ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ
QUY HOẠCH VÙNG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
TỈNH BẾN TRE
Môn Quản Lý MT NN và NT
GVHD : Th.S Trần Thị Mai Phương
SVTH: Dương Chánh Phát 0717079
Lê Hữu Lợi – 0717051
Nguyễn Lê Anh Thảo- 07170
TP Hồ Chí Minh , tháng 12 năm 2010
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TỈNH BẾN
TRE……………………………………………………………………………….3
I Điều kiện tự nhiên………………………………………………………3
1 Vị trí địa lý 3
2 Khí hậu…………………………………………………………….3
3 Đặc điểm địa hình………………………………………………….4
4 Tài nguyên thiên nhiên…………………………………………….4
II Nguồn lợi thủy sản và thủy sinh vật……………………………………7
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN CỦA TỈNH…………………………………………………………10
1 Phát triển kinh tế……………………………………………………….10
2.Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế………………………….10
3. Cơ cấu GDP và vốn đầu tư………………………………………….14
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
1 Tình hình phát triển chung của tỉnh Bến Tre……………………… 14
2 Tình hình phát triển của huyện……………………………………….15
Tre có tiềm năng lớn trong việc nuôi trồng thủy sản.
2.Khí hậu:
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm
ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ
trung bình hằng năm từ 26
0
C – 27
0
C. Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình
dưới 20
0
C. Với vị trí nằm tiếp giáp với biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của
bão, vì nằm ngoài vĩ độ thấp (bão thường xảy ra từ vĩ độ 15
0
bắc trở lên). Ngoài ra, nhờ
có gió đất liền, nên biên độ dao động ngày đêm giữa các khu vực bị giảm bớt.
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 4
Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió tây nam và đông bắc là 2
thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ
rệt. Mùa gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm. Lượng
mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm. Trong mùa khô, lượng mưa vào
khoảng 2 đến 6% tổng lượng mưa cả năm.
Khí hậu Bến Tre cũng cho thấy thích hợp với nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản.
Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự phát triển của các loại thủy sản khác nhau.
Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm
nên thường có nạn dịch bệnh phát triển quanh năm.
Trở ngại đáng kể trong nông nghiệp là vào mùa khô, lượng nước từ thượng nguồn
đổ về giảm nhiều và gió chướng mạnh đưa nước biển sâu vào nội địa, làm ảnh hưởng đến
độ mặn đối với các huyện gần phía biển và ven biển vì ảnh ảnh hưởng lớn đến việc nuôi
Ngoài bốn con sông chính trên, Bến Tre còn có một mạng lưới sông, rạch, kênh
đào chằng chịt nối liền nhau, tạo thành một mạng lưới giao thông và thủy lợi rất thuận
tiện. Trung bình đi dọc theo các sông chính, cứ cách khoảng 1 đến 2 km là có một con
rạch hay kênh. Bến Tre có hàng trăm sông, rạch và kênh, trong khi đó có trên 60 con
sông, rạch, kênh rộng từ 50 – 100 m.
c. Tài nguyên động vật – thực vật
Bến Tre là vùng đất trẻ có nhiều cửa biển, nằm ở cuối nguồn hệ sông lớn Cửu
Long. Những cù lao lớn – cũng có nghĩa là phần lớn đất chính của Bến Tre – luôn luôn
được phù sa bồi đắp và hàng năm vươn dài ra biển. Nằm ở giữa môi trường sông và biển,
chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa nhiệt đới nên cảnh quan tự nhiên của Bến Tre mang
đặc trưng của miền địa lý động vật, thực vật của miền Tây Nam Bộ. Những con sông lớn
và vùng biển Đông ở Bến Tre có nhiều loại thủy sản như cá vược, cá dứa, cá bạc má, cá
thiều, cá mối, cá cơm, nghêu, cua biển và tôm he. Đây là sự thuận lợi lớn, nhờ vậy việc
nuôi trông sẽ đa dạng về loại giống.
5. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu:
Ngày nay, dưới tác động của biến đổi khí hậu làm cho bão, lũ, hạn hán, tình hình
xâm nhập mặn diễn ra ngày càng gay gắt và phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất
và đời sống của nhân dân mà theo đánh giá của các nhà khoa học thì Bến Tre là một
trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Do vậy, các biến động khí hậu này đã ảnh
hưởng sâu sắc đến việc nuôi trồng thủy sản của tỉnh Bến Tre.
