BỆNH HỌC THỰC HÀNH - HOÀNG ĐẢN (Jaundice – Ictère) - Pdf 17

BỆNH HỌC THỰC HÀNH
HOÀNG ĐẢN
(Jaundice – Ictère)
Đại Cương
Hoàng đản là một chứng bệnh mà triệäu chứng chủ yếu là da vàng,
nước tiểu vàng đậm. Từ xa xưa, sách y học cổ truyền đã nhận thức về chứng
bệnh này.
Thiên 'Bình Nhân Khí Tượng Luận’ (Tố Vấn) ghi: “Người bệnh nước
tiểu vàng đậm, nằm yên mắt vàng người đau, sắc hơi vàng, lợi răng vàng,
móng tay chân vàng là chứng hoàng đản”.
Thiên ‘Ngọc Cơ Chân Tạng Luận’ (Tố Vấn 19): “Bệnh ở Can truyền
sang Tỳ, gọi là chứng Tỳ phong, phát bệnh đản”.
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10) viết: “Tỳ, kinh mạch túc Thái âm,
chủ bệnh Tỳ, sinh ra… hoàng đản”.
Điều 187 Thường Hàn Luận viết: “Bệnh thương hàn mạch Phù Hoãn,
chân tay ấm là thuộc về Thái âm… cơ thể sẽ phát vàng, nếu tiểu tiện tự lợi
thì không thể phát vàng được. Trải qua 7, 8 ngày, đại tiện cứng là chuyển
thành Dương minh bệnh”.
Điều 236 Thường Hàn Luận viết: “Dương minh bệnh phát sốt, mồ hôi
ra, là nhiệt độc đã theo mồ hôi ra ngoài được phần nào, không thể phát bệnh
hoàng đản được. Nếu mồ hôi chỉ ra ở đầu, còn từ cổ trở xuống hoàn toàn
không có mà tiểu tiện không lợi, khát, thích uống nước, nhiệt độc ứ lại ở
phần lý, cơ thể sẽ phát vàng”.
Theo y học hiện đại, các bệnh có vàng da. mắt như viêm gan virus, xơ
gan, bệnh xoắn khuẩn (Leptospira), viêm túi mật đều có thể biện chứng
luận trị theo chứng hoàng đản.
Phân Loại
Trương Trọng Cảnh căn cứ vào nguyên nhân bệnh chia chứng hoàng
đản làm 2 loại do ngoại cảm và do nội nhân. Hoàng đản do ngoại cảm, ông
mô tả trong sách 'Thương Hàn Luận’ về chứng thương hàn phát hoàng, còn
chứng hoàng đản do nội thương.

thấp trệ hóa nhiệt, thấp nhiệt nung nấu can đởm, đởm, dịch tràn ra mà phát
bệnh.
Thiên ‘Thông Bình Hư Thực Luận’ (Tố Vấn 28) viết: “Hoàng đản sở
dĩ sinh ra là do trái ngược với bình thường đã lâu”.
3. Tỳ Vị Hư Hàn: Do bệnh lâu ngày, chức năng tỳ vị suy giảm sinh
hàn thấp ứ trệ làm tắc đởm lạc nên nước mật tràn ra gây chứng hoàng đản.
Chẩn Đoán
+ Chủ yếu dựa trên mặt, mắt, cơ thể, móng tay chân, răng đều vàng.
Nước tiểu thường vàng đậm.
. Thiên ‘Bình Nhân Khí Tượng Luận’ viết: “Mắt vàng là bệnh hoàng
đản Nước tiểu vàng đỏ, nằm yên (mỏi mệt chỉ muốn nằm) là bệnh hoàng
đản”.
. Thiên ‘Luận Tật Chẩn Xích’ (Linh Khu) viết: Cơ thể đau mà mầu
hơi vàng, răng vàng bẩn, móng tay mầu vàng là hoàng đản”.
+ Về mầu sắc:
. Dương hoàng thì mầu vàng tươi như mầu quả quít chín hoặc như
mầu vị thuốc Hoàng bá. Âm hoàng mầu vàng tối như mầu ám khói.
