sang hình thức đào
tạo theo học chế tín chỉ. Do đó cần phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng CNTT
trong quản lý, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao hơn nữa chất lƣợng đào tạo.
Ngay từ khi thành lập, Trƣờng Đại học An Giang đã quán triệt chủ trƣơng
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong hầu hết các hoạt
động nhƣ quản lý, giảng dạy và học tập. Tuy là một trƣờng đại học non trẻ ở đầy
bằng sông Cửu Long nhƣng những thành tựu về ứng dụng công nghệ thông tin
của nhà trƣờng là khá nổi bậc nhƣ 80% các phòng học và giảng đƣờng đều đƣợc
trang bị máy chiếu cố định, hệ thống mạng nội bộ và mạng Wifi đến tất cả các
phòng bộ môn và phòng học, toàn bộ hoạt động quản lý đào tạo đƣợc số hóa,
nhà trƣờng hiện có một thƣ viện điện tử, tất cả sinh viên và giảng viên đều đƣợc
cấp một địa chỉ email.
Bên cạnh những thành tựu về ứng dụng CNTT, nhà trƣờng thì vẫn còn
một số tồn tại và hạn chế đã đƣợc nêu trong tiểu luận này. Để giải quyết những
khó khăn và tồn tại này chúng tôi đã đƣa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy quá

2009.
[4] Hƣớng dẫn số 4987/BGDĐT-CNTT về việc Hƣớng dẫn thực hiện nhiệm vụ
CNTT năm học 2012 – 2013, 2012.
Tài liệu tham khảo
[6] Nguyễn Văn Hòa, Tham luận về ứng dụng CNTT trong đào tạo theo học chế
tín chỉ, Hội nghị sơ kết đào tạo theo học chế tín chỉ 2011, ĐHAG.
Website:
[7]
[8]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status