DDOI MOI PHUONG PHAP DAY TLV LOP 5 - Pdf 17

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong suốt thời gian day lớp, một vấn đề có tính nổi cộm đó là việc các em học sinh
từ lớp hai lớp năm thường rất ngán học môn Tập Làm Văn. Tại sao vậy?
Để làm được một bài tập làm Văn học sinh phải huy động vốn kiến thức từ nhiều
mặt như: các hiểu biết về cuộc sống, tri thức về văn học, khoa học, xã hội. Học sinh lại còn
phải biết kết hợp hài hòa nhiều kĩ năng như: dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tạo văn bản, kĩ
năng phân tích đề, tím ý, lập dàn ý. Do đó Tập Làm Văn mang tính tích cực thành toàn
diên, tổng hợp. Ngoài ra Tập Làm Văn mang còn đòi hỏi mang tính sáng tạo của Học sinh.
Nhieu em không biết bắt đầu từ đâu, phải nói và viết những gì, viết như thế nào! Chính vì
vậy mà trong các tiết học phân môn này các em thường rất lúng túng có thì em viết lan
man không đúng trọng tâm đề yêu cầu, em thì ý nghèo nàn bài viết chỉ mang tính liệt kê
khô khan không biết liên kết câu và lồng cảm xúc của người viết vào và khi nhận được
bài trả thì với những con số khô khan 3,4 điểm chẳng nói lên được điều gì, có chăng chỉ là
một vài câu nhận xét quá cụt ngủn: lạc đề, văn nghèo ý, không biết liên hết câu, bài viết lan
man từ phí giáo viên mà thôi. Điều đó đã làm cho các em ngày càng chán nản, lo sợ, mất
tự tin, ngại nói và cuối cùng là học yếu môn này.
Thế thì nguyên nhân do đâu? Làm thế nào để khắc phục tình trạng này, giúp các em
lấy lại tự tin học tốt môn Tập Làm Văn? Đấy chính là lí do khiến tôi trăn trở.
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI TA DẠY TẬP LÀM VĂN:
1. Về phía học sinh:

Học sinh thường lười đọc sách báo hoặc tìm tòi sưu tầm những tài liệu phục vụ cho
kiến thức có liên quan đến môn học dẫn đến tình trạng nghèo vốn từ, nghèo vốn sống để có
thể đưa bài văn vào viết.

Thiếu sự quan tâm, hỗ trợ đông viên của phụ huynh.

Học sinh chỉ quan tâm đến những sở thích không phục vụ cho môn học như : đọc
sách báo, truyện tranh nhảm nhí, chơi điện tử, xem phim ảnh không phù hợp với lứa tuổi


Phải đầu tư thật kĩ bài dạy trước khi lên lớp.

Phải hết sức nhạy bén và ứng xử kịp thời các tình huống phát sinh khi giảng dạy
bằng cách chú ý lắng nghe ý kiến của HS khi biểu đề tim ra ưu khuyết điểm chính của học
sinh để nhận xét tổ chức sửa chữa , góp ý đánh giá.

GV cũng cần rến cho HS kĩ năng nhận xét bài bạn để từ đó nhận biết được những
chỗ hay hoặc chưa hay khi làm bài của mình. Ví dụ chỉ cần rõ bài ban hay là vì ban biết
dùng từ ngữ liên kết câu, ban biết sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa , bạn biết lồng
cảm xúc của mình vào bài viết và điều quan trọng là GV cần phải giúp HS chỉ rõ ra những
từ ngữ, câu hay cho lớp tham khảo. Điều này vừa động viên được những em làm bài hay,
vừa khơi dậy chop HS những ý tưởng, sáng tạo mới, HS cảm thấy có thêm nguồn động
lựcđể thi đua học tập, để bài của mình được cô và các bạn đọc trước lớp như vậy. Bên cạnh
đó những hạn chế trong bài của HS, GV cũng cần tế nhị khi nhận xét. Tuyệt đối không
dùng những câu đại loại; ý nghéo nàn qu1, bài đủ ý, bài yếu hoặc em không có chuẩn bị
bài sao Điều đó sẽ làm cho các em như bị dội gáo nước lạnh vào mặt. Người GV cần thận
trọng, trước tiên cần tìm cho bằng được những ưu điểm trong bài làm của bé dù nó chỉ là
nhỏ nhoi để tuyên dương trước lớp rồi từ từ cho các em chỉnh sửa, bổ sung cho câu văn
hay hơn, hoàn chỉnh hơn.

