MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
LỜI CẢM ƠN
Tác giả chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã cung cấp kiến thức, hướng dẫn tác giả trong việc
học tập, nghiên cứu và hoàn thành các môn học trong chương trình học.
Tác giả đặc biệt bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc của mình tới TS. Lê Thanh Tâm
- Khoa Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội - người
đã dành nhiều thời gian, kiến thức, kinh nghiệm và công sức, trực tiếp hướng
dẫn tác giả nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu và bản luận văn này.
Tác giả chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ các phòng, ban
chuyên môn thuộc Hội Sở chính của Ngân hàng Chính sách xã hội, người
thân trong gia đình đã cung cấp thông tin cần thiết, đóng góp, bổ sung ý kiến
hữu ích và động viên tác giả trong việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHCSXH
NHTM
NHNN
NSNN
TCTD
HĐQT
UBND
TKVV
RIDP
OPEC
CWPD
KFW
IFAD
FAO
FSDP
chính sách xã hội vừa lớn lại vừa có những đặc trưng riêng. Phần lớn nguồn
vốn hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam đều do Chính
phủ cấp chính vì vậy tính tự chủ trong hoạt động chưa cao. Với mục tiêu trở
thành một định chế tài chính hàng đầu trong lĩnh vực tài chính vi mô, tự chủ
trong hoạt động và tài chính, được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đánh
giá cao, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam cần phải nỗ lực hết mình để
vừa hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao phó trong
công cuộc xóa đói giảm nghèo vừa hoạt động có hiệu quả và bền vững từ đó
giảm thiểu tiến tới xóa bỏ sự trợ cấp từ Ngân sách nhà nước.
Để đạt được mục tiêu trên, vấn đề đặt ra là Ngân hàng Chính sách xã
hội Việt Nam cần nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tiễn nhằm tìm giải pháp
thích hợp trong việc huy động vốn đối với loại hình ngân hàng đặc trưng này
từ đó có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của đối tượng phục vụ.
Từ cách đặt vấn đề trên, đề tài: “
” được lựa chọn với mong
muốn đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển hoạt động huy động vốn
của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
(i) Luận giải cơ sở lý luận về phát triển hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng Chính sách xã hội.
1
(ii) Phân tích và đánh giá thực trạng sự phát triển hoạt động huy động
vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam giai đoạn 2003- 2008.
(iii) Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn của Ngân
hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu, phân tích các nội dung liên quan trực
tiếp đến công tác huy động vốn từ bên ngoài của Ngân hàng Chính sách xã
hội Việt Nam, trong thời gian chủ yếu kể từ khi Ngân hàng Chính sách xã
hội thành lập (năm 2003) đến hết năm 2008.
SÁCH XÃ HỘI
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng Chính sách xã hội
! ! ! ! "#$%&'
Ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, luôn tồn tại
nhóm đối tượng có điều kiện sống, mức sống, thu nhập thấp hơn so với các bộ
phận dân cư còn lại. Họ có thể là người nghèo đói, người có thu nhập thấp
hoặc thậm chí thu nhập trung bình hoặc khá nhưng điều kiện sản xuất, kinh
doanh không thuận lợi (là những yếu tố mang tính khách quan). Những đối
tượng này thường được phân vào nhóm đối tượng mang tính “chính sách xã
hội” vì: việc thoát khỏi nghèo đói, vươn lên hòa nhập với cộng đồng, phát
triển ở những vùng có điều kiện không thuận lợi,… không chỉ mang ý nghĩa
về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa: ổn định về xã hội, chính trị.
Hiện tượng đói nghèo là tình trạng chung của hầu hết các nước đang
phát triển. Việc một bộ phận dân cư không đủ sống, có mức sống thấp hơn
so với bình quân không chỉ là vấn đề cần giải quyết về mặt kinh tế, mà
còn là vấn đề mang tính xã hội, chính trị đặt ra đối với bất cứ Chính phủ
nào. Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) không chỉ mang tính quốc gia mà còn
mang tính quốc tế, không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực cho sự phát
triển. Nhiệm vụ XĐGN, tạo công ăn việc làm, giảm bớt bất công xã hội,
cải thiện điều kiện về y tế, giáo dục, là tất yếu trong quá trình phát triển.
