Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với
nguyên tác thơ Đường trong SGK
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-1
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
Mục lục
1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 3
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 4
4. Phương pháp nghiên cứu: 5
5. CẤU TRÚC NIÊN LUẬN: 6
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 6
1.1. Các bản dịch thơ Đường trong SGK THCS 7
1.2. Độ vênh giữa bản dịch và nguyên tác thơ Đường trong SGK THCS 11
1.2.2. Độ vênh giữa các bản dịch và nguyên tác về mặt nội dung: 17
CHƯƠNG 2 34
2.1. Dịch giả: 34
2.1.1. Dịch giả - người đọc đặc biệt: 34
2.2. Nhìn từ góc độ mỹ học tiếp nhận: 39
2.2.1. Các nhân tố khách quan: 39
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-2
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
KẾT LUẬN 49
dịch trung thành với bài thơ nguyên tác cả về hình thức và nội dung,
không thể tạo được một bản sao của bài thơ bằng một ngôn ngữ khác. Ai
cũng biết rằng “xưa nay thơ càng hay càng khó dịch. Vì cái hay của
nguyên tác đa diện quá, đa dạng quá, sức chứa phong phú quá, người dịch
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-1
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
làm sao chuyển tải nổi”[22]. Đối với thơ Đường thì việc dịch lại càng khó
khăn hơn nhiều. Bởi đó phần nhiều là những bài thơ “ý tại ngôn ngoại”,
tình cảm sâu xa, diễn đạt bằng vài trang lời văn chưa chắc đã hết, nói chi
đến việc gói gọn trong vài dòng thơ tiếng Việt. Và do vậy, có những độ
vênh giữa bản dịch và nguyên tác là điều khó tránh khỏi. Với đặc điểm đó,
việc dịch thơ Đường có thể coi là một thử thách cho những người có tâm
huyết với thơ Đường (và có tài dịch thơ). Ai cũng dồn hết tâm lực và tinh
túy của ngòi bút có khi chỉ cốt để có được một bản dịch “để đời” cho một
kiệt tác Đường thi. Những bản dịch được chọn đưa vào SGK phổ thông để
dạy cho HS có lẽ cũng là những bản dịch “để đời” của các dịch giả. Với
mong muốn giúp HS hiểu và cảm nhận phần nào ý nghĩa và cái hay của
những bài thơ Đường bất hủ, hẳn là những người biên soạn SGK đã chọn
những bản dịch mà họ cho là hay và sát nhất với nguyên tác. Sát đến mức
nào là vấn đề sẽ được làm rõ trong niên luận này.
Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi chọn đề tài: Đi tìm độ vênh
giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường (Qua SGK THCS từ 1989-nay).
Ở cấp THCS, lần đầu tiên HS HS được tiếp cận với một số bài thơ đại
diện cho Đường thi – đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và thế giới. Và do
vốn từ Hán Việt còn hạn chế, việc tiếp cận của HS chủ yếu là thông qua
các bản dịch thơ. Vì vậy, những bản dịch này có vai trò hết sức quan trọng
đối với việc hình thành sự hiểu biết và những cảm nhận đầu tiên của HS
về các tác phẩm nổi tiếng của một nền văn học lớn. Độ vênh giữa bản dịch
và nguyên tác càng ít thì sự cảm nhận của HS càng đầy đủ và chính xác
Chúng tôi cũng đã có điều kiện đọc một khóa luận tốt nghiệp được
viết khá công phu là Đường thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam
của Mạnh Thị Minh (Tư liệu khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội). Trong khóa luận này, người viết chủ yếu là thống
kê lại quá trình thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong chương trình môn
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-3
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
Văn phổ thông ở Việt Nam, đồng thời đề xuất phương pháp dạy học, giúp
HS tìm hiểu thơ Đường.
Ở góc độ dịch thuật, đáng chú ý nhất là một luận án Phó tiến sĩ với đề
tài Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam - Nguyễn Tuyết Hạnh[11]. Tuy
nghiên cứu trực tiếp về vấn đề dịch thuật Đường thi, nhưng luận án này đi
sâu tìm hiểu lịch sử, quá trình dịch thơ Đường ở Việt Nam và việc dịch
Đường thi theo hai thủ pháp nghệ thuật chủ yếu là phác diễn và đối lập,
không quan tâm đến độ vênh giữa bản dịch thơ và nguyên tác.