Người GV cần thay đổi nhiều hình thức học tập để tạo cơ hội cho nhiều HS cùng
được tham gia trình bày ý kiến của mình.
VD: Tổ chức học nhóm 4 để các em được nói cho nhau nghe ý kiến của mình ( vì có
những em rất ngại nói trước lớp và ngại nói cho GV nghe, trái lại khi cùng tham gia vói
các bạn mình thì các em rất tích cực ). Trong lúc này GV cần đến tận nơi, từng bàn để lắng
nghe và gợi ý, định hướng cho các em xây dựng bài Được tham gia phát biểu, dần dần
những em nhút nhát sẽ cảm thấy mạnh dạn và tự tin hơn khi đứng nói trước lớp. Bên cạnh
đó phương tiện trực quan, các hình thức tổ chức trò chơi, thi đua cũng không kém phần
lôi cuốn HS học tập tích cực hơn.

làm cho HS chán nản vì không đáp ứng nhu cầu tò mò của trẻ thậm chí làm cho trẻ hiểu sai
lệch nghĩa của từ và khi vận dụng vào bài viết của mình sẽ không hiệu quả, làm sai lệch ý
muốn diễn đạt.
* GV có thể áp dụng một số phương pháp giải nghĩa của từ sau đây:
-
Giải nghĩa bằng trực quan: đưa ra các vật thật, hình ảnh, sơ đồ
-
Giải nghĩa thông qua ngữ cảnh: GV cần được giải nghĩa vào câu
hoàn chỉnh để làm rõ nghĩa từ đó.
-
Giải nghĩa bằng cách đối chiếu: GV so sánh nghĩa từ cần được
làm rõ nghĩa với từ khác.
VD: giải nghĩa từ “ ao” bằng cách so sánh với từ “hồ” -> ao nhỏ hơn hồ.
-
Giải nghĩa từ bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa:
VD : Gần nghĩa với “lười biếng” là “biếng nhác”
Trái nghĩa với thông minh là “đần độn”
-
Giải nghĩa từ bằng cách phân tích từ thành các từ tố ( tiếng )
VD : giải nghĩa từ “tâm sự” – (tâm:lòng ; sự:nỗi ) -> tâm sự:nỗi lòng của một
người.
-
Giải nghĩa bằng định nghĩa: là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu
nội dung nghĩa, bằng một định nghĩa:
VD : Quê hương là nơi sinh mình ra và lớn lên.
b. Dạy tập làm văn qua giờ tập đọc:
Trong giờ tập đọc, GV phải làm cho HS hiểu nghĩa một số từ cần thiết trong bài.
Hiểu được nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa “văn chương” của từ ngữ, điều này sẽ có ích cho
HS khi vân dụng từ. GV có thể kết hợp với những bài tập điền từ thích hợp.
VD : chọn từ “náo nức” hay từ “rộn ràng” điền vào chỗ trống cho thích hợp:

bằng cách đưa ra một câu trong đó có từ “ sửng sốt”.
- Tôi vô cùng sửng sốt về kết quả học tập của cậu ấy.
Từ VD này, HS sẽ dễ hiểu hơn nghĩa của từ “sửng sốt”: hết sức ngạc nhiên, lấy làm
lạ
e. Vận dụng các phương pháp theo hướng chủ động khi dạy Tập Làm văn:
- Sử dụng mạng ý nghĩa trong viết đoạn: Học sinh sẽ tìm ý dưới dạng sơ đồ hình
tròn. Mạng ý nghĩa thường dùng trong giai đoạn trước khi viết văn. Những từ ngữ học sinh
tìm được thường tập trung ở phần thân bài nên đây là một lợi điểm cho việc phát triển ý từ
thành đoạn văn hoàn chỉnh.
Ví dụ: Lá rập rình lay động
Cao lớn
Từng cánh Thân sần sùi bạc
hoa rực lửa phếch theo tháng năm
- Sử dụng sơ đồ khung trong viết đoạn : Thường được dùng trong miêu tả cây cối (tả
bộphận hay tả từng giai đoạn phát triển). Sơ đồ khung sẽ giúp cho học sinh dễ nhận ra cấu
trúc của mỗi kiểu bài.
- Dùng thẻ từ phối hợp với tranh ảnh : Thường được sử dụng khi học sinh lựa
chọn những chủ đề chưa tận mắt thấy hay chưa từng được quan sát.
- Trong bài “ Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật” thay vì trả lời đơn thuần các câu hỏi:
+ Tìm các phần mở bài, kết bài. Mỗi phần ấy nói điều gì?
+ Phần thân bài tả cái cối theo trình tự nào?
 Giáo viên sẽ dùng những thẻ từ cho HS ghi vào đó những từ chỉ đặc điểm của
từng phần trước khi nêu ý nghĩa của các phần đó.
- Giáo viên có thể kết hợp sơ đồ khung để xác định bài văn miêu tả đồ vật.
Cây
phượng
- Chúng ta thường đặt câu hỏi “Vì sao lại có những bài văn giống nhau?”ở đây
chúng ta không bàn đến vấn đề GV bắt học sinh học thuộc mà chúng ta sẽ phân tích theo
hai sơ đồ dưới đây :
+ GV nêu từ