Tuy nhiên, cơ chế thị trường mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng tự bản
thân nó không thể giải quyết tận gốc vấn đề trên, hơn nữa nó có thể làm
vấn đề trở nên trầm trọng hơn. Phân phối nguồn lực có hiệu quả không
đồng nghĩa với phân phối thu nhập công bằng, tăng trưởng kinh tế cao
3
không đồng nghĩa với phát triển cũng như việc đảm bảo ổn định xã hội
như mục tiêu quản lý của Nhà nước. Sự thất bại của “bàn tay vô hình” của
cơ chế thị trường dẫn đến sự cần thiết can thiệp của Chính phủ. Chính phủ
cần phải quan tâm tới nhóm đối tượng này thông qua các chính sách, biện
pháp, giải pháp hỗ trợ cụ thể. Sự quan tâm, ưu tiên của Chính phủ nhằm
lao động, nơi nương tựa;
- Trợ giá: Trợ giá cho một số hàng hóa, dịch vụ nhất định (thường là
thiết yếu) tại những vùng nhất định (thường là khó khăn). Đây là hình thức hỗ
trợ gián tiếp, tuy nhiên cũng có những hạn chế như: vì hỗ trợ thông qua giá
hàng hóa, dịch vụ nên chỉ khi nào đối tượng cần được hỗ trợ mua hàng hóa,
dịch vụ thì họ mới nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ (trong khi đa phần là
người dân có thu nhập thấp, chi tiêu hạn chế), mặt khác có thể cả những
người không thuộc nhóm mục tiêu cũng được hưởng hỗ trợ này nếu như họ
mua loại hàng hóa, dịch vụ tại khu vực vào thời điểm đó;
Các hình thức nêu trên không có tính loại trừ nhau, có thể sử dụng
đồng thời để bổ sung cho nhau và giữa chúng cũng có điểm chung, đó là:
sự cho không (phần trợ cấp, trợ giá) từ Nhà nước mà không có bất cứ yêu
cầu hoàn trả nào từ người thụ hưởng. Điều này thường dẫn đến các hạn
chế như: Tạo tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Chính phủ; phát
sinh nhu cầu hỗ trợ rất lớn (thậm chí nhu cầu giả tạo); không bền vững vì
người dân luôn cần sự hỗ trợ từ Chính phủ; do vậy một gánh nặng lớn
luôn đặt ra đối với ngân sách Nhà nước. Thực tế đã chứng minh các
chương trình trợ giá, trợ cấp thường thất bại nếu thực hiện trên quy mô
lớn và trong thời gian dài.
Trên cơ sở mục tiêu hỗ trợ hiệu quả, các chương trình tín dụng dành
cho các đối tượng chính sách xã hội đã được các Chính phủ của nhiều
nước trên thế giới sử dụng. Các chương trình tín dụng như vậy của Chính
phủ chủ yếu xuất hiện tại các nước đang phát triển, hướng tới các đối
tượng người nghèo, người có thu nhập thấp, có hoàn cảnh và điều kiện
5
sản xuất và đời sống không thuận lợi, những vùng và những lĩnh vực ưu
tiên có ý nghĩa về kinh tế, chính trị - xã hội to lớn. Các chương trình tín
dụng như vậy có thể được thực hiện bởi một tổ chức tín dụng do Chính
phủ thành lập hoạt động chuyên phục vụ đối tượng nhất định (như Công
ty Tài chính Đời sống Quốc dân Nhật Bản - National Life Finance
phát từ thực tế đòi hỏi phải thực hiện nhằm hỗ trợ có hiệu quả và bền
vững đối với nhóm đối tượng này.
Một vấn đề đặt ra và hiện đang còn một số ý kiến khác nhau là: việc
hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội thông qua tín dụng ngân hàng nên
được thực hiện bởi một hoặc một số tổ chức?, tính chất sở hữu của tổ
chức này (thuộc sở hữu Nhà nước, hay sở hữu của cộng đồng hoặc của tư
nhân?), lãi suất cho vay (lãi suất ưu đãi, lãi suất thị trường hoặc lãi suất
bền vững?).