Như vậy, những cuốn sách (công trình nghiên cứu) trên đây chỉ đề
cập đến thơ Đường trong trường phổ thông nói chung và THCS nói riêng ở
khía cạnh phân tích, bình giảng, hướng dẫn dạy và học chứ chưa đi sâu vào
việc đi tìm độ vênh giữa các bản dịch và nguyên tác. Những công trình
nghiên cứu trực tiếp về dịch thơ Đường thì lại nghiên cứu ở phạm vi rất
rộng (Việt Nam), và ở các góc độ lịch sử, thủ pháp dịch… Việc tìm hiểu và
lý giải độ vênh giữa bản dịch và nguyên tác các bài thơ Đường trong SGK
THCS chưa được chú trọng nghiên cứu. Vì vậy, ở niên luận này, chúng tôi
sẽ thực hiện công việc đó với hi vọng có thêm một đóng góp nhỏ vào việc
nghiên cứu thơ Đường trong SGK phổ thông ở nước ta.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài đã nêu, ở niên luận này chúng tôi chỉ tìm hiểu độ vênh
giữa bản dịch và nguyên tác của các tác phẩm thơ Đường nằm trong
chương trình SGK môn Văn THCS, từ năm 1989 đến nay. Cụ thể là những
sánh cụ thể chứ không hoàn toàn căn cứ theo các tiêu chuẩn có tính nguyên
tắc khi đánh giá, nghiên cứu văn học dịch là tín, đạt, nhã.
• Để hiểu và lí giải độ vênh thấy được ở trên, chúng tôi áp dụng các
phương pháp ở cấp độ lớn hơn:
- Mỹ học tiếp nhận.
- Xã hội học văn học, Văn hóa học.
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-5
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
5. Cấu trúc niên luận:
Niên luận ngoài Mở đầu và Kết luận ra, Nội dung gồm có 2 chương:
Chương 1: Tình hình dịch thuật Đường thi qua SGK THCS
1.1. Các bản dịch thơ Đường trong SGK THCS
1.2. Độ vênh giữa các bản dịch và nguyên tác thơ Đường trong SGK
Chương 2: Dịch giả và phương thức dịch thuật
2.1. Dịch giả
2.2. Phương thức dịch thuật
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT ĐƯỜNG THI QUA SGK THCS
Trên cả hai bình diện lý thuyết và thực tế, dịch văn học là hoạt động
quan trọng của tiếp nhận văn học. Nó giúp mở rộng việc tiếp nhận tác phẩm
cả về chiều rộng không gian và chiều dài thời gian. “Chính dịch thuật đã
giúp cho một tác phẩm kéo dài tuổi thọ ở một môi trường khác. Và dịch
phẩm cũng trở thành bản gốc, có tác động mới mẻ đối với môi trường ấy.
Dịch thuật quả đã đưa lại một đời sống mới cho bản gốc”[12].