Trong những năm qua, hàng năm tỉnh Bến Tre đã tổ chức trồng mới thêm hàng
trăm ha rừng tập trung và hàng triệu cây phân tán, nâng diện tích rừng của tỉnh lên 3.842
ha. Thông qua chính sách giao khoán rừng, đất rừng và cho người dân được hưởng lợi từ
các sản phẩm từ rừng theo Quyết định 178 của Chính phủ; các mô hình sản xuất kết hợp
với quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả (nuôi tôm, sò huyết trong rừng…), góp phần cải
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 6
thiện và nâng cao thu nhập cho người dân vùng ven biển. Mặc dù diện tích rừng ngập
mặn của tỉnh không nhiều nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ bảo vệ
môi trường, phòng chống xói lở, cố định bãi bồi, đặc biệt là giữ vững sự cân bằng sinh
thái vùng cửa sông ven biển, và góp phần lớn trong việc bảo vệ nguồn thủy sản khỏi
truyền triều từ hai phía.
Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào
nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những
ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v Song với vùng xa
cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ
cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông
được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều
rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta
cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu
thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên
liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong
phú thêm.
II. Nguồn lợi thủy sản và thủy sinh vật:
Với những nguồn lợi và hạn chế có sẵn, tỉnh đã đề ra biện pháp để quản lý và bảo
vệ nguồn lợi thủy sinh vật như sau:
Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 7.833 ha đất được quy
hoạch cho lâm nghiệp. Trong đó: Rừng phòng hộ 3.803 ha, Rừng đặc dụng 2.584 ha,
Rừng sản xuất 1.446 ha. Đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho dân, mục tiêu từ nay
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 8
đến năm 2020, phải bảo vệ tốt rừng hiện có đồng thời trồng mới thêm khoảng 1.100 ha để
nâng diện tích rừng ngập mặn của tỉnh lên 4.900 ha. Đảm bảo cho lâm nghiệp đóng góp
ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo
tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao
mức sống cho người dân lâm nghiệp, đồng thời góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng
vùng ven biển của tỉnh.
Theo kết quả khảo sát của đề tài, hiện nay thảm thực vật vùng cửa sông ven biển
của tỉnh đang bị đe doạ bởi sự suy giảm về diện tích và cấu trúc thảm thực vật, chỉ có 145
loài với 56 họ còn lại trong khu hệ thực vật đặc trưng cho hệ thực vật của rừng mưa nhiệt
đới. Loài đặc trưng cho rừng ngập mặn ở vùng cửa sông ven biển là Mắm biển, Mắm
trắng, Bần chua, Bần đắng, Giá và Su ổi. Thảm thực vật rừng ngập mặn hầu như không
phát triển nguồn lợi thủy sản trong vùng; 105 loài động vật phiêu sinh thuộc 8 nhóm,
trong đó nhóm chân chéo Copepoda phong phú nhất và có mặt ở hầu hết các điểm từ
vùng cửa sông đến các sông rạch trong nội địa.
