BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THPT – VIỆN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐHSPHN
TÀI LIỆU
TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CHO GIÁO VIÊN
CỦA CÁC TỈNH THAM GIA DỰ ÁN
(MÔN LỊCH SỬ LỚP 11)
PGS. TS Trịnh Đình Tùng (Chủ biên)
ThS. Nguyễn Thị Thế Bình
ThS. Nguyễn Mạnh Hưởng
HÀ NỘI, 2007
MỤC LỤC
CHUYÊN ĐỀ 1 – ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN LỊCH SỬ LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. Mục tiêu
1. Về kiến thức
2. Về kĩ năng
3. Về thái độ
II. Về những điểm mới và khó của chương trình, sách giáo khoa lịch sử 11 (cơ bản và
nâng cao).
1. Phần lịch sử thế giới cận đại
2. Phần lịch sử thế giới hiện đại (1917 – 1945)
3. Phần lịch sử Việt Nam lớp 11 (từ năm 1858 đến 1918)
III. Những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
1. Phát huy tích cực học tập của học sinh theo hướng đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay
2. Quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông và bản chất của nó
3. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy và học môn lịch sử lớp 11
4. Thực tế việc sử dụng phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
IV. Một số phương pháp tích cực cần được vận dụng trong dạy học lịch sử lớp 11 trung
học phổ thông
IV Một số hình thức, phương pháp sử dụng phần mềm PowerPoint nhằm phát huy tính
tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1. Sử dụng Power Point hỗ trợ thiết kế và trình chiếu các kênh hình, tư liệu và sự
kiện lịch sử
2. Sử dụng Power Point hỗ trợ trình chiếu băng hình, các trích đoạn phim tư liệu
trong dạy học lịch sử
3. Sử dụng Power Point hỗ trợ xây dựng và trình chiếu các niên biểu, sơ đồ, đồ thị,
biểu đồ trong dạy học lịch sử
4. Sử dụng Power Point hỗ trợ xây dựng bài tập, bài kiểm tra, đố vui lịch sử, thực
hiện các hoạt động ngoại khóa
V. Giới thiệu một số phần mềm tiện ích khi ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1. Sử dụng phần mềm Violet trong dạy học lịch sử
2. Sử dụng phần mềm HTVideo để xử lí và biên tập các đoạn phim tư liệu trong
dạy học lịch sử
VI. Khai thác và sử dụng thông tin trên mạng Internet trong dạy học lịch sử ở trường
phổ thông
1. Tìm kiếm thông tin trên mạng
2. Lưu thông tin, hình ảnh, các đoạn phim tư liệu từ trong Web
CHUYÊN ĐỀ 3 – ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
I. Mục tiêu
1. Về kiến thức
2. Về kĩ năng
3. Về thái độ
II. Phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học lịch sử lớp 11
3
CHUYÊN ĐỀ 1 - ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN LỊCH SỬ LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. Mục tiêu
Cụ thể, Lịch sử thế giới cận đại (nâng cao) bao gồm:
4
Chương I. Các cuộc cách mạng tư sản (giữa thế kỷ XVI - cuối thế kỷ
XVIII)
Chương II. Các nước Âu - Mĩ thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Chương III. Phong trào công nhân thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Chương IV. Các nước châu Á từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Chương V. Các nước châu Phi, Mĩ latinh thời cận đại
Chương VI. Chiến tranh thế giới thứ nhất
Ôn tập Lịch sử thế giới cận đại
Lịch sử thế giới cận đại lớp 11 chương trình cơ bản chỉ có 3 chương.
Chương I. Các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ latinh từ đầu thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX
Chương II. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918)
Chương III. Những thành tựu văn hoá thời cận đại.
Ôn tập Lịch sử thế giới cận đại
Như vậy, so với chương trình lớp 11 trước đây, chương trình Lịch sử thế
giới cận đại lớp 11 Ban nâng cao có nặng hơn. Nó không chỉ bao gồm cả Lịch sử
thế giới cận đại ở lớp 10 và lớp 11 mà còn thêm nhiều nội dung mới, ví dụ cũng
bài Cách mạng tư sản Pháp, hiện nay chỉ được học 2 tiết, còn ở Ban nâng cao lớp
11 là 3 tiết; Thêm nội dung mới như: Châu Âu từ chiến tranh Napônêông đến Hội
nghị Viên, hay các nước châu Phi, Mĩ latinh thời cận đại được học trong 2 tiết
Tuy vậy, cấu tạo của các chương, bài trong sách thì có gọn hơn, hợp logic
lịch sử hơn.
Lịch sử thế giới cận đại lớp 11 Ban nâng cao được chia làm 6 chương
tương ứng với các thời kỳ và nội dung cơ bản của Lịch sử thế giới cận đại như
các cuộc cách mạng tư sản, các nước đế quốc Âu Mĩ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX; Các nước châu Á, châu Phi, Mĩ latinh thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Như vậy, 3 chương đầu với học sinh lớp 11 Ban nâng cao được học toàn bộ
châu Âu và Bắc Mĩ thời cận đại với 3 nội dung lớn tương ứng với 3 chương là các
nghiệp mà chủ nghĩa tư bản tiến hành không chỉ đảm bảo sự thắng thế của giai cấp
tư sản đối với chế độ phong kiến mà còn đưa xã hội loài người lên một giai đoạn
phát triển cao hơn - thời đại văn minh công nghiệp. Nội dung lịch sử này trước kia
có được đề cập đến xong vẫn bị xem nhẹ. Trong sách giáo khoa lớp 11 nâng cao
lần này, cuộc cách mạng công nghiệp, sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, văn học
nghệ thuật được chú trọng hơn.
Thứ ba: Chủ nghĩa tư bản được thiết lập ở hầu hết các nước châu Âu và Bắc
Mĩ, giai cấp tư sản thay thế giai cấp phong kiến thống trị xã hội. Sau các cuộc cách
mạng công nghiệp, chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng, đưa chủ nghĩa tư bản
trở thành hệ thống thế giới, chuyển dần từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc
quyền - chủ nghĩa đế quốc - gắn liền với quá trình đó là quá trình xâm lược, bành
trướng thuộc địa của các nước tư bản Âu Mĩ, biến hầu hết các nước Á - Phi, Mĩ
latinh thành thuộc địa, thị trường của chủ nghĩa đế quốc.
Thứ tư: Cùng với sự ra đời của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản cũng xuất
hiện. Sự bóc lột nặng nề của giai cấp tư sản đã dẫn tới cuộc đấu tranh của giai cấp
6
công nhân chống giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh này phát triển từ thấp đến cao,
từ tự phát đến tự giác, từ không có tổ chức đến tổ chức Sự ra đời của chủ nghĩa
Mác đánh dấu bằng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản tháng 2 - 1848, đưa phong
trào công nhân thành phong trào cộng sản quốc tế.
Thứ năm: Sự xâm lược, thống trị của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc
địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mĩ latinh dẫn tới bùng nổ phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc. Lúc đầu, vì thiếu đường lối cách mạng đúng đắn nên phong trào lần lượt
thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân thế giới nói chung, cuộc cách mạng dân chủ Nga 1905 - 1907 nói riêng, đặc
biệt sự thức tỉnh ý thức dân tộc của giai cấp tư sản ở các nước thuộc địa, phong trào
giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mĩ latinh có những bước tiến bộ nhanh
chóng. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới và nhân dân các nước thuộc
địa, phụ thuộc chống chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa là nội dung quan trọng
của Lịch sử thế giới cận đại. Cuộc đấu tranh cũng trải qua nhiều thất bại, tổn thất
Nhìn chung Lịch sử thế giới cận đại dưới con mắt của các nhà sử học
mácxít được phản ánh trong sách giáo khoa lịch sử lớp 11 tương đối ổn định,
không có những xáo trộn, thay đổi cả sự kiện, hiện tượng, tư liệu cũng như quan
điểm nghiên cứu. Tuy nhiên chúng ta cũng lưu ý một số điểm sau:
Thứ nhất: Về vấn đề phân kỳ lịch sử thế giới cận đại, mốc mở đầu, kết thúc
cũng như phân chia các thời kỳ, giai đoạn của thời đại này, có nhiều ý kiến khác
nhau.
Chúng ta biết rằng lịch sử phát triển liên tục, là một hệ thống hoàn chỉnh
không thể chia cắt. Sự phân kỳ cũng chỉ có ý nghĩa tương đối