Về tiêu chuẩn đánh giá bản dịch nói chung (với bản dịch thơ thì
càng quan trọng), Nghiêm Phục (Trung Quốc) đã đưa ra những tiêu chuẩn
chung có tính nguyên tắc là: tín, đạt, nhã. Tiêu chuẩn được đặt lên hàng
đầu là tín – trung thành với nguyên bản, bản dịch phải thể hiện được
dịch thơ đã được đưa vào SGK, chúng tôi lập bảng thống kê sau: (bản dịch
nêu theo tên dịch giả )
Tác phẩm Tác giả Bản dịch trong SGK
Năm 1989 Năm 1995 Năm 2003
Hành lộ nan Lý Bạch Hoàng Tạo N.K.P
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-7
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
Vọng Lư Sơn bộc
bố
Lý Bạch Tương Như Như bên
(nb)
Nb
Tĩnh dạ tứ Lý Bạch Tương Như Nb Nb
Thái liên khúc Lý Bạch Tản Đà Nb
Thu phố ca Lý Bạch N.K.P
Đôi én rời nhau
(Song yến ly)
Lý Bạch Trúc Khê
Thạch Hào lại Đỗ Phủ Khương Hữu
Dụng (bản 1)
Khương
Hữu Dụng
(bản 2)
Giang bạn độc bộ
tầm hoa
Đỗ Phủ N.K.P
Tuyệt cú
(chùm 4 bài)
Đỗ Phủ Tản Đà
Tuy nhiên, trong Toàn tập Tản Đà, tập 4 [5, 622-626], Nguyễn Quảng Tuân
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-8
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
đã chứng minh ý kiến này là không có căn cứ, và ông đưa ra chứng cứ nói
rằng bản dịch này là của Nguyễn Hàm Ninh. Song hai bản dịch (một
nguyên bản, một lưu truyền) mà Nguyễn Quảng Tuân dẫn ra không hoàn
toàn giống với bản dịch trong SGK. Ở hai bản dịch đó, câu đầu lần lượt là:
“Trăng tà, tiếng quạ kêu sương” và “Quạ kêu, trăng lặn, trời sương”
(trong SGK là: “Trăng tà, chiếc quạ kêu sương”), hai câu sau giống hệt,
câu cuối thì khác chữ “San” (trong SGK là “Hàn Sơn”). Vì vậy, chúng tôi
vẫn theo ý kiến của người biên soạn SGK, cho trường hợp bản dịch thơ này
là khuyết danh (K.D).
Qua bảng trên, chúng tôi đưa ra một vài nhận xét như sau:
* Tổng số tác phẩm thơ Đường được chọn (tính chung qua mấy lần
đổi sách) là 15 bài, trong đó SGK 1989: 9 bài, SGK 1995: 10 bài, SGK
2003: 5 bài. Các bài được chọn có thay đổi ít nhiều nhưng chủ yếu vẫn là
các tác phẩm của hai đại diện tiêu biểu nhất của Đường thi là “thi tiên” Lý
Bạch và “thi thánh” Đỗ Phủ. Ngoài ra, SGK 1989 có thêm một bài của
Thôi Hiệu, năm 2003 có thêm tác phẩm của Trương Kế và Hạ Tri Chương.
SGK chương trình mới (2003) có ít bài nhất nhưng lại nhiều tác giả nhất,
nên phần Đường thi trong đó có vẻ đa diện, đa phong cách hơn. Tuy nhiên,
nhìn tổng thể thì trọng tâm là thơ Lý Bạch và Đỗ Phủ - hai tác giả lớn có
phong cách đặc sắc nhất (nhà phê bình Nghiêm Vũ đời Tống từng nhận xét:
“Tử Mỹ bất năng vi Thái Bạch chi phiêu dật, Thái Bạch bất năng vi Tử Mỹ
chi trầm uất” – Đỗ Phủ không làm nổi cái bay bổng của Lý Bạch, Lý Bạch
không làm nổi cái trầm uất của Đỗ Phủ). Mấy ai dịch Đường thi mà lại
không từng “lao tâm khổ tứ” vì tác phẩm của hai thi hào này. Bên cạnh đó,
các tác phẩm của Thôi Hiệu, Trương Kế, Hạ Tri Chương cũng là những tác
phẩm nổi tiếng xứng đáng được chọn giới thiệu cho HS học thơ Đường.
chương trình học không phải là việc làm mang tính ngẫu nhiên. Người biên
soạn SGK chắc chắn đã cân nhắc: chọn những tác phẩm, tác giả nào để có
thể giới thiệu khái quát gương mặt Đường thi; chọn bản dịch nào của dịch
giả nào để có thể giúp HS cảm nhận đầy đủ nhất về tác phẩm, tác giả ấy.
Trong đó, việc chọn bản dịch cũng là thể hiện sự đánh giá về tính chuẩn
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-10
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
xác của bản dịch và năng lực của dịch giả. Từ cách tiếp nhận của dịch giả -
độc giả đặc biệt – mà hướng cho HS một cách tiếp nhận Đường thi.