giúp HS mạnh dạn phát biểu đưa ra ý kiến của mình. Thường thì các em mang nặng tâm lý
đứng lên lỡ nói sai sẽ bị cô mắng hoặc các bạn chê cười. Để giải tỏa gánh nặng tâm lý này,
tôi thường để các em tự do đưa ra ý kiến của mình dù cho ý kiến đó chưa sát với yêu cầu
của câu hỏi đặt ra. Đừng bao giờ phủ nhận sạch trơn những suy nghĩ của các em mà nên
động viên để các em tự tin hơn khi phát biểu.
Việc thực hiện “Sổ tay văn học” hay tạo “Thư viện nhỏ cho lớp” là rất cần và thiết
thực. Nó còn giúp các em hạn chế việc mắc lỗi chính tả khi làm bài. Có nhiều giáo viên đặt
ra câu hỏi tại sao có những em khi viết chính tả không hề mắc lỗi nào nhưng khi viết bài
văn lại sai nhiều lỗi như thế ? Nguyên nhân chính là do khi viết bài văn các em không được
nghe cô giáo phát âm từng tiếng như khi viết chính tả mà bản thân các em phải vận dụng tư
duy để diễn đạt lại thành ý (Đối với lứa tuổi của các em, nhất là HS lớp 2, 3 cùng một lúc
các em khó có thể tập trung làm tốt được nhiều việc), do đó, đa số các em thường viết theo
những ngôn ngữ phát âm giao tiếp hằng ngày, hoặc cũng có khi do viết vội, viết câu dài
gặp những từ khó thì lười đánh vần từ đó viết sai chính tả. Nếu được chuẩn bị bài trước ở
nhà (các em có thời gian kiểm tra chính tả, không bị khống chế thời gian làm bài) HS sẽ tự
tin hơn và đỡ sai chính tả hơn khi làm bài.
* Để hỗ trợ cho HS, chúng ta cũng cần cung cấp thêm cho các em một số từ (theo
dạng chủ đề đang học) để các em tham khảo.
VD1: Đối với dạng văn tả người
- Tả vóc dáng : cao, lùn, gầy, mảnh mai, bụ bẫm, lụ khụ, yểu điệu …
- Tả khuôn mặt, diện mạo : bầu bỉnh, rám nắng, xanh xao, trái xoan, hốc hác, đần
độn, ủ rủ, cau có …
- Tả làn da : nhăn nheo, xanh như tàu lá chuối, trắng trẻo, chai cứng, mốc thếch, da
bánh mật…
- Tả mắt : đen huyền, đen láy, bồ câu, ti hí, mắt ốc bươu…
VD2: Đối với dạng tả cây
- Thân cây: sần sùi, ram ráp, trơn lùi. Đầy gai …
- Lá cây: xanh thẳm, xanh mượt, xanh uá …
* Nói tóm lại, muốn giúp cho học sinh có được vốn từ tích cực, bền vững phải luyện
cho các em vận dụng từ ngữ vào những dạng bài tuân theo nguyên tắc xác định và phải vận

Điểm
Thời gian
Tổng
số HS
Giỏi Khá TB
Dưới TB
Đầu năm 24 0 2 7 15
Giữa HKI 24 1 3 7 13
Cuối HKI 24 2 5 9 8
Giữa KHII 24 3 6 9 6
Như vậy, cho đến thời điểm này các em đã biết cách trình bày bài văn hợp lí về bố
cục, diễn đạt ý trọn vẹn, câu văn giàu hình ảnh. Một số các em yếu cũng đã diễn đạt khá tốt
ý của mình. Tuy còn một số bài viết còn mang tính liệt kê nhưng bước đầu các em đã biết
vận dụng các biện pháp tu từ đã được học để vận dụng vào bài viết của mình làm cho câu
văn trở nên sinh động hơn.
Tôi hy vọng với một chút kinh nghiệm nhỏ bé này sẽ phần nào giúp cho đồng
nghiệp gỡ rối trong công tác giảng dạy của mình (nhất là với phân môn Tập Làm Văn).
Triệu Trạch, ngày 20 tháng 3 năm 2010
Người viết Phạm Thị Hương Lan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status