Biện Chứng Luận Trị
Biện chứng chứng hoàng đản chủ yếu phân làm 2 loại: Dương hoàng
và âm hoàng.
Dương hoàng thường thời gian mắc bệnh ngắn, cơ thể khỏe, sắc da
vàng tươi, thuộc nhiệt chứng, thực chừng.
Âm hoàng thường thời gian mắc bệnh dài, người yếu. sắc da vàng tối
(vàng sạm) thuộc hàn chứng, hư chứng.
Nhưng dương hoàng và âm hoàng đều có thể chuyển hóa. Chứng
dương hoàng mà trị không khỏi, bệnh kéo dài cũng chuyển thành âm hoàng.
Chứng âm hoàng nhưng do cảm nhiễm thời tà trở lại, thấp nhiệt uất trệ gây
can đởm, mạch lạc không thông lợi mà mật tràn ra phát sinh triệu chứng của
dương hoàng. Bệnh chứng có thể lẫn lộn: trong hư có thực, khi biện chứng
cần chú ý.

tiện mà phải lấy sự khôi phục công năng bài tiết thủy dịch làm chính. Thí dụ:
Khi thấy mạch và chứng thuốc biểu, dùng phép phát hãn cho ra mồ hôi để
giải, mồ hôi ra thì đởm sắc tố cũng theo ra, đây cũng là một cách trừ hoàng
lợi thủy.
I- DƯƠNG HOÀNG
1- Thấp nhiệt: Sắc da vàng tươi, người nóng sốt, phiền khát, ngực tức,
bụng đầy, ăn kém, nước tiểu vàng đậm.
Phép trị chung là thanh nhiệt, lợi thấp. Có thể chia 2 thể khác nhau:
a. Thấp Thắng: Sốt không cao hoặc không sốt, miệng nhạt, không
khát, đầu nặng, ngực nặng, tiểu ít, tiêu lỏng, thân lưỡi bệu, rêu dày, mạch
Hoãn.
Điều trị: Lợi thấp làm chính, kèm thanh nhiệt. Dùng Nhân Trần Ngũ
Linh Tán gia giảm.
(Trong bài, Bạch linh, Trư linh, Trạch tả có vị ngọt, nhạt để thấm
thấp; Bạch truật kiện tỳ, trừ thấp. Nhân trần thanh nhiệt lợi thấp, làm cho bớt
vàng da.
b- Nhiệât Thắng: Sốt, bứt rứt, khát nước, tiểu tiện ít, nước tiểu vàng
đậm, táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch Sác.
Điều trị: Thanh lợi thấp nhiệt. Dùng bài Nhân Trần Cao Thang gia
giảm.
(Trong bài, Nhân trần thanh nhiệt, lợi thấp, giảm vàng da; Chi tử, Đại
hoàng thanh nhiệt độc, tả hạ. Thêm Xa tiền tử, Trư linh, Trạch tả để lợi thấp).
Sốt thêm Trúc nhự, Bán hạ, Gừng tươi, Trần bì. Bụng ngực đầy thêm
Chỉ thực, Hậu phác để hành khí, hóa trệ.
2. Nhiệt Độc Thịnh (Cấp Hoàng): Phát bệnh đột ngột, toàn thân vàng
tươi, sốt cao, khát nước, bụng ngực đầy tức, hôn mê nói sảng, tiêu có máu
hoặc chảy máu mũi hoặc ban chẩn đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch Huyền,
Sác hoặc Tế Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, tư âm. Dùng bài: Tê Giác
Tán gia vị.

mắt, chóng mặt, hồi hộp, mất ngủ, tiêu lỏng, chất lưỡi nhợt, rêu mỏng, mạch
Tế Nhược.
Điều trị: Bổ dưỡng khí huyết. Dùng bài Bát Trân Thang gia giảm.
(Trong bài, ‘Tứ Quân’ bổ khí, kiện Tỳ, bài ‘Tứ Vật’ bổ huyết. Thêm
Trần bì để lý khí, kiện Tỳ, tiêu thực; Sài hồ, Liên kiều, Địa cốt bì để thanh
can nhiệt (hư nhiệt do khí huyết hư); Nhân trần thanh nhiệt thối hoàng; Táo,
Sinh khương điều hòa Vinh vệ.
