BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ. HỒ CHÍ MINH
……………………………
HUỲNH NGỌC CẨM TÚ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. Chuyên ngành: TÀI CHÍNH CÔNG TY
Mã số: LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS: TRẦN HOÀNG NGÂN
TP. Hồ Chí Minh-Năm 2007. LỜI NÓI ĐẦU
Khổng Tử San Đònh Tứ Thư Ngũ Kinh, Chu Dòch để dạy
học trò. Mendeleef sắp xếp hệ thống tuần hoàn mà không gọi
là sáng tác hay trứ tác. Luận văn này được thực hiện thông
qua tìm hiểu thực tế, trích dòch trong những sách báo, tạp chí
về thò trường chứng khoán…. Mong quý Thầy Cô, Tác giả, Độc
giả khi đọc đến tài liệu thông cảm sự sai sót của Tôi, để đề tài
đạt được mục đích với đầy đủ chứng cứ thực tế.
2 Các Thầy Cô trong khoa Sau Đại Học của Trường Đại Học Mở Thành
-Phố Hồ Chí Minh, đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ Tôi trong suốt
thời gian học tập tại trường.
3 Các bạn cùng lớp MBA04 , đã động viên, hỗ trợ Tôi hoàn thành luận
văn này.
4 Ba, Mẹ đã động viên, chăm sóc và lo lắng cho Tôi trong quá trình
thực hiện luận văn.
Một lần nữa Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã giúp đỡ Tôi
hoàn thành luận văn này. Tôi xin hứa sẽ luôn luôn cố gắng phấn đấu để
không phụ lòng những người đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ Tôi hoàn thành
tốt luận văn này.
Thành phố. Hồ chí minh, ngày… tháng…năm…
Người thực hiện HUỲNH NGỌC CẨM TÚ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về hoạt động công bố thông
tin trên thò trường chứng khoán. Tác giả thực hiện đề tài với mục đích đề ra
“
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin trên thò trường
chứng khoán”.
Việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết tổng quan, mô hình hoạt động công bố thông
tin của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Thái Lan, Hàn Quốc,
Hồng Kông. Để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng khoán Việt Nam như:
xây dựng khung pháp lý, phương tiện công bố thông tin, yêu cầu đối với việc
công bố thông tin, hoạt động công bố thông tin của Trung tâm giao dòch chứng
khoán, Tổ chức niêm yết, Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ.
Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước.
Trung Tâm Giao Dòch Chứng Khoán.
Sở Giao Dòch Chứng Khoán.
Công Ty Chứng Khoán.
Tổ Chức Niêm Yết
Công Ty Quản Lý Quỹ
Tổ Chức Phát Hành
Công Bố Thông Tin
Quỹ đầu tư chứng khoán
Công ty đầu tư chứng khoán DANH MỤC CÁC BẢNG Trang:
Bảng 1: Mô hình thông tin thò trường của Sở giao dòch chứng khoán ở Thái Lan 19
Bảng 2: Mô hình công bố thông tin trực tiếp của Tổ chức niêm yết tại Sở giao dòch
chứng khoán Hàn Quốc 21
Bảng 3: Mô hình công bố thông tin gián tiếp của Tổ chức niêm yết tại Sở giao dòch
chứng khoán Hàn Quốc 22
Bảng 4: Mô hình công bố thông tin theo yêu cầu của Tổ chức niêm yết tại Sở giao dòch
chứng khoán Hàn Quốc 23
Bảng 5: Mô hình thông tin thò trường của Sở giao dòch chứng khoán Hàn Quốc 27
Bảng 6: Mô hình công bố thông tin tức thời của Tổ chức niêm yết tại Sở giao dòch
chứng khoán Hàn Quốc 29
Bảng 7: Mô hình hệ thống công bố thông tin thò trường của Sở giao dòch chứng khoán.