Để sử dụng và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông
ven biển tỉnh Bến Tre đề tài đã đề xuất các giải pháp cụ thể. Đối với cây lâm nghiệp cần
quy hoạch sử dụng đất dựa theo điều kiện của thảm thực vật, điều kiện thổ nhưỡng, áp
dụng lâm - ngư kết hợp, quản lý rừng chặt chẽ, động viên nhân dân tham gia bảo vệ rừng;
đối với cây trồng nông nghiệp cần bảo tồn nguồn giống (cây ăn trái, hoa màu…). Đối với
các loài động vật hoang dã, cần khoanh vùng sinh cảnh địa lý của các loài động vật quý
hiếm trong tỉnh tạo nên hoàn cảnh sống thuận lợi và ổn định dần nơi sống của chúng, đặc
biệt là chim và Bò sát, nghiêm cấm săn bắt trong các khu rừng và trảng cỏ, xây dựng các
khu bảo tồn dẫn dụ chim để bảo tồn nguồn gen. Với nguồn lợi thủy sinh vật, cần tiến
hành khoanh vùng các khu vực khai thác và nuôi trồng hợp lý nhằm bảo vệ, sử dụng bền
vững nguồn tài nguyên thủy sinh vật
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 10
Nguồn lợi thủy sinh
Đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng quý giá và mang tính quyết
định cho sự tồn tại của con người vì đây là nguồn cung cấp thực phẩm chính. Với địa thế
tọa lạc giữa bốn con sông: Sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên,
đã tạo ra tính đa dạng các loài rất cao trong các vùng cửa sông ven biển tỉnh Bến Tre. Đa
dạng sinh học đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các ngành kinh tế trong tỉnh,
đồng thời tạo ra sự ổn định, khả năng chống chịu cho nền kinh tế và các cơ hội để nâng
cao sản lượng, phát triển các ngành nghề, tạo thu nhập cho các cộng đồng dân cư trong
tỉnh. Tuy nhiên, những năm gần đây sự phát triển các ngành nghề theo cao trào, không
theo quy hoạch hợp lý đã làm tổn thương nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên sinh vật
trong tỉnh do hậu quả của hoạt động khai phá đất đai, biến đổi cảnh quan, mất rừng…Vì
thế, việc thống kê đa dạng sinh học là rất cần thiết, hoạt động này góp phần định hướng
sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sinh vật vùng cửa sông ven biển của tỉnh.
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN CỦA TỈNH
- Cơ cấu lao động đã chuyển dịch theo hướng tích cực cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế. Do điều kiện đặc thù của tỉnh, kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ lực nên tốc độ chuyển
dịch cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế diễn ra chậm; trong những năm gần đây
nuôi thủy sản nhất là vùng mặn phát triển mạnh nhưng sự chuyển dịch chủ yếu vẫn là
trong nội bộ ngành nông nghiệp. Do đó sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ
vẫn còn hạn chế. Cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tích cực, lao động nông nghiệp
giảm còn 79,83%; công nghiệp-xây dựng 7,14% và dịch vụ 13,03%. Điều này cho thấy,
kinh tế của tỉnh đang phát triển theo hướng tăng dần về chất lượng và hiệu quả, tạo thêm
việc làm ngày càng nhiều, giảm bớt lao động nông nhàn ở nông thôn.
Về sản xuất nông, lâm, thủy sản:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông, lâm ngư nghiệp ước tăng bình quân
khoảng 6,52%/năm. Trong những năm qua, ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch
cơ cấu sản xuất theo hướng khai thác tốt tiềm năng và lợi thế của từng vùng sinh thái,
ngày càng đi vào chiều sâu về hiệu quả và chất lượng, phát triển theo hướng bền vững,
từng bước phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Tiềm năng nông nghiệp
được khai thác tốt hơn, cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển dịch theo hướng chất lượng,
hiệu quả, giảm diện tích lúa, mía năng suất, hiệu quả thấp để chuyển sang trồng cây ăn
trái, nuôi trồng thủy sản hiệu quả cao hơn.
Việc thâm canh, ứng dụng giống mới để cải tạo vườn tạp, giồng tạp và trồng xen, nuôi
xen trong kinh tế vườn tiếp tục đẩy mạnh, góp phần làm tăng đáng kể năng suất và
chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Cây ăn trái tăng nhanh về diện tích và sản lượng từ
32.379 ha năm 2000, tăng lên 41.061 ha năm 2005, cao hơn mục tiêu kế hoạch 5.061
ha. Diện tích dừa ổn định, hiện có 36.827 ha, sản lượng thu hoạch năm 2005 là 249,6
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 12
triệu quả.
Diện tích mía giảm dần qua các năm để chuyển sang trồng cây ăn trái có hiệu quả
hơn, phù hợp với quy hoạch phát triển nông nghiệp của tỉnh. Cây mía được tập trung
phát triển ở những vùng có lợi thế nhằm đảm bảo nguyên liệu cho Nhà máy đường
của tỉnh. Đến năm 2005, diện tích mía toàn tỉnh còn 8.933 ha, sản lượng 628,8 ngàn
tấn.