1.2. Độ vênh giữa bản dịch và nguyên tác thơ Đường trong SGK THCS
1.2.1. Độ vênh giữa bản dịch và nguyên tác về mặt hình thức:
Cần lưu ý rằng hình thức tác phẩm văn học là hệ thống chỉnh thể của
nhiều yếu tố thuộc các cấp độ khác nhau. Ở đây chúng tôi chủ yếu đề cập
đến một đặc trưng hình thức tiêu biểu là thể loại – “một hiện tượng loại
hình của sáng tác và giao tiếp văn học hình thành trên cơ sở sự lặp lại có
quy luật của các yếu tố tác phẩm”[9, 340]. Đối với các tác phẩm văn học
nói chung, thể loại là yếu tố quan trọng được coi như là mô hình đọc, nó là
“mã văn chương, tổng thể chuẩn mực, quy tắc của trò chơi, cho người đọc
biết cách anh ta sẽ phải tiếp cận văn bản, và như vậy là nó đảm bảo cho sự
thông hiểu văn bản”. Tiếp cận với các bài thơ Đường, thể loại là vấn đề
càng cần quan tâm. Những tác phẩm thơ ca Trung Quốc ra đời ở thời
Đường, một số làm theo lối cổ thể, khá tự do, nhưng đa phần là làm theo lối
cận thể, kim thể, niêm luật vô cùng chặt chẽ (luật thi). Nó là sự ràng buộc
đối với người sáng tác, tài năng của tác giả thể hiện ở chỗ dùng hình thức bị
ràng buộc ấy mà chuyển đạt được cái ý sâu xa, tình cảm dạt dào của mình.
Tuy nhiên, trong số những kiệt tác Đường thi như tác phẩm của Lý Bạch,
Đỗ Phủ, Thôi Hiệu… lại không ít bài không câu nệ vần luật, một là sáng tác
theo lối cổ thể, hai là theo cận thể nhưng cố ý phá cách, thất luật. Vấn đề
cần xem xét ở đây là khi dịch thơ Đường thì người dịch có thay đổi thể loại
cú cận thể
N.K.P Thơ 7 chữ*
Đôi én rời nhau
(Song yến ly)
Ca (cổ thể) Trúc Khê Lục bát*
Thạch Hào lại Ngũ ngôn cổ thể Khương Hữu
Dụng
Ngũ ngôn cổ thể
Giang bạn độc
bộ tầm hoa
Thất ngôn tuyệt
cú cổ thể
N.K.P Thất ngôn tuyệt cú
cổ thể
Tuyệt cú
(Chùm 4 bài)
Ngũ ngôn tuyệt
cú cận thể
Tản Đà Ngũ ngôn tuyệt cú
cận thể
Tương Như Lục bát*
Mao ốc vị thu
Phong sở phá
Ca hành
(Cổ thể)
N.T Ca hành
Khương Hữu
Dụng
Ca hành
Tuyệt cú
K.D Lục bát *
Như vậy qua bảng trên ta thấy có 8 trường hợp bản dịch thơ tiếng
Việt đã thay đổi thể loại so với nguyên tác. Trong đó có một trường hợp
bản dịch Thu phố ca là chuyển từ thơ 5 chữ (ngũ ngôn) sang thơ 7 chữ, còn
lại đều là chuyển sang lục bát (các bản dịch bài Thái liên khúc, Tuyệt cú
(chùm 4 bài), Song yến ly, Hoàng Hạc lâu, Phong Kiều dạ bạc, Hồi hương
ngẫu thư – 2 bản). Một điều dễ nhận thấy là bản dịch khi đã chuyển thể,
nhất là sang thể lục bát thì không còn giữ nguyên vần luật đối trượng như ở
nguyên tác. Đặc biệt ở một số bài, câu vốn được coi là mẫu mực của Đường
thi như hai câu trong Hoàng Hạc lâu:
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Bản dịch lục bát của Tản Đà:
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Một là không thể hiện được tính đối và âm điệu, hai là không dịch
được hai từ láy “lịch lịch” và “thê thê” như nguyên tác.