- Xem xét dưới giác độ tính chất sở hữu: Xuất phát từ đối tượng phục
vụ là đối tượng chính sách xã hội, so với các đối tượng hoạt động thương
mại khác, thì điều dễ thấy là các tổ chức tín dụng phục vụ đối tượng chính
sách gặp phải nhiều bất lợi như: nguy cơ mức độ rủi ro cao, chi phí hoạt
động cao hơn (do quy mô khoản cho vay nhỏ hơn, thông thường địa bàn
hoạt động ở khu vực có điều kiện đi lại không thuận lợi,…),… Chính vì
vậy, phần lớn các tổ chức này thuộc sở hữu của Nhà nước và do Chính
phủ chủ động và trực tiếp thành lập. Tuy nhiên cũng có số ít trường hợp
không hoàn toàn thuộc sở hữu của Nhà nước, trường hợp điển hình là
Ngân hàng Grameen (Bangladesh).
- Xuất phát từ thực tế đối tượng chính sách xã hội bao gồm nhiều
nhóm đối tượng cần sự hỗ trợ của Chính phủ tùy thuộc chính sách của
Chính phủ trong từng giai đoạn: nhóm người nghèo, nhóm doanh nghiệp
vừa và nhỏ, nhóm doanh nghiệp nhỏ mới thành lập, nhóm đối tượng cần
sự hỗ trợ trong từng lĩnh vực cụ thể: nông nghiệp, thương mại dịch vụ,
xuất nhập khẩu,… Hơn nữa, những nhóm đối tượng chính sách xã hội
7
khác nhau có những đặc điểm khác nhau, do vậy cần có những hỗ trợ cụ
thể khác nhau. Chính vì vậy ở thời kỳ ban đầu thường có quan điểm: tín
dụng ngân hàng đối với đối tượng chính sách xã hội thường được thực
hiện bởi nhiều tổ chức tín dụng như là một nhiệm vụ được Chính phủ giao
hoặc kênh tín dụng nhận ủy thác từ Chính phủ, mỗi tổ chức đảm nhận
! ! !(!)
Một cách chung nhất, ngân hàng chính sách là một loại hình ngân hàng
chuyên thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ trong
thời kỳ nhất định. Đây là các khoản cho vay phi lợi nhuận đối với các đối
tượng ưu tiên của các chính sách của Chính phủ khó có thể đáp ứng hoặc tiếp
cận tới các tiêu chí thương mại. Việc thực hiện tín dụng chính sách góp phần
quan trọng đối với phát triển kinh tế, ổn định chính trị và xã hội.
Tín dụng chính sách thường được thực hiện thông qua một số loại
hình ngân hàng, tổ chức tài chính với nhiều tên gọi khác nhau như:
- Ngân hàng chính sách hoặc tổ chức tài chính phục vụ các chính
sách phát triển, thường gọi là ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát triển
(ví dụ như: Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng Tái thiết, Quỹ hỗ trợ
phát triển,…);
- Ngân hàng chính sách phục vụ một lĩnh vực nhất định (ví dụ: Ngân
hàng tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ,…);
- Ngân hàng chính sách xã hội phục vụ các chính sách xã hội;
Như vậy có thể nói: Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín
dụng, là một loại hình ngân hàng chính sách có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi
tín dụng chính sách của Chính phủ đối với nhóm đối tượng chính sách xã hội.
Tuy nhiên, hiện tại còn nhiều quan điểm khác nhau về việc hỗ trợ
thông qua tín dụng ngân hàng chính sách xã hội như:
- Có quan điểm cho rằng nên thành lập ngân hàng chuyên phục vụ đối
tượng chính sách xã hội; trong khi có ý kiến cho rằng các chương trình tín
dụng này có thể giao cho các ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện;
9
- Có quan điểm cho rằng: đối với đối tượng này cần thực hiện ưu đãi
trong đó nhất thiết phải có ưu đãi về lãi suất (lãi suất cho vay thấp hơn lãi
suất cho vay của NHTM); trong khi đó lại có ý kiến khác: chỉ cần ưu đãi
về các điều kiện và thủ tục vay vốn mà không nhất thiết phải ưu đãi về lãi
suất cho vay.