Tphố Hồ Chí Minh 104
MỤC LỤC
1.3 Bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin trên
thò trường chứng khoán 30
1.3.1 Cần xây dựng một khung pháp lý 30
1.3.2 Về phương tiện công bố thông tin 31
1.3.3 Hoạt động công bố thông tin của Trung tâm giao dòch chứng khoán 32
1.3.4 Hoạt động công bố thông tin của Tổ chức niêm yết 33
1.3.5 Hoạt động công bố thông tin của Công ty chứng khoán 34
1.3.6 Hoạt động công bố thông tin của Công ty quản lý quỹ 35
1.3.7 Về yêu cầu đối với thông tin công bố 36
Kết luận chương I
Chương II: Thực trạng hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng khoán
Việt Nam 39
2.1 Thực trạng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trên thò trường
chứng khoán Việt Nam hiện nay 39
2.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trên thò
trường chứng khoán Việt Nam 39
2.1.2 Đánh giá khung pháp lý hiện hành về hoạt động công bố thông tin trên thò trường
chứng khoán 43
2.2 Thực trạng hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng khoán Việt
Nam 49
2.2.1 Hoạt động công bố thông tin qua 6 năm thành lập thò trường chứng khoán Việt
Nam 49
2.2.2 Hoạt động công bố thông tin của chủ thể trên thò trường chứng khoán Việt Nam52
2.2.3 Các phương tiện công bố thông tin trên thò trường chứng khoán 81
2.2.4 Đánh giá sơ bộ về thực trạng công bố thông tin trên thò trường chứng khoán Việt
Nam hiện nay 87
Kết luận chương II.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin trên thò
trường chứng khoán Việt Nam 90
3.1 Phương hướng cụ thể trong việc xây dựng và phát triển công tác thông tin thò
kiện này có ý nghóa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và thò
trường tài chính Việt Nam nói riêng. Những kết quả mà thò trường chứng khoán
đạt được trong 6 năm qua là nền tảng quan trọng để thò trường chứng khoán tiếp
tục phát triển, hướng đến mục tiêu trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho nền
kinh tế, phục vụ sự nghiệp Công Nghiệp Hóa- Hiện Đại Hoá Đất Nước và góp
phần tăng tính minh bạch cho hệ thống doanh nghiệp Việt Nam.
Nhìn tổng thể thò trường chứng khoán 6 năm qua có thể thấy, nếu như trong 4
năm đầu, quy mô thò trường nhỏ bé, hoạt động cầm chừng thì hiện nay thò
trường chứng khoán đã có những bước phát triển nhanh chóng: với 54 doanh
nghiệp niêm yết và đăng ký giao dòch: quy mô thò trường niêm yết hiện nay đạt
trên 750 triệâu cổ phiếu, tương đương với giá trò vốn hoá thò trường khoảng
46.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 5% GDP của Việt Nam và thò trường
chứng khoán đã thu hút được trên 50.000 nhà đầu tư tham gia giao dòch ngày
càng tăng. Vào thời điểm cuối năm 2005, có nhiều doanh nghiệp lớn, kinh
doanh hiệu quả đã tham gia niêm yết, nên chất lượng hàng hoá nâng lên đáng
kể. Tuy nhiên, so với các nước có thò trường chứng khoán phát triển thì đối với
Việt Nam lónh vực này vô cùng mới mẻ cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất
đònh như: chủng loại hàng hoá chưa đa dạng, chất lượng hàng hoá chưa cao. Có
thể nói một trong những nguyên nhân chính là hoạt động công bố thông tin về
chứng khoán và thò trường chứng khoán trong thời gian qua chưa được triển khai
đúng mức, các doanh nghiệp niêm yết ngại và chưa quen với việc công bố
thông tin. Mặt khác, nhân viên công bố thông tin chưa được đào tạo về chuyên
môn nghiệp vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quá trình công bố thông tin
cũng như những phương tiện công bố thông tin thò trường chưa đáp ứng được nhu
cầu của nhà đầu tư.
Ngoài ra, thò trường chứng khoán là một thò trường bậc cao, hoạt động hết sức
nhạy cảm và phức tạp, hệ thống thông tin phải đảm bảo nguyên tắc công bằng,
công khai, minh bạch… Một trong những đặc thù của thò trường chứng khoán là ở
yếu tố tâm lý của nhà đầu tư. Vì thò trường này buôn bán loại tài sản khá đặc
biệt, tài sản vốn doanh nghiệp. Loại hàng hoá này có một đặc tính khác các
Việt Nam là hết sức cần thiết. Vì những lý do trên, Tôi quyết đònh chọn đề tài
“Giải pháp nâng cao hệu quả hoạt động công bố thông tin trên thò trường
chứng khoán Việt Nam”
, nhằm xây dựng một thò trường chứng khoán Việt
Nam phát triển nhanh và bền vững về quy mô, công khai, minh bạch trong hoạt
động; phục vụ bảo vệ lợi ích hợp pháp của công chúng đầu tư và doanh nghiệp;
thúc đẩy sự phát triển của thò trường vốn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Dựa trên thực tiễn cũng như lý luận và khung pháp lý về hoạt động công bố
thông tin trên thò trường chứng khoán Việt Nam hiện nay. Mục tiêu của tác giả
của luận văn này là đi sâu nghiên cứu, khai thác, tìm hiểu các vấn đề dựa trên
lý luận cũng như thực tiễn hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng
khoán Việt Nam hiện nay cũng như thế giới. Để từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra
những kiến nghò, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố
thông tin trên thò trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và
trong tương lai. Nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin chứng khoán và công chúng
đầu tư cũng như làm cho hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng
khoán Việt Nam thực sự phát triển về chất cũng như về lượng.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đi sâu nghiên cứu thực trạng công bố
thông tin trên thò trường chứng khoán Việt Nam, để tìm ra các giải pháp khả thi
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng
khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của luận văn này dựa trên cơ sở lý luận
và kinh nghiệm của các nước trên thế giới như: Hàn Quốc, Thái Lan, Hông
Kông cũng như trình bày có hệ thống các khái niệm vàø nguyên tắc, quy đònh
liên quan đến hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng khoán Việt
Nam. Song song đó, còn đi sâu vào tìm hiểu tầøm quan trọng, vai trò, ý nghóa
của hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng khoán. Để từ đó tạo cơ sở
lý luận và thực tiễn đề ra mô hình công bố thông tin phù hợp trên thò trường
chứng khoán Việt Nam, nhằm góp phần thúc đẩy thò trường Việt Nam phát
Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Phương pháp nghiên cứu.