Hay như bài Tuyệt cú (chùm 4 bài) của Đỗ Phủ có hai cặp câu 1 và
2, 3 và 4 đối nhau rất chỉnh:
- Lưỡng cá/ hoàng ly/ minh thúy liễu
Nhất hàng/ bạch lộ/ thướng thanh thiên
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-13
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
- Song hàm/ Tây Lĩnh/ thiên thu tuyết
Môn bạc/ Đông Ngô/ vạn lí thuyền
Bản dịch của Tương Như ở thể lục bát đã làm mất tính cân đối của
nguyên tác:
Liễu xanh hót cặp oanh vàng
Trời lam trắng điểm một hàng cò bay
ngợi dịch giả đã “gần gũi hoá” bài Đường thi xa lạ để người Việt ta dễ hiểu.
Ngược lại, rất nhiều người đã phản đối. Trong đó, nhà thơ Bàng Bá Lân có
ý kiến: “Dịch Đường thi bằng thể lục bát chẳng khác nào đem bức tranh
trang trọng cổ kính của chiếc khung chạm sơn son thếp vàng mà lồng vào
chiếc khung trúc. Thanh nhã có thừa, nhưng vẻ trang trọng cổ kính không
còn nữa”[11, 76]. Quyết liệt hơn, dịch giả Thái Bá Tân cho rằng: “Dịch thơ
phải trung thành với nguyên tác. Trên thế giới hầu như không có nước nào
có thơ giống như thể thơ lục bát của ta, vì vậy, dịch thơ nước ngoài ra thể
lục bát là không chấp nhận được”[20]. Theo chúng tôi, “chấp nhận được”
hay không là tùy quan điểm tiếp nhận của mỗi người. Nếu như bản dịch
thoát về thể loại nhưng vẫn sát, vẫn diễn đạt được đầy đủ ý của nguyên tác,
người đọc vẫn cảm nhận được tác phẩm thì không hẳn là “không chấp nhận
được”. Tuy nhiên, hình thức là điều tác động đầu tiên đến người đọc, vì thế
bản dịch vẫn nên giữ nguyên thể của tác phẩm. Và trên thực tế, để người
đọc quen với việc cảm nhận một tác phẩm Đường thi qua thể thơ đặc trưng
của Việt Nam là không hề dễ dàng. Đối với HS THCS, giới thiệu bản dịch
thơ lục bát có thể giúp HS cảm thấy thơ Đường có vẻ gần gũi hơn, dễ cảm
nhận hơn. Nhưng mặt khác, bản dịch lục bát lại không giúp HS thấy được
đúng diện mạo nguyên tác (thể loại, cách luật, đối trượng). Đây là điều cần
lưu ý khi sử dụng các bản dịch thơ chuyển thể.
Độ vênh về mặt thể loại của một số bản dịch so với nguyên tác như
trên là yếu tố quan trọng nhất và cũng dễ thấy nhất về mặt hình thức. Nó
kéo theo độ vênh rất lớn về kết cấu hay cách luật, đối trượng. Ở những bản
dịch không chuyển thể, độ vênh kiểu này cũng có nhưng ít hơn.
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-15
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
Bản dịch bài Giang bạn độc bộ tầm hoa do N.K.P dịch có một số
chỗ “vênh” về hình thức so với nguyên tác. Câu 2 nguyên tác có sử dụng
điệp từ “đóa” (“Thiên đóa vạn đóa áp chi đê”), câu thơ dịch không thể
Đó là tính “hình tự” (tương tự về hình thức) của bản dịch. Và trước hết, để
đảm bảo tính “hình tự” này thì tốt nhất là bản dịch nên giữ nguyên thể so
với nguyên tác.