Châm Cứu
+ Âm Hoàng: Kiện Tỳ, lợi Đởm, ôn hóa hàn thấp.
Châm bổ hoặc cứu Tỳ du,Túc tam lý, Đởm du, Âm lăng tuyền, Tam
âm giao, Chí dương.
(Tỳ du, Túc tam lý để vận Tỳ Vị, hóa hàn thấp; Đởm du, Dương lăng
tuyền để lợi Đởm, bớt vàng da; Tam âm giao kiện Tỳ lợi thấp, dẫn thấp đi
xuống; Chí dương thuộc mạch Đốc, làm sơ thông dương khí, làm cho bớt
vàng da).
Mỗi ngày hoặc cách ngày châm một lần, lưu kim 30 phút. 10 lần là
một liệu trình (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu).
Nhĩ Châm: Chọn huyệt Can, Đởm, Tỳ, Vị, Tam tiêu, Cách, Phúc. Mỗi
lần chọn 3-5 huyệt. Kích thích vừa. Mỗi ngày hoặc cách ngày châm một lần.
10 ngày là một liệu trình (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Tham Khảo:
Châm huyệt Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Hành gian là các huyệt
chính. Sốt thêm Ngoại quan, Khúc trì; Thấp trọc thêm Tam âm giao hoặc
Âm lăng tuyền. Hoàng đản thêm Đởm du, Dương cương. Hông sườn đau
thêm Kỳ môn, Chi câu. Muốn nôn, nôn mửa thêm Nội quan, Nội đình. Châm
tả, lưu kim 30 phút, 10 phút vê kim một lần. Mỗi ngày châm 1-2 lần. 30
ngày là một liệu trình. Kết quả: khỏi hẳn 102 (91,9%), 9 ca không kết quả.
Trung bình điều trị 15 - 29 và 25 - 37 ngày (Châm Cứu Trị Liệu Cấp Tính
Bệnh Độc Tính Can Viêm 111 Liệt Đích Lâm Sàng Phân Tích, Thượng Hải
Châm Cứu Tạp Chí 1983 (2): 1).

Chẩn đoán: Cấp hoàng (Tây y: Viêm Gan truyền nhiễm thể cấp tính).
- Y án: Phát bệnh nhanh gấp, xuất hiện Hoàng đản đột ngột, cuồng táo
nói sảng, nhị tiện không tự chủ, rêu lưỡi vàng ráo mà khô, chất lưỡi đỏ tía,
mạch Tế Sác là do nhiệt độc quá thịnh, tà khí lọt vào Tâm bao, cần lương
huyết giải độc, thanh Tâm khai khiếu. Dùng Sinh địa tươi 20g, Thủy ngưu
giác 12g (mài ra cho uống), Thạch xương bồ 12g, Đại thanh diệp 20g,
Huyền sâm 12g, Uất kim 12g, Kim ngân hoa 12g, Nhân trần 12g, Hoàng bá
12g, Hắc sơn chi 12g, Thần Tê Đơn 1 viên (uống với nước thuốc sắc).
Đồng thời phối hợp với truyền dịch, tiêm sinh tố B12. Ngày hôm sau,
bệnh yên tĩnh, về chiều thần trí tỉnh táo. Sang ngày thứ ba tỉnh táo hoàn toàn.
Về sau, vẫn dùng đơn cũ bỏ Thần Tê Đơn, Huyền sâm, Hoàng bá. Tây y
cũng giảm kháng sinh. Điều trị như vậy 1 tuần, Hoàng đản giảm, sau ba tuần
khỏi hẳn, sang tuần thứ tư làm các xét nghiệm đều âm tính, cho ra viện.
Nhận xét: Cấp hoàng còn gọi là ôn hoàng, thuộc ôn bệnh thường gặp
ở bệnh Gan hoại tử cấp tính hoặc bán cấp; Cũng có thể gặp ở viêm Gan
truyền nhiễm cấp tính thời kỳ nghiêm trọng hoặc viêm túi mật nhiễm độc.