Ý nghóa thực tiễn của đề tài.
Kết cấu đề tài.
Chương 1: Tổng quan về hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng
khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng
khoán Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin trên thò
trường chứng khoán Việt Nam.
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CBTT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CBTT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN.
1.1.1 Sự cần thiết, tầm quan trọng, mục tiêu của hoạt động CBTT trên thò
trường chứng khoán
.
1.1.1.1 Sự cần thiết của hoạt động CBTT trên thò trường chứng khoán. Thò trường chứng khoán càng phát triển thì tính nhạy cảm của thông tin càng
lớn. TCNY ngoài nghóa vụ truyền tải thông tin kòp thời ra công chúng mà còn
phải chòu áp lực rất lớn về tính chính xác và chuyên nghiệp đối với thông tin
công bố, bởi vì thông tin chứng khoán không chỉ đọc để biết mà còn có khả
năng tác động trực tiếp đến hành vi của nhà đầu tư. Một trong những đặt thù của
thò trường chứng khoán là ở yếu tố tâm lý của nhà đầu tư, mà yếu tố tâm lý lại
chòu tác động lớn bởi thông tin. Những thông tin chính xác, được phân tích tốt sẽ
của nhà đầu tư mà còn là nghóa vụ đối với doanh nghiệp. Đây chính là động lực
thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, tăng thêm uy tín, tạo niềm tin của doanh
nghiệp đối với nhà đầu tư trên thương trường .
1.1.1.2 Tầm quan trọng của hoạt động CBTT trên thò trường chứng khoán.
CBTT là một trong những hoạt động có tầm quan trọng sống còn đối với sự
phát triển thò trường chứng khoán. Vì các thông tin trên thò trường chứng khoán
là cơ sở cho hoạt động, là yếu tố để nhà đầu tư đònh giá chứng khoán. Các
thông tin sai lệch có thể gây nên những biến động lớn trong hoạt động thò trường
cũng như sự hoảng loạn trong tâm lý của nhà đầu tư, đẩy thò trường đến đột biến
giá, tạo nên những cơn sốt đối với hệ thống tài chính quốc gia, gây ảnh hưởng
xấu đến nền kinh tế. Vì vậy nhà đầu tư e ngại đầu tư đối với loại hàng hoá đặc
biệt này, mà loại hàng hoá này dựa trên cơ sở niềm tin của họ đối với các thông
tin mà TCNY công bố. Nếu hoạt động CBTT sai xảy ra thường xuyên thì có lẽ
thò trường tài chính đối với loại hàng hoá này không thể tồn tại được vì nó mất
chức năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thông qua việc mua
bán chứng khoán.
Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thực tế đã chứng minh để đầu tư
chứng khoán đạt hiệu quả thì yếu tố về thông tin phải được nhà đầu tư quan tâm
hàng đầu. Mặt khác hệ thống lý luận và thực tiễn về kinh tế thò trường đều
khẳng đònh rõ ràng sức mạnh cạnh tranh thuộc vể kẻ nắm thông tin. Sau đây là
phiếu thăm dò ý kiến của 1188 người. Kết quả thu được như sau. Theo bn, yu t nào quan trng nht trong vic đu t chng khốn?
Kin thc 19.44% (231)
Kinh nghim 23.23% (276)
Có nhiu thơng tin 47.98% (570)
trong việc điều hành hoạt động của thò trường dựa trên các số liệu hiện hành
cũng như các số liệu thống kê đã được tích luỹ trong quá khứ. Hệ thống thông
tin thò trường và hoạt động CBTT của TCNY tốt là một đòi hỏi khách quan để
SGDCK có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển.
