Quản lý dạy học môn tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số - Pdf 17

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử nhân loại, giáo dục đã không ngừng phát triển và là động lực để
phát triển kinh tế xã hội; giáo dục đã phục vụ đắc lực cho xã hội, kịp thời điều chỉnh
quy mô, thích ứng nhanh với những yêu cầu của biến đổi nguồn nhân lực. Ngược lại,
sự phát triển nhanh của kinh tế xã hội, của khoa học kỹ thuật cũng đã tác động trở lại
để phát triển giáo dục. Hiện nay, các nước phát triển, cũng như các nước đang phát
triển đều quan tâm cải cách giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập hoá, quốc tế
hoá. Đây là thời cơ và cũng là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển (trong
đó có Việt nam). Một mặt nó tạo ra cơ hội cho giáo dục phát triển do nhu cầu về
nguồn nhân lực có trí tuệ ngày càng tăng. Mặt khác, kinh tế đòi hỏi giáo dục đáp ứng
nhu cầu trước mắt và đón đầu, định hướng đúng cho tương lai.
Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu
phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
hoá. Ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng
ta đã khẳng định “ Phát triển giáo dục và khoa học công nghệ là quốc sách hàng
đầu”, chủ trương đó được tiếp tục nhấn mạnh trong những Nghị quyết Đại hội Đảng
của các nhiệm kỳ tiếp theo, và cho đến Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
và lần thứ XI đều khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm để phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước là phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất
lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Như vậy,
nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế của đất nước ta là con người, là nguồn nhân lực Việt Nam được phát
triển cả về số lượng và chất lượng
Trong sự nghiệp phát triển giáo dục, quản lý giáo dục chính là khâu then chốt,
có vai trò đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của giáo dục.
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo được diễn ra chủ yếu ở các đơn vị nhà trường.
Hoạt động chủ yếu trong các nhà trường là hoạt động dạy học, hoạt động dạy học
1
cùng với hoạt động giáo dục tạo nên quá trình sư phạm tổng thể của nhà trường. Do
đó, quản lý hoạt động dạy học là khâu then chốt trong quá trình quản lý giáo dục .

cho học sinh DTTS vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho giáo dục
miền núi nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học DTTS đồng nghĩa với việc
đảm bảo cho các em một điều kiện tiên quyết để có thể nắm bắt, tiếp thu các môn
học khác đạt hiệu quả cao nhất, giúp các em phát triển nhân cách một cách toàn diện.
Tuy nhiên, thực tế công tác dạy học và quản lý dạy học bộ môn Tiếng Việt, đặc biệt
là Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai mặc dù đã được
quan tâm và đã đạt được một số kết quả, nhưng còn có nhiều hạn chế, hiệu quả chưa
thực sự cao.
Từ các lý do trên, vấn đề “ Quản lý dạy học môn tiếng Việt tại các
trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Bảo yên, tỉnh lào Cai” được chọn
làm đề tài nghiên cứu của luận văn này để góp phần thực hiện tốt hơn công tác phát
triển giáo dục miền núi, đặc biệt là giáo dục vùng DTTS, thúc đẩy sự phát triển kinh
tế- xã hội của địa phương.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý dạy
học môn Tiếng Việt nhằm tăng cường tiếng Việt cho học sinh các trường tiểu học
vùng dân tộc thiểu số huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý dạy học tại các trường tiểu học vùng
DTTS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường
tiểu học vùng DTTS.
3
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các
trường tiểu học vùng DTTS huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai của Phòng GD&ĐT huyện
Bảo Yên.
4.2. Địa bàn nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại 17 trường tiểu học thuộc
9 xã vùng DTTS của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp này nhằm điều tra thực trạng công tác quản lý dạy học
môn Tiếng Việt tại các trường vùng DTTS huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Đề tài sử
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn: Trưng cầu ý kiến của các nhà quản lý về các biện
pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt vùng DTTS.
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp công tác quản lý dạy học môn
Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng DTTS.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng các công thức thống kê toán học (các công thức thống kê toán
học như: trị số chi bình phương, trung bình cộng, hệ số tương quan...) để xử lý số liệu
thu được, để định lượng kết quả nghiên cứu nhằm rút ra các kết luận khoa học.
8. Những đóng góp mới của đề tài
Phát hiện thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh DTTS
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng cường Tiếng
Việt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học vùng DTTS tại địa phương.
CHƯƠNG 1
5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nâng cao chất lượng giáo dục từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm không
chỉ của Việt Nam mà của tất cả các nước trên thế giới, nhằm đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Để nâng cao chất lượng
giáo dục, vai trò quản lý giáo dục là hết sức quan trọng, đây là vấn đề luôn được các
nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước quan tâm.
Trong lịch sử giáo dục, ở mỗi thời kỳ phát triển, dưới những góc độ khác
nhau, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra các biện pháp, giải pháp quản lý
hữu hiệu để xây dựng được nền giáo dục có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển

không có, nhất là tại địa bàn một tỉnh miền núi biên giới như ở Lào Cai. Nhưng
những công trình nghiên cứu được đề cập ở trên là những tư liệu cần thiết trong quá
trình nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội, nó xuất hiện rất sớm, ngay từ khi con người
bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được
với tư cách là những cá thể đơn lẻ, đòi hỏi phải có tổ chức, phải có sự phân công và
hợp tác trong lao động. Nó là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân
hướng tới những mục tiêu. Các Mác đã viết: “ Bất cứ một lao động xã hội nào hay
cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng
mực nhất định của sự quản lý. Quản lý xác nhập sự tương hợp giữa các công viêc cá
thể nhằm hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động các bộ
phận riêng rẽ của nó”.[22]
Như vậy, bản chất của quản lý lao động là một loại lao động để điều khiển lao
động. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì
hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.
7
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những
cách tiếp cận khác nhau. Từ đó dẫn đến sự phong phú về các quan niệm quản lý. Sau
đây là một số khái niệm của các tác giả trong nước và nước ngoài:
+Theo tác giả H.Koonts (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm
bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ
chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể
đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất”.
[22]
+ Theo tác giả Fayon (Pháp): “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc bằng phương
pháp tốt nhất và rẻ nhất”. [13]

với nhau, tạo thành một chu trình quản lý:
Sơ đồ 1.1: Quan hệ của các chức năng quản lý:
1.2.1.3. Các yếu tố của quản lý
Quản lý bao giờ cũng tồn tại với 3 yếu tố:
- Chủ thể quản lý: là con người hoặc tổ chức do con người tạo nên, có nhiệm
vụ sử dụng các công cụ và phương pháp, đề ra biện pháp quản lý, thực hiện mục tiêu
quản lý.
- Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): Là cái mà chủ thể quản lý tác động
vào (tập thể người, nhóm người..) để thực hiện mục tiêu quản lý. Ngoài ra, đối tượng
quản lý còn có thể là các vật thể không phải là con người có sẵn trong tự nhiên hoặc
do con mgười sáng tạo ra (cây trồng, vật nuôi, nhà xưởng, máy móc...).
9
Lập K.H
Kiểm tra
Điều hành
T.chức TH
- Mục tiêu quản lý: Chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể QL, là căn cứ
để chủ thể QL tạo ra các tác động QL. Mục tiêu QL do chủ thể quản lý đặt ra hoặc
yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội mà hình thành. Mục tiêu có thể định lượng,
nhưng cũng có lúc nó mang tính định tính theo chuẩn mực nào đó.
Mục tiêu của QL là tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi thành viên có
thể hoàn thành được mục đích, nhiệm vụ của mình, của nhóm với các giới hạn về
thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất.
Các yếu tố của quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và đều nằm
trong một môi trường kinh tế xã hội bao gồm mặt bằng dân trí, giáo dục, tâm lý xã
hội, phong tục tập quán, văn hoá, luật pháp, các tác động quốc tế... Môi trường này là
nguồn thông tin và cũng là cái quyết định trình độ hiệu quả của quản lý. Ta có thể
nghiên cứu quá trình hoạt động quản lý thông qua sơ đồ:
Sơ đồ 1.2: Quá trình hoạt động quản lý
1.2.1.4. Biện pháp quản lý