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) là một loại hình ngân hàng
đặc thù, phục vụ cho những mục tiêu chuyên biệt trong lĩnh vực phát triển
xã hội có mục tiêu hoạt động không phải là lợi nhuận mà vì mục tiêu xoá
đói giảm nghèo, ổn định xã hội. NHCSXH có nhiều đặc trưng so với các
ngân hàng thương mại khác, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về đối tượng vay vốn:
NHCSXH thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng, các dự án
phát triển, các đối tượng đầu tư ở những nơi mà người dân còn đói nghèo
do thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng không đủ các điều kiện cơ bản để
vay vốn của các ngân hàng thương mại. Những đối tượng vay vốn này ở
nhiều nước thường do Chính phủ chỉ định
Đây là những khách hàng có rất ít các điều kiện để tiếp cận với dịch
vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại, là các khách hàng dễ bị tổn
thương, cần có sự hỗ trợ tài chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên
tự cải thiện điều kiện sống của chính họ.
Thứ hai, về mục tiêu hoạt động:
Khách hàng của NHCSXH phần lớn là những đối tượng hầu như
không thể tiếp cận được với vốn tín dụng thông thường của các ngân hàng
thương mại. Do đó, khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay những đối
tượng khách hàng này của NHCSXH là rất thấp, thậm chí không thể có
được. Chính vì lẽ đó, các NHCSXH thường hoạt động không vì mục tiêu
lợi nhuận mà vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
Đây chính là điểm khác biệt rõ nét trong hoạt động của các NHCSXH so
với hoạt động của các ngân hàng thương mại. Hoạt động của ngân hàng
thương mại là kinh doanh tiền tệ. Trong mọi hoạt động của mình, các ngân
hàng thương mại luôn quan tâm tới lợi nhuận, tạo sức cạnh tranh để chiếm
11
lĩnh thị trường đối với tất cả các dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung ứng.
Thứ ba, về nguồn vốn:
Trong khi hoạt động đặc trưng của các ngân hàng thương mại là đi
trung gian như: các tổ chức tín dụng, các tổ chức chính trị xã hội,…
! ! !0!1, /
NHCSXH có những hoạt động cơ bản như sau:
Thứ nhất, hoạt động tín dụng
NHCSXH thực hiện chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu thông qua việc
sử dụng vốn để cho vay các đối tượng khách hàng của mình. Đặc trưng
nổi bật trong hoạt động cho vay của các NHCSXH là NHCSXH trực tiếp
cấp những khoản tín dụng ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay cho các đối
tượng chính sách xã hội, các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội
nhằm góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí cho hộ nghèo và hộ
thu nhập thấp ở khu vực nông thôn và thành thị, xóa đói giảm nghèo, bảo
vệ môi trường, sức khỏe và an sinh xã hội.
Các NHCSXH thường thực hiện quy trình cho vay đơn giản, trực tiếp
cấp vốn tới đối tượng hưởng lợi hoặc cho vay ủy thác thông qua các tổ
chức chính trị xã hội (NHCSXH Việt Nam) hoặc cho vay trực tiếp thông
qua các tổ nhóm (Ngân hàng phục vụ người nghèo Grameen Bank ở
Bangladesh).
Thứ hai, hoạt động ủy thác
Do đối tượng vay vốn của NHCSXH là cộng đồng những người
nghèo, những người dễ bị tổn thương trong xã hội, sống tại các khu vực
vùng sâu, vùng xa nên khó tiếp cận với thông tin hay các dịch vụ tài
chính. Để tiếp cận được tới những đối tượng vay vốn một cách hiệu quả,
các NHCSXH đều thực hiện hoạt động ủy thác thông qua các tổ chức
chính trị xã hội (NHCSXH Việt Nam) hay ủy thác qua các nhóm tự vững,
nhóm đoàn kết (Ngân hàng phục vụ người nghèo ở Ấn Độ, Bangladesh,
Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã tín dụng Thái Lan (BAAC), )
Hoạt động ủy thác đem lại hiệu quả bởi huy động được sức mạnh
giám sát từ các tổ chức chính trị xã hội, các nhóm đoàn kết đối với việc
quản lý vốn vay của NHCSXH
Thứ ba, hoạt động thanh toán và ngân quỹ
nguồn vốn từ các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ. Tùy thuộc
vào quan điểm của từng Chính phủ, chính sách huy động vốn của các
ngân hàng chính sách sẽ có những quy định khác nhau.