1.1.3 Phân loại hoạt động công bố thông tin trên thò trường chứng khoán.
1.1.3.1 Căn cứ vào chủ thể thực hiện CBTT.
1 Thông tin của TCNY: Là thông tin do TCNY công bố thường bao gồm
những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh,
thay đổi nhân sự, thay đổi nội dung và phương thức kinh doanh, các sự
kiện xảy ra đối với TCNY trên thò trường. Việc CBTT nhằm mục đích
cung cấp kòp thời cho nhà đầu tư các thông tin cần thiết để giúp họ đưa
ra quyết đònh mua bán chứng khoán có thông tin một cách kòp thời và
theo hướng có lợi nhất.
2 Thông tin của SGDCK: Là thông tin do SGDCK công bố ra công chúng
về tình hình giao dòch trên thò trường như: chỉ số giá chứng khoán, giá trò,
khối lượng giao dòch của toàn thò trường, giá, khối lượng, giá trò giao dòch
của từng loại chứng khoán, giao dòch của nhà đầu tư nước ngoài. Sau khi
kết thúc phiên giao dòch của từng giai đoạn và thời điểm nhất đònh.
3 Thông tin của các chủ thể khác, ngoài các TCNY, các SGDCK, pháp
luật của các nước còn quy đònh các chủ thể khác của thò trường chứng
khoán như: CTCK, QĐTCK, CTQLQ các TCPH, nhà đầu tư… cũng có
nghóa vụ CBTT về những sự kiện liên quan đến hoạt động của mình. Tuy
nhiên, nội dung, phạm vi công bố các thông tin phụ thuộc vào quy đònh
pháp luật từng nước. Nghóa vụ CBTT của các chủ thể trên thò trường
nhằm góp phần làm minh bạch hoạt động của thò trường chứng khoán,
chống những hành vi không lành mạnh như lừa đảo, thao túng, giao dòch
nội gián, lũng đoạn thò trường.
1.1.3.2 Căn cứ vào thời điểm CBTT: có thể chia ra thành 3 loại.
1 Công bố thông tin đònh kỳ: Là việc tổ chúc niêm yết có nghóa vụ nộp
các báo cáo vào các thời điểm đã được quy đònh như báo cáo năm, báo
Đây là yêu cầu cơ bản đầu tiên của việc CBTT. Điều này đòi hỏi tổ chức
thực hiện CBTT phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không
được xuyên tạc, bóp méo thông tin công bố hoặc có hành vi cố ý gây hiểu
nhằm thông tin. Các thông tin được công bố, đặc biệt CBTT từ TCNY là căn
cứ của hành vi mua bán chứng khoán của nhà đầu tư trên thò trường, là một
trong những vấn đề cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá
cổ phiếu. Trái lại những thông tin thuộc loại tin đồn sẽ có mức độ chính xác,
độ tin cậy thấp nhất. Những nhà đầu tư mua bán chứng khoán theo tin đồn sẽ
gánh chòu nhiều thiệt hại, rủi ro cao do mức độ tin cậy thấp của những tin
đồn đó.
Nguyên tắc này được tuân thủ trên cơ sở một danh mục các thông tin
được xem là quan trọng và cần được cung cấp. Nói cách khác, TCNY,
TCPH, CTQLQ có nghóa vụ cung cấp tất cả các thông tin được xem là có thể
ảnh hưởng đến nhận đònh đánh giá của nhà đầu tư đối với giá trò và triển
vọng của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư. Những thông tin và sự kiện như
vậy bao giờ cũng được quy đònh chặt chẽ trong Luật Chứng Khoán và các
quy đònh về niêm yết và CBTT. Một số thông tin quan trọng cung cấp đònh
kỳ dưới hình thức tài liệu phải được kiểm tra kỹ để đảm bảo chính xác.
Chẳng hạn, đó là những thông tin về các khoản mục trên báo cáo tài chính,
đặc biệt các khoản mục nằm ngoài Bảng cân đối kế toán. Những thay đổi
trong đònh giá các hợp đồng giao dòch trên thò trường, những dự án đầu tư.
Ngoài ra, để đảm bảo chính xác, trung thực thông tin công bố còn phải
được trình bày rõ ràng, không được gây hiểu nhằm hoặc có thể đánh lừa
người đọc, nhất là không được thiếu sót.
Về nguyên tắc, các chủ thể có nghóa vụ CBTT phải cung cấp cho nhà đầu
tư nhưng có thể đưa ra những quy đònh đầu tư chính xác và chòu hoàn toàn
trách nhiệm về quyết đònh của mình. Thực tế cho thấy, các chủ thể CBTT
thường có sự mâu thuẫn về lợi ích với nhà đầu tư về mặt công bố thông tin.
Đặc biệt, các TCNY thường không muốn tiết lộ các thông tin bí mật của
Ban quản trò, chiến lược, kế hoạch kinh doanh, lợi nhuận, vì họ sợ đối thủ