trình thuyết phục phải tôn trọng danh dự và nhân cách người nghe. Điều rất quan
trọng là phải lấy sự thay đổi hành vi cụ thể làm thước đo sự thay đổi nhận thức và
phải kiên trì thuyết phục trước khi áp dụng biện pháp khác. Ngày nay, vai trò của
biện pháp giáo dục, thuyết phục càng được coi trọng.
- Biện pháp kinh tế: Là biện pháp tác động đến đối tượng quản lý thông qua
các lợi ích kinh tế. Mà cơ sở của nó là các quy luật kinh tế.
Đặc trưng của biện pháp này là kích thích đối tượng quản lý phấn khởi, chủ
động, sáng tạo hành động, thực hiện nhiệm vụ để đạt những lợi ích kinh tế nhất định.
Đây là biện pháp hiện đại, tiên tiến, đạt hiệu quả cao trong quản lý vì nó phát huy cao
độ tính chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của đối tượng quản lý, hướng đến
năng suất lao động tối đa. Biện pháp này không phụ thuộc nhiều vào các quan hệ tổ
chức và hành chính, vì vậy cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều cảm thấy chủ
động, thoải mái hơn, giảm bớt hoạt động có tính chất sự vụ của nhà quản lý.
Thực hiện biện pháp kinh tế đòi hỏi nhà quản lý phải có kiến thức và kinh
nghiệm sâu rộng để có thể định hướng hành động cho đối tượng quản lý bằng các
11
nhiệm vụ, kế hoạch, hợp đồng... với những chỉ tiêu số lượng, chất lượng rõ ràng, với
những định mức cụ thể, chế độ thưởng phạt nghiêm minh, đảm bảo kỷ cương, theo
pháp luật trong mọi trường hợp.
- Biện pháp hành chính- tổ chức: Là biện pháp tác động đến đối tượng quản lý
trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính trong hệ thống quản lý do nhà
nước đặt ra. Đó là các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa bộ phận và tập thể...
Bất kỳ một bộ máy quản lý nào cũng được quy định tính chất các mối quan hệ đó.
Đặc trưng của biện pháp này là sự cưỡng bức đơn phương của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý. V.I.Lênin đã dạy rằng “ Dùng mệnh lệnh hành chính để giải
quyết vấn đề trong thời đại chuyên chính vô sản là tuyệt đối cần thiết”. [24]
Trong thực tế quản lý, muốn đạt hiệu quả cao, chủ thể quản lý phải vận dụng
tổng hợp các biện pháp trên vì mỗi biện pháp quản lý đều có những mặt mạnh, mặt
yếu riêng. Nhà quản lý phải biết sử dụng một cách hài hoà giữa các biện pháp để
phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của từng biện pháp, tạo nên sức mạnh tổng hợp,