1.2.2. Độ vênh giữa các bản dịch và nguyên tác về mặt nội dung:
Theo nguyên tắc lý luận, ý của tác phẩm là yếu tố “khả dịch”, và dịch
ý chính là yêu cầu trước hết của việc dịch thơ. Tuy nhiên, khái niệm ý rất
phức tạp, trong đó bao hàm cả ý của từ, ý của câu, ý của đoạn và ý của cả
bài; lại có ý hiện hữu và ý hàm ẩn, ý ở “ngôn nội” và ý ở “ngôn ngoại”. Vì
thế, việc dịch ý tưởng dễ mà thực ra không hề đơn giản, nhất là phần “ý tại
ngôn ngoại”. Hơn nữa, bản dịch thơ lại bị giới hạn bởi hình thức thơ nhất
định, không thể thoải mái diễn đạt như lời văn xuôi. Làm sao để bản dịch
thơ chuyển tải hết ý của nguyên tác là rất khó, nhất là với những bài thơ
Đường phần lớn ở tầm nghệ thuật cao, ngôn ngữ hàm súc: “ý tại ngôn
ngoại” (ý ở ngoài lời), “huyền ngoại huyền, vị ngoại vị” (tiếng đàn đã dứt
mà vẫn còn dư âm, thức ăn đã nuốt mà vẫn còn dư vị). Chuyển tải ý đã khó,
chuyển đạt cái phong cách, cái “thần” của tác giả ẩn trong tác phẩm lại
càng khó hơn nữa. Do vậy, có độ vênh về nội dung giữa bản dịch và
nguyên tác các bài thơ Đường cũng là điều dễ lí giải. Nhìn chung, với các
bài tự sự như Thạch Hào lại, Mao ốc vị thu phong sở phá ca, Tuế án
hành… nội dung tương đối dễ hiểu, ít ý ngoài lời nên có thể nói các bản
dịch được chọn lựa đã chuyển dịch khá thành công. Dưới đây chúng tôi chỉ
điểm qua những bài thơ trữ tình hàm súc, đa nghĩa mà bản dịch khó chuyển
tải hết được
(Trong phần này chúng tôi chỉ nêu phần dịch nghĩa - đối với tác
phẩm ngắn và so sánh với bản dịch thơ, còn phần dịch nghĩa của tác phẩm
dài, phần phiên âm nguyên tác, bản dịch thơ xin xem phần phụ lục).
* Hành lộ nan (Đường đi khó) – Lý Bạch
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-17
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
-18
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
vậy là đã làm mờ nhạt đi hình ảnh người hiệp khách với ý chí muốn băng
núi vượt sông. Đối tượng núi, sông ở đây cũng không phải là bình thường.
Hoàng Hà là một trong hai con sông lớn nhất Trung Quốc, Thái Hàng cũng
là một dãy núi lớn, đường lên vô cùng hiểm trở: “Đường Thái Hàng lật gãy
được xe” (ý thơ Bạch Cư Dị). Cho nên, người muốn vượt sông Hoàng Hà,
lên núi Thái Hàng không thể là con người bình thường, mà phải là người có
một ý chí lớn lao. Trong câu thơ dịch chỉ thấy có còn lại khó khăn ngăn cản
con người. Hơn nữa, bản dịch đã nói quá cụ thể cái mà nguyên tác để hàm
ẩn: “khó nỗi vượt”, “không đường lên”. Độ sâu sắc, hàm súc của ngôn từ
trong nguyên tác đã bị giảm đi rất nhiều qua bản dịch. Dịch giả đã diễn đạt
ý quá rõ mà quên mất rằng “thơ kị lộ”, nhất là thơ Đường vốn là thể loại
nói ít hiểu nhiều.
Bản dịch của N.K.P (được đưa vào SGK 1995 để thay thế cho bản
dịch của Hoàng Tạo trong SGK năm 1989) phần nào khắc phục được nhược
điểm thiếu hàm súc như ở trên và chuyển đạt ý khá sát với nguyên tác. Chỉ
có một điểm nhỏ chúng tôi cho rằng dịch như Hoàng Tạo có lẽ hợp lí hơn.
Đó là cụm từ “đình bôi”, N.K.P dịch là “dừng chén” – sắc thái bình
thường, không thể hiện được nỗi niềm u uất, bực bội, phải kìm nén của con
người có tài không những không được trọng dụng mà còn bị bài xích, cho
nên rượu ngon đồ quý cũng “bất năng thực”. Dịch “dằn chén” như Hoàng
Tạo thì tâm trạng ấy được biểu đạt rõ hơn. Nói chung là ở bản dịch của
N.K.P, người dịch hiểu khá rõ tinh thần tác phẩm, thể hiện được con người
có ý chí khoáng đạt, gặp những trắc trở trên đường đời gian nan, dù còn
phân vân giữa bao ngả rẽ cuộc đời (đã rời bỏ chốn cung đình bó buộc
nhưng vẫn hướng tới con đường phò tá quân vương như Lã Vọng, Y Doãn),
nổi bật trên hết vẫn là con người kiên định với hoài bão lớn lao, lí tưởng
cao đẹp.