14
Tại Thái Lan, Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác tác xã tín dụng Thái
lan (BAAC) là NHTM quốc doanh do Chính phủ thành lập. Nguồn vốn tự có
ban đầu của BAAC do Chính phủ cấp 100%, Chính phủ bổ nhiệm Hội đồng
quản trị do Bộ trưởng Tài chính làm Chủ tịch. BAAC có nhiệm vụ:
- Hỗ trợ vốn nhằm phát triển toàn diện nông nghiệp và nông thôn.
- Cho vay nông nghiệp theo chương trình, dự án chỉ định của Chính phủ.
- Thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ các nguồn vốn của nhà nước đầu
tư cho nông nghiệp, nông thôn.
- Hàng năm, BAAC được Chính phủ tài trợ vốn để thực hiện chương
trình hỗ trợ vốn cho nông dân nghèo. Ngân hàng cho vay vốn đối với
người nghèo không phải thế chấp tài sản, mà phải tín chấp bằng sự cam
kết bảo đảm của nhóm, tổ, hợp tác xã sản xuất. Lãi suất cho vay vốn đối
với nông dân nghèo thường được giảm từ 1 - 3%/năm so với cho vay các
đối tượng khác.
Ngoài ra, để tăng cường phát triển nông nghiệp, nông thôn, Chính
phủ quy định các NHTM khác phải dành 20% vốn huy động được để cho
vay đối với lĩnh vực nông thôn. Hàng năm, Chính phủ có chỉ tiêu bắt buộc
các Ngân hàng thương mại phải cho vay đối với các đối tượng hoạt động
sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Nếu Ngân hàng thương
mại không cho vay hết chỉ tiêu bắt buộc đó thì phải gửi số tiền còn lại vào
BAAC. Ngân hàng Trung ương bảo lãnh cho BAAC vay vốn nước ngoài.
Trong hoạt động, BAAC được miễn ký quỹ bắt buộc[29],[42].
Đối với Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia (BPM), nguồn vốn cung cấp
cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn cũng do Chính phủ cấp 100% vốn ban
đầu. Trong quá trình hoạt động Chính phủ buộc các NHTM khác phải gửi
20,5% số tiền huy động được vào Ngân hàng Trung ương (trong đó 3% dự trữ
từ nguồn Ngân sách đặc biệt (nguồn vốn ngân sách, Tiết kiệm Bưu điện, Quỹ
Hưu trí) chiếm 90% và 10% còn lại là dưới dạng trái phiếu đầu tư tài chính
hoặc phát hành trái phiếu bảo lãnh của Chính phủ.
16
Đối với mô hình ngân hàng chính sách không thuộc sở hữu nhà nước, có
nguồn vốn hoạt động dựa trên sự đóng góp của người dân là chính và huy
động vốn dựa trên nguyên tắc thị trường thì chính sách huy động vốn lại có
những điểm khác biệt. Ngân hàng Grameen của nước Cộng hòa nhân dân
Bangladesh là một ngân hàng chuyên phục vụ người nghèo được sáng lập vào
năm 1976 và chính thức tổ chức lại từ năm 1983. Với 93% vốn điều lệ do các
thành viên nghèo đóng góp và Chính phủ chỉ góp 7% vốn điều lệ. Ngân
hàng Grameen hoạt động theo nguyên tắc:
+ Tự bù đắp chi phí
+ Áp dụng chính sách lãi suất thực dương
+ Cho vay trực tiếp đến hộ nghèo thông qua tổ nhóm
+ Không áp dụng biện pháp thế chấp tài sản
Ngân hàng Grameen chỉ phục vụ những thành viên trong hệ thống và
những hộ không có tài sản thế chấp không thể tiếp cận vay vốn của các
ngân hàng thương mại khác. Phương thức cấp tín dụng theo điều kiện đặc
biệt, chỉ cho người nghèo vay vốn gắn với gửi tiết kiệm bắt buộc hàng
tuần để tạo lập nguồn vốn xây dựng ngân hàng Grameen.
! !(!(!234/
Ngoài nguồn vốn do Nhà nước cấp, phần lớn ngân hàng chính sách
phải huy động vốn từ các nguồn khác, như:
- Huy động tiết kiệm.
- Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội.
- Nguồn đóng góp của các tổ chức và cá nhân từ thiện: Rất nhiều tổ
chức và cá nhân muốn hỗ trợ người nghèo. Thông qua NHCSXH, số tiền
hỗ trợ được quay vòng nhiều lần và có hiệu quả.