+ Theo tác giả Phạm Viết Vượng: Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là
tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng
tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của
xã hội. [40]
+ Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thưc
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. [15]
Những khái niệm trên tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung thì
Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với
quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động
giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp; đối
tượng quản lý là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất-kỹ thuật và các hoat động thực hiện
chức năng của giáo dục và đào tạo.
Bên cạnh đó, cần đặc biêt lưu ý: Quản lý giáo dục trước hết và cuối cùng là
quản lý con người. Hệ thống giáo dục là một hệ thống xã hội, con người được xã hội
13
sinh ra và là lực lượng sáng tạo xã hội. Trong quản lý giáo dục, việc quản lý con
người là vấn đề trung tâm. Người quản lý giỏi đều biết rằng: Thành công trong quản
lý trước hết là thành công trong xử lý các mối quan hệ với con người.
1.2.2.2. Mục tiêu và nội dung của quản lý giáo dục
a) Mục tiêu:
Tạo dựng được một môi trường thuận lợi nhất để các cơ sở giáo dục và các
thành viên trong đó hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ phát triển giáo dục của
mình.
b) Nội dung:
Tùy theo sự phân cấp quản lý, nội dung QLGD được thực hiện theo các mức
độ khác nhau, tập trung ở một số nội dung cơ bản sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường.
1.2.3.2. Quản lý hoạt động dạy học
a) Khái niệm hoạt động dạy học
Theo quan điểm của giáo dục học thì “Hoạt động dạy học là hoạt động đặc
trưng cho bất cứ loại hình nhà trường nào và xét theo quan điểm tổng thể, dạy học
chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất... Với nội dung và tính chất của nó, dạy
học luôn được xem là con đường hợp lý, thuận lợi nhất giúp cho học sinh với tư cách
là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng hành
động, chuyển thành phẩm chất, năng lực trí tuệ của bản thân”. [18]
Trong trường học, hoạt động dạy học là một hoạt động trung tâm, quan trọng
nhất trong các mặt hoạt động của nhà trường. Hoạt động dạy học chiếm hầu hết thời
gian trong các hoạt động giáo dục, nó chi phối các hoạt động giáo dục khác trong nhà
trường. Hoạt động dạy học được diễn ra trong suốt cả một năm học, theo kế hoạch đã
được hoạch định trước, mang tính pháp lý, đòi hỏi mọi thành viên trong nhà trường
tự giác chấp hành.
Dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách, là quá trình
tác động qua lại giữa thầy và trò nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, kinh
15
nghiệm xã hội, kỹ năng, kỹ xảo, hoạt dộng nhận thức và xây dựng các phẩm chất cá
nhân người học.
Học là một hoạt động trong đó học sinh là chủ thể, khái niệm khoa học là đối
tượng chiếm lĩnh. Học là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự
điều khiển sư phạm của giáo viên. Chiếm lĩnh tri thức- khái niệm khoa học còn được
hiểu là tái tạo khái niệm, tri thức cho bản thân, thao tác với nó, sử dụng nó như là
công cụ, phương pháp để chiếm lĩnh các tri thức, khái niệm khác, mở rộng, đào sâu
cho khái niệm đó và vốn tri thức. Học có hai chức năng thống nhất với nhau: Lĩnh
hội và tự chiếm lĩnh. Lĩnh hội là tiếp thu thông tin dạy của thầy, của sách giáo
khoa...; tự điều khiển là là tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức của bản thân.
Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình tự học của học sinh để hình thành và
phát triển nhân cách cho học sinh. Nếu như học nhằm mục đích chiếm lĩnh khái niệm

đào tạo và nguyên lý giáo dục theo tinh thần Nghị quyết Trung ương II khoá VIII của
Đảng cộng sản Việt Nam: “ Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức
dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính
trị, tư tưởng nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và khả năng thực hành”. [10]
Quản lý hoạt động dạy học chính là quản lý quá trình dạy học. Nội dung của
quản lý hoạt động dạy học bao gồm nhiều hoạt động, quan hệ đến nhiều đối tượng,
nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện khác nhau. Nhưng nội dung cơ bản bao gồm hai
vấn đề: Quản lý việc giảng dạy của giáo viên và quản lý việc học tập của học sinh.
Vấn đề thứ nhất: Quản lý việc giảng dạy của giáo viên
Quan hệ giữa giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh là mối quan hệ
thống nhất biện chứng. Với tác động sư phạm, giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt
động của học sinh. Quản lý việc giảng dạy của giáo viên trong nhà trường bao gồm:
- Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục của mỗi cấp học, ngành học được quy định tại Luật Giáo
dục và các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương. Nhà quản lý căn cứ
sự chỉ đạo thực hiện mục tiêu của các cấp lãnh đạo, căn cứ đặc điểm tình hình của
đơn vị mình để xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu; quản lý kế hoạch thực hiện
mục tiêu; điều chỉnh kế hoạch thực hiện mục tiêu khi cần thiết; đánh giá sơ kết, tổng
kết thực hiện mục tiêu theo từng giai đoạn.
17
- Quản lý việc thực hiện chương trình
Chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành cho từng khối lớp, bậc học,
ngành học là căn cứ để các trường tổ chức giảng dạy. Quản lý việc thực hiện chương
trình dạy học là nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của nhà
trường. Chương trình dạy học quy định nội dung, phương pháp, hình thức, thời gian..
dạy học từng môn học; Hàng tháng, kết thúc học kỳ và cuối năm học tổ chức kiểm
điểm, đánh giá tình hình thực hiện chương trình dạy học từng bộ môn, từng khối lớp,
từng lớp đã đề ra trong chương trình dạy học để điều chỉnh biện pháp quản lý cho
phù hợp, hiệu quả.
- Quản lý soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp

đúng thời hạn, lưu trữ điểm trong sổ điểm để tổng kết, chỉ đạo.
Quản lý nội dung kiểm tra: Nội dung kiểm tra phải sát chương trình, phù hợp
với đối tượng học sinh, phát huy tính sáng tạo của học sinh.
Vấn đề thứ hai : Quản lý việc học tập của học sinh
Việc học tập của học sinh diễn ra ở trong lớp, ngoài lớp, ngoài trường và ở
nhà. Thời gian học tập gồm giờ học trên lớp, ngoài lớp và ở nhà. Do đó, khi quản lý
hoạt động học tập của học sinh, cần bao quát cả không gian, thời gian và các hình
thức học tập.
Thông qua giáo viên, hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập của học sinh,
trong đó có cả việc theo dõi học sinh lưu ban, bỏ học, lên lớp, tốt nghiệp, phổ cập
giáo dục. Để quản lý việc học tập của học sinh, nhà quản lý cần quan tâm các mặt
sau:
- Giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn cho học sinh.
- Xây dựng và thực hiện nền nếp học tập.
- Áp dụng các hình thức động viên và khuyến khích học sinh học tập.
- Phối hợp các lực lượng trong việc quản lý việc học tập của học sinh.
- Tổ chức các hoạt động học tập, lao động, giải trí phù hợp tâm lý, sức khoẻ
của học sinh.
19
1.2.4. Trường tiểu học và trường tiểu học vùng DTTS
1.2.4.1. Trường tiểu học
Trường tiểu học là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng
hoà XHCN Việt Nam, trực tiếp đảm nhiệm việc giáo dục từ lớp 1 đến lớp 5 cho trẻ
em từ 6 đến 14 tuổi, nhằm hình thành ở học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn
diện nhân cách con người Việt Nam XHCN theo mục tiêu giáo dục tiểu học. Trường
tiểu học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng.
- Trường tiểu học gồm các loại hình trường:
+ Trường tiểu học công lập do nhà nước tổchức và quản lý.
+ Trường tiểu học dân lập do một cơ quan hoặc một tổ chức nhà nước, một
đoàn thể quần chúng hoặc tổ chức xã hội đướng ra thành lập và bảo trợ; chịu sự quản

- Quy mô trường nhỏ, gắn liền với các thôn, bản; mỗi trường có nhiều điểm
trường cách xa nhau. Trường đóng tại các xã vùng đồng bào DTTS, thường là vùng
núi cao, vùng sâu, vùng xa. Các trường đều là trường công lập, một số nơi có tổ chức
cho học sinh ở bán trú, nội trú.
1.2.5. Môn Tiếng Việt - dạy học môn Tiếng Việt
Tiếng Việt là môn học nền tảng của bậc tiểu học, rèn luyện khả năng ngôn
ngữ cho học sinh, qua đó cung cấp kiến thức về văn hoá- xã hội, khoa học- kỹ thuật;
đồng thời giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh. Môn Tiếng Việt được chia thành
nhiều phân môn hẹp: Tập đọc; Chính tả; Từ ngữ- ngữ pháp; Tập làm văn; Kể chuyện.
Do đó, dạy học môn Tiếng Việt là một hoạt động tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực,
nhiều bộ môn khác nhau.
- Phân môn Tập đọc: Là phân môn mang tính tổng hợp, ngoài nhiệm vụ dạy
đọc còn cónhiệm vụ trau dồi khả năng Tiếng Việt cho học sinh; luyện câu, tạo cảm
xúc cảm nhận văn học cho học sinh.
- Phân môn Tập làm văn: Mỗi khối lớp có yêu cầu khác nhau, nhưng đều tập
trung luyện khả năng viết đúng từ, đúng câu, đúng ngữ pháp; tạo cho học sinh khả
năng diễn đạt ý tưởng cá nhân, cảm xúc trước sự vật, hiện tượng, con người, thiên
nhiên...
21
- Phân môn từ ngữ và ngữ pháp: Rèn luyện kỹ năng phát âm, cấu ttrúc tiếng,
câu, cung cấp lý thuyết Tiếng Việt cho học sinh. Đối với học sinh là người DTTS,
tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp hàng ngày thì phân môn này đóng vai
trò quan trọng hàng đầu trong quá trình học tiếng Việt nói riêng và trong quá trình
học tập trong trường phổ thông nói chung.
- Phân môn Kể chuyện: Thông qua các câu chuyện trong các bài tập đọc, giúp
học sinh dựng lại dưới hình thức hoạt cảnh. Qua đó, luyện khả năng nói, diễn đạt
tiếng Việt cho học sinh, giúp học sinh mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
- Phân môn Chính tả: Luyện tập thực hành ở các kỹ năng nghe, viết và các kỹ
năng khác trong qúa trình học tiếng Việt; củng cố kiến thức về tiếng Việt.
1.3. Đặc điểm dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng DTTS