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp bình quân
7,8%/năm. Triển khai quy hoạch, tổ chức sản xuất trên cơ sở xây dựng và tập trung phát
triển 3 vùng kinh tế của tỉnh; bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự
nhiên của từng vùng sinh thái, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Vùng
nước ngọt, tập trung trồng cây ăn trái, sản xuất cây giống, hoa kiểng. Vùng nước lợ, tập
trung trồng dừa, mía, cây có múi, ca cao và cây lúa. Vùng nước mặn chủ yếu nuôi trồng,
khai thác thủy sản, lâm nghiệp và dịch vụ hậu cần phục vụ nuôi trồng và khai thác thủy
sản.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn, tập trung đầu tư thâm canh cây ăn trái và
cây dừa. Đến năm 2010, diện tíach cây ăn trái 45.000 ha, sản lượng 500.000 tấn, tập
trung ở các huyện Chợ Lách, Châu Thành; diện tích dừa 40.000 ha, sản lượng 290 triệu
quả, tập trung ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm và Châu Thành. Ổn định diện tích lúa
khoảng 30.000 ha, sản lượng 350.000 tấn, chủ yếu ở các huyện Giồng Trôm, Ba Tri; tiếp
tục thâm canh vùng lúa cao sản, chất lượng cao để xuất khẩu. Duy trì vùng chuyên canh
mía ở các huyện Mỏ Cày, Thạnh Phú, Giồng Trôm, với diện tích khoảng 6.900 ha, sản
lượng 620.000 tấn.
Chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với ứng dụng tiến bộ khoa
học công nghệ vào sản xuất. Tăng cường hệ thống khuyến nông, nâng cao trình độ sản
xuất của nông dân. Sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao, xây dựng các vùng
sản xuất nông sản tập trung kết hợp với trồng xen, nuôi xen hợp lý; phát triển mạnh mô
hình kinh tế trang trại, hình thành những vườn cây chất lượng cao gắn với công nghệ sau
thu hoạch và chế biến xuất khẩu.
Phát triển đàn gia súc, nhất là đàn bò, dê và heo theo hướng tăng nhanh số
lượng, năng suất và chất lượng. Khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hình thức trang
trại với quy mô công nghiệp. Đẩy mạnh công tác lai tạo giống vật nuôi nhằm cung ứng
giống tốt cho nhân dân; tập huấn kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh; phát triển chăn nuôi gắn
với bảo vệ môi trường sinh thái. Bố trí diện tích canh tác phù hợp để trồng cỏ, phát triển
chăn nuôi bò, dê. Dự kiến đến 2010 đàn bò 180.000 con, đàn heo 360.000 con, đàn dê
60.000 con.
Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đảm bảo hiệu quả, ổn định và bền
- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2010 đạt trên 950 USD/năm;
- Đến năm 2010, toàn tỉnh có 40% trường Tiểu học, 20% trường Trung học cơ sở và 20%
trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia;
- Đến năm 2010, có 50% xã được công nhận xã Văn hóa;
- Đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 10%;
- Đến năm 2010 tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 95%;
- Đến năm 2010 tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh sạch đạt 85%;
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 15
- Đến năm 2010 tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đạt dưới 18%.
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
TRONG TỈNH BẾN TRE
1 Tình hình phát triển chung.
Nghề nuôi tôm tuy chỉ mới phát triển trong vài thập kỷ qua nhưng đã hình thức nuôi khác
nhau.Các hình thức chính:nuôi quảng canh,quảng canh cải tiến,bán thâm canh và thâm
canh.Bên cạnh đó còn có hình thức khác như: nuôi tôm trong ruộng lúa,nuôi tôm trong
rừng ngập mặn,nuôi tôm trên cát,nuôi tôm trong ruộng muối.