Điều trị chia hai giai đoạn, giai đoạn đầu là nhiệt độc ủng thịnh, bệnh ở khí
phần, dùng Hoàng Liên Giải Độc Thang phối hợp với Thần Tê Đơn, Chí
Bảo Đơn để thanh tâm khai khiếu. Bệnh nhân họ Tôn điều trị theo giai đoạn
hai.
Bệnh Án Trị Hoàng Đản Do Tỳ Thận Đều Suy
(Trích trong ‘Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn
Thư’)
Chu X, nam. Do tư lự quá độ, mệt nhọc đến Tỳ ; do phòng lao không
hạn chế, hao tổn đến Thận, Tỳ Thận đều suy, thấp khí của thủy cốc sinh ra
từ bên trong, thấp theo hàn hóa, dương khí không vận hành, Đởm chấp bị
thấp làm ngăn trở, thấm sang Tỳ, lan ra cơ thịt, tràn ra bì phu khiến cho vàng
toàn thân, mặt mắt đen sạm, tiểu tiện vàng nhạt, đại tiện phân đen, kém ăn,
muốn nôn, tinh thần mỏi mệt yếu ớt, rêu lưỡi mỏng nhớt, mạch Trầm Tế.
Dương hư thì âm thịnh; Khí trệ thì huyết ứ, chất ứ trọc dồn xuống Đại

Tửu Thang (Độc vị Ma hoàng 20g. Mùa lạnh sắc với rượu, bình thường sắc
với nước lạnh).
+ Biều hàn lý nhiệt cao: Mạch Phù, Hồng, Khẩn, sốt cao, không mồ
hôi, phiền táo, môi khô, miệng táo hoặc rêu lưỡi trắng khô, khát… dùng Ma
Hoàng Ngũ Vị Thang (Ma hoàng, Cát căn, Thạch cao, Sinh khương, Nhân
trần).
+ Biểu hàn lý nhiệt vừa: sốt, sợ lạnh, không mồ hôi, không khát,nước
tiểu đỏ, tiểu ít, mạch Phù Khẩn. Dùng Ma Hoàng Liên Kiều Xích Tiểu Đậu
Thang (Ma hoàng, Liên kiều, Hạnh nhân, Sinh khương, Chích thảo, Xích
tiểu đậu, Đại táo, Sinh tử bạch bif (hoặc Nhân trần).
+ Sốt, phiền khát, mạch Phù Sác, uóng nước vào lại nôn ra ngay mà
vẫn khát, nước tiểu vàng sậm, tiểu ít, dùng Nhân Trần Ngũ Linh Tán (Bôt
Nhân trần 10 phần, bột Ngũ linh 5 phần, trộn đều. Uống trước bữa ăn, mỗi
lần 8g, ngày 3 lần).
+ Bụng đau mà nôn, dùng Sài Hồ Thang (Nếu có mạch chứng Thiếu
dương thì dùng Tiểu Sài Hồ Thang, nếu có mạch chứng Thiếu dương bệnh
kèm Dương minh dùng Đại Sài Hồ Thang.
+ Nội nhiẹt, bộ xích mạch Sác, cơ thể nóng, nước tiểu nóng đỏ, không
có biểu chứng, không có lý chứng cũng không có chứng bán biểu bán lý và
Tam âm chứng, đó là do Thận bị nhiệt gây ảnh hưởng đến bàng quang. Dùng
Chi Tử Bá Bì Thang.
+ Trường vị có thực nhiệt ủng trệ ảnh hưởng đến bàng quang, bụng
đầy. Dùng Nhân Trần Cao Thang.
Âm Hoàng
+ Đại tiện không thực, nước tiểu vàng, không khát, bụng đầy, thích
xoa bóp, mỏi mệt, kém ăn, mạch Trầm Trì không lực. Dùng Nhân Trần Lý
Trung Thang.
+ Cơ thể lạnh, sợ lạnh, tự ra mồ hôi, tiêu lỏng, tiểu tiện tự thông, mạch
Trầm Vi như sắp đứt, Dùng Nhân Trần Tứ Nghịch Thang.
+ Cơ thể lạnh, sợ lạnh, bụng đau, bụng đầy, trong bụng cảm thấy lạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status