hiện tốt các nội dung quản lý để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học nói
chung và đáp ứng yêu cầu tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS.
1.4.2. Nội dung
Quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học DTTS, ngoài quản lý
việc dạy của giáo viên và việc học Tiếng Việt của học sinh như đối với các trường
tiểu học bình thường, còn cần phải quan tâm thêm các vấn đề:
- Quản lý giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt cho học sinh DTTS
Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh DTTS, do vậy, thực hiện nội dung
này trước hết cần quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng khả năng giảng dạy tiếng Việt cho
HS DTTS cho đội ngũ GV và chỉ đạo tích cực tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên
lớp cho HS, tạo môi trường thuận lợi cho các em học tập tiếng Việt.
Quản lý giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS là quản lý năng lực dạy
ngôn ngữ của giáo viên thông qua các môn học của chương trình tiểu học; quản lý
năng lực hướng dẫn học sinh ứng dụng tiếng Việt vào cuộc sống; quản lý việc học
tập tiếng DTTS của giáo viên...
- Quản lý việc học tập tiếng Việt của học sinh DTTS
Bao gồm việc quản lý các vấn đề về:
23
+ Tinh thần, thái độ học tập tiếng Việt của HS.
+ Tác động của môn tiếng Việt đối với các môn học khác.
+ Khả năng nói tiếng Việt, điều kiện cho học tập tiếng Việt của HS.
+ Ảnh hưởng của tiếng DTTS đối với việc học tiếng Việt.
+ Sự phối hợp các lực lượng trong việc quản lý học tập tiếng Việt của học
sinh....
Từ đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp để nâng cao chất lượng dạy học
tiếng Việt cho học sinh DTTS.
- Quản lý việc sử dụng sách đọc thêm, thiết bị dạy học môn Tiếng Việt
Học sinh DTTS chỉ học tiếng Việt ở trường, các em ít có cơ hội sử dụng tiếng
Việt ở nhà. Do vậy, ngoài sách giáo khoa cần làm phong phú hoá các loại sách đọc
thêm bằng tiếng Việt cho các em. Nhà quản lý cần chỉ đạo sử dụng sách đọc thêm là

nâng cao trình độ và năng lực cho đội ngũ cán bộ, giáo viên công tác tại những vùng
này.
1.5.2. Cơ chế phối hợp giữa Nhà trường - gia đình và xã hội
Việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là yếu tố
không thể thiếu trong quá trình giáo dục nói chung và trong việc dạy học tiếng Việt
cho học sinh DTTS thì nó càng trở nên quan trọng. Bởi vì, chỉ có sự phối hợp tốt giữa
nhà trường, gia đình và xã hội mới tạo được một môi trường giáo dục tốt nhất cho
học sinh, tạo điều kiện tốt nhất để phát huy và nâng cao hiệu quả giáo dục.
Làm tốt vấn đề này, chúng ta mới có thể khắc phục được tình trạng coi công
tác giáo dục là việc riêng của ngành giáo dục như nhận định trong “Chiến lược phát
triển giáo dục giai đoạn 2001-2010” của Bộ GD&ĐT khi đánh giá những yếu kém
của giáo dục hiện nay: “...Quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” của Đảng
và Nhà nước chưa được nhận thức đầy đủ và thực sự chỉ đạo hành động trong một
bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Giáo dục vẫn được xem như là công việc
riêng của ngành giáo dục; chưa tạo ra được sự liên kết, phối hợp đồng bộ giữa các
ngành, các cấp, các lực lượng xã hội và ngành giáo dục để phát triển sự nghiệp giáo
dục; việc kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội
chưa được quan tâm đúng mức.”
25

Trích đoạn Nội dung và cỏch thức thực hiện biện phỏp Nội dung và cỏch thức thực hiện Điều kiện thực hiện biện phỏp Quy trỡnh khảo nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status