Thời gian qua, việc nuôi tôm thẻ chân trắng đã bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế thiết
thực cho người nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Bến Tre, có thể xem đây là một triển vọng mới
cho nghề nuôi thuỷ sản của tỉnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo Quyết định số
03/2008/QĐ-UBND ngày 07/3/2008 về sản xuất giống và nuôi tôm chân trắng trên địa
bàn tỉnh Bến Tre thì tôm thẻ chân trắng chỉ được phép thả nuôi tại một số vùng không
còn phù hợp để nuôi tôm sú. Do đó chưa đánh giá hết tiềm năng về diện tích nuôi và hiệu
quả kinh tế đối với loại thuỷ sản này. Vì vậy để đánh giá hiệu quả việc phát triển nuôi
tôm chân thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh được toàn diện, đồng thời làm cơ sở cho việc
định hướng quy hoạch nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới,
UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND ngày 20/02/2009 về
việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND. Theo đó sẽ cho phát triển nuôi
tôm chân trắng tại các vùng nuôi tôm sú thâm canh theo quy hoạch chi tiết nuôi thuỷ sản
trên địa bàn 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh phú. Đồng thời các cơ sở nuôi phải đăng
ký và được công nhận đủ điều kiện vệ sinh thú y.
không ít những người nuôi thủy sản chưa nắm chặt chẽ về kỹ thuật nuôi,từng mô hình
nuôi,từng đối tượng nuôi sản xuất theo kinh nghiệm bản thân.
b.Huyện Bình Đại
Bình Đại là một trong ba huyện biển của tỉnh Bến Tre với tiềm năng sẵn có do thiên
nhiên ưu đãi, với chiều dài bờ biển 27km, hệ thống sông rạch chằng chịt, hình thành môi
trường sinh thái khá lý tưởng không chỉ cho việc phát triển nuôi thuỷ sản ở cả ba vùng
mặn, lợ, ngọt mà còn tạo điều kiện phát triển nghề đánh bắt hải sản, mang lại nguồn
nguyên liệu phong phú, dồi dào cung ứng cho tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu…
Với tiềm năng, thế mạnh đó, nghề nuôi thuỷ sản ở Bình Đại đã có từ lâu với hình thức
nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và xen rừng. Từ khi được tỉnh, huyện xác định đây
là ngành kinh tế mũi nhọn, việc phát triển nuôi thuỷ sản đã được các cấp, các ngành và
nhân dân địa phương quan tâm đúng mức, nhất là từ năm 2000 đến nay, huyện đã đạt
được nhiều thành tựu với bước phát triển tích cực, tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân.
Tuy nhiên, nghề nuôi thuỷ sản huyện đang đứng trước những khó khăn thách thức. Một
vài nơi phát triển nuôi thuỷ sản còn mang tính tự phát, thiếu tính bền vững. Môi trường
nuôi còn ô nhiễm, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro còn cao.
Để việc nuôi thuỷ sản phát triển đúng hướng, an toàn và hiệu quả, huyện kịp thời rà
soát, điều chỉnh, bổ sung, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau khi cống đập Ba Lai
vận hành, quy hoạch chi tiết nuôi trồng thuỷ sản huyện đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 17
3.Hiện trạng phát triển nuôi tôm ở các tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long
a.Tỉnh Tiền Giang
Hiện nay, diện tích nuôi tôm tự nhiên trên địa bàn tỉnh khoảng 3.945ha. Trong đó, quảng
canh cải tiến: 1.686,06 ha (DTMN: 796,09 ha); thâm canh và bán thâm canh: 2.115,9 ha
(DTMN: 1.479,4ha). Từ đầu năm 2010 đến nay, tổng diện tích thả tôm giống là 3.838,66
ha (DTMN: 2.685,66), tăng 19,52 ha (tăng 0,77 %) so với cùng kỳ năm 2009. Sản lượng
tôm thu hoạch là 5.518,8 tấn (gồm có 2.814,33 tấn tôm sú và 2.704,47 tấn tôm thẻ), tăng
3.469,49 tấn so với cùng kỳ năm 2009. Thiệt hại 286ha, chiếm 10,64% diện tích mặt
Trà Vinh sẽ dành khoảng 1.880 ha đất vùng ngập mặn, ven biển nuôi tôm thẻ chân trắng,
trong đó, huyện Duyên Hải chiếm 730 ha, Cầu Ngang 450 ha, Châu Thành 300 ha và
huyện Trà Cú 400 ha. Đây là đối tượng nuôi mới mới được Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn cho phép các tỉnh vùng ngập mặn, ven biển khu vực đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL) qui hoạch, nuôi thử nghiệm.