- Nguồn cho vay ưu đãi của Chính phủ và tổ chức tài chính: Những
hàng thực hiện giao
dịch gửi tiền
Khách hàng rút tiền,
tất toán tài khoản
Khách hàng gửi tiền
tại ngân hàng. Ngân
hàng sử dụng tiền để
tài trợ hoạt động
Sơ đồ 1: Quy trình huy động tiền gửi tiết kiệm của NHCSXH
Cùng với mạng lưới hoạt động rộng, các ngân hàng chính sách luôn tập
trung mạnh vào vấn đề con người và công nghệ bởi việc đa dạng hóa các hình
thức huy động vốn phụ thuộc lớn vào hai yếu tố này. Đào tạo đội ngũ cán bộ
giỏi, chuyên tâm công tác và biết thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với chính
quyền địa phương, tổ chức hoạt động nhân đạo trong và ngoài nước và bà con
nông dân. Thông qua nhiều hình thức như Nhóm tự vững, tổ tiết kiệm và vay
vốn, các ngân hàng chính sách đã biết tận dụng sức mạnh của người dân và
các cơ quan địa phương trong việc tuyên truyền và phổ biến chính sách của
ngân hàng, từ đó thu hút được sự quan tâm, chú ý và sự tự nguyện gửi tiền
vào ngân hàng của người dân và của các tổ chức.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng chú tâm vào việc đầu tư công nghệ
hiện đại, từng bước hiện đại hóa các dịch vụ phục vụ khách hàng nhằm
tạo thuận lợi ở mức tối đa cho bà con khi đến giao dịch (nhiều ngân hàng
cung cấp máy rút và gửi tiền tự động -ATM).
1.2. PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.2.1. Quan niệm về phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng
chính sách xã hội
Theo Richard Beckhard, phát triển hoạt động một tổ chức nghĩa là
“một nỗ lực để (1) lập kế hoạch, (2) mở rộng hoạt động, (3) quản lý từ cấp
cao nhằm mục đích tăng cường hiệu lực và sức mạnh hoạt động của tổ
động vốn dài hạn, điều này lại gây bất lợi lớn cho NHCSXH khi thực hiện
cho vay các chương trình, hoặc dự án đòi hỏi lượng vốn trung và dài hạn
20
lớn. Sau đây là một số tiêu chí thể hiện sự phát triển hoạt động huy động
vốn của NHCSXH.
!(!(! !52
Quy mô vốn huy động thể hiện qua khối lượng vốn huy động và tốc
độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động. Khối lượng vốn huy động ảnh
hưởng đến doanh số cho vay và hoạt động đầu tư của NHCSXH cũng
như các hoạt động khác. Nếu khối lượng vốn huy động không đủ đáp
ứng nhu cầu sử dụng vốn thì NHCSXH sẽ phải bỏ qua nhiều cơ hội cung
cấp vốn tín dụng ưu đãi cho các đối tượng hưởng lợi. Một khi ngân hàng
tự chủ về hoạt động và tài chính thì nếu khối lượng vốn huy động nhiều
hơn nhu cầu sử dụng vốn thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.
Do đó, ngân hàng chính sách cần xác định được mối tương quan giữa
hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn để có kế hoạch huy
động cho phù hợp, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của người nghèo và
các đối tượng hưởng lợi khác nhằm đạt được các mục tiêu mà Chính phủ
từng quốc gia nêu ra trong từng thời kỳ, có như vậy hoạt động của ngân
hàng mới đạt hiệu quả cao.
Tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động thể hiện khả năng mở rộng
quy mô vốn huy động của ngân hàng chính sách qua các năm như thế nào, ổn
định hay biến đổi theo chiều hướng nào và khả năng kiểm soát của ngân hàng
chính sách đối với nguồn vốn này. Điều này ảnh hưởng đến khả năng mở
rộng các hoạt động cho vay của ngân hàng. Nếu tốc độ tăng trưởng ổn định sẽ
tạo thế chủ động cho ngân hàng tự chủ về tài chính của ngân hàng khi không
còn nhận sự bao cấp từ ngân sách nhà nước.
!(!(!(!,6
Cơ cấu vốn huy động bao gồm cơ cấu theo đối tượng huy động
hoặc cơ cấu theo kỳ hạn (ngắn hạn, trung và dài hạn), hoặc cơ cấu theo