*Vọng Lư Sơn bộc bố (Xa ngắm thác nước Lư Sơn) – Lý Bạch
tả thác nước của Lý Bạch. Ở đây nhà thơ đã lạ hóa cú pháp, tỉnh lược đi từ
so sánh “như”, chỉ để lại hai đối tượng so sánh là thác nước và dòng sông.
Lấy chiều dài của dòng sông treo trên cao để tả chiều cao của thác nước, đó
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-20
Niên luận Đi tìm độ vênh giữa bản dịch với nguyên tác thơ Đường trong SGK
mới là miêu tả. Bản thân Lý Bạch cũng đã có lần nói đến dòng sông từ trên
trời đổ xuống: “Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai” (bài Tương tiến tửu).
Cách hiểu thứ hai như bản dịch nghĩa trong SGK đã nêu là: Xa nhìn dòng
thác treo trên dòng sông phía trước. Câu thơ dịch của Tương Như là theo
cách hiểu thứ hai, mặc dù diễn đạt cũng chưa rõ (“trước sông” tức là thác
đổ xuống phía trước con sông hay con sông phía trước?) Dù nói là hiểu
theo cách thứ hai thì bản dịch của Tương Như vẫn không thành công, bởi
đã đánh mất một chữ quan trọng nhất của câu thơ nguyên tác là chữ “quải”
(treo). Chính từ này là tâm điểm thể hiện vẻ đẹp sống động và kì vĩ của
thác nước Lư Sơn - treo lơ lửng giữa khoảng không vời vợi bao la. Chữ
“quải” cộng với “tử yên”- khói tía phát sinh từ mây mù trên đỉnh núi cao
khiến cho dòng thác mang vẻ đẹp của tiên cảnh: hùng vĩ một cách huyền bí,
lãng mạn. Không có chữ “quải”(treo) ấy thì thác Lư Sơn cũng chỉ là một
thác nước bình thường với vẻ đẹp trần tục, khiến bài thơ mất đi cảm quan
vũ trụ cao rộng.
Câu thơ cuối dịch từ “cửu thiên” bằng một chữ “mây”, một lần nữa
lại không đạt ý nguyên tác. Phải là sông Ngân rơi xuống từ chín tầng trời
cao thì mới có thể so sánh với thác nước Lư Sơn.
Chính vì bản dịch thơ không lột tả hết được vẻ đẹp của thác Lư Sơn
trong nguyên tác, nên cũng không thể hiện được con người Lý Bạch, phong
cách Lý Bạch ẩn trong bài thơ. Với tư duy nghệ thuật “thiên nhân hợp
nhất” – con người hợp nhất với thiên nhiên, Lý Bạch đã hòa cái chủ thể của
mình vào cái khách thể là thác nước Lư Sơn, khiến cho ở một khoảnh khắc
nào đó ta không còn phân biệt được đâu là Lư Sơn, đâu là Lý Bạch nữa.
tình cảm thể hiện trong đó mà nếu dịch ra sẽ mất đi ít nhiều.
Còn hai câu đầu, dịch như Tương Như là đã làm ý nguyên tác bị thay
đổi đi rất nhiều. Sự thay đổi này xuất phát từ độ vênh về mặt hình thức ở
hai câu thơ dịch (“Đầu giường ánh trăng rọi/ Ngỡ mặt đất phủ sương”). Ở
đây xuất hiện tới hai động từ (rọi, phủ) trong khi nguyên tác chỉ hoàn toàn
dùng cấu trúc định trung: minh nguyệt quang (ánh trăng sáng), địa thượng
sương (sương trên mặt đất). Như vậy, trong nguyên tác chỉ có duy nhất một
Phạm Thanh Thủy - Lớp NVSP K51
-22