Tuy nhiên, việc nuôi tôm thẻ chân trắng ở Trà Vinh còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập:
diện tích nuôi thử nghiệm không lớn nhưng có hơn 50% hộ nuôi tự phát ngoài vùng qui
hoạch. Nguồn tôm giống gần như bị thả nổi, chủ yếu dựa vào nguồn giống sản xuất
ngoài tỉnh cung cấp qua khâu trung gian. Đáng lưu tâm nhất là ngoài việc mắc các loại
bệnh thường gặp ở tôm nuôi, tôm thẻ chân trắng còn mắc phải hội chứng Taura. Đây là
loại bệnh rất nguy hiểm không có ở nước ta, nó có khả năng lây truyền sang tôm sú, các
loài tôm bản địa khác ở địa phương.
CHƯƠNG 4 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Ở
BẾN TRE ĐẾN 2020
1.Định hướng quy hoạch phát triển
Nhằm phát triển nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh theo hướng ổn định và bền
vững, góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản,
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành quyết định số 1196/QĐ-UBND về việc phê duyệt
Quy hoạch chi tiết nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
Tổng diện tích quy hoạch đến năm 2020 là 5.450 ha. Được phân bố trên địa bàn các huyện
Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.Để thực hiện tốt việc triển khai quy hoạch đã đề ra, cần hải
phát triển nuôi tôm chân trắng theo sự phân vùng trên địa bàn từng huyện, có kiểm soát của
cơ quan chức năng chuyên ngành; phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, lưới điện
phục vụ sản xuất, hệ thống giao thông, hậu cần dịch vụ, thông qua hình thức xây dựng dự
án để thực hiện phát triển quy hoạch đồng bộ; triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm thực
hiện tốt quy hoạch gồm: giải pháp về vốn và nguồn vốn đầu tư, giống, thức ăn, kỹ thuật, thủy
lợi, cơ chế chính sách, thị trường tiêu thụ, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, môi trường,
bố trí hình thức sản xuất. Chủ đầu tư và quản lý quy hoạch Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn tỉnh Bến Tre có trách nhiệm chủ trì và phối hợp với UBND các huyện: Bình Đại,
Ba Tri và Thạnh Phú thực hiện như: đầu tư các cơ sở hạ tầng thiết yếu, các hạ tầng kỹ thuật
1.000 8.800 3.080 32.880 5.450 63.500
Ba Tri 300 2.600 1000 9.860 1.400 19.050
Bình Đại 500 4.000 1080 13.020 3.000 32.450
Thạnh Phú 200 2.200 1000 10.000 1.050 12.000
Vốn đầu tư dự kiến 530,87 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
chuyên ngành chiếm 42 tỷ đồng.
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 20
Diện tích nuôi được phân bổ tại 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.
Tại Huyện Ba Tri, tổng diện tích quy hoạch đến năm 2010 là 300 ha, đến năm 2015 là
1.000 ha, năm 2020 là 1.400 ha, được phân bố ở các xã Tân Xuân, Bảo Thạnh, Bảo
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 21
Thuận, An Thủy.
Năm
Xã
2010 2015 2020
Diện
tích (ha)
Sản
lượng(tấn
)
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng
Diện tích
(ha)
An Thủy 7
0
641 2
10
2.450 35
0
4.560
Tại
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 22
Bình Đại, dự kiến năm 2010 nuôi 500 ha, năm 2015 là 1.080 ha, đến năm 2020 là 2.000
ha, phân bố tại các xã Đại Hòa Lộc, Thạnh Trị, Thạnh Phước, Thới Thuận, Thừa Đức.
Năm
Xã
2010 2015 2020
Diện tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản
lượng
Diện
tích
(ha)
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 23
Huyện Thạnh Phú có diện tích quy hoạch đến năm 2010 là 200 ha, năm 2015 là 1000 ha
và đến năm 2020 là 1050 ha, được phân bố ở các xã An Nhơn, Giao Thạnh, Thạnh
Phong, Thạnh Hải.
Nă
m
Xã
2010 2015 2020
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng(tấn)
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng(tấn)
Diệntích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
2 2.200 1.000 10.000 1.050 12.000
Chuyên đề:Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tỉnh Bến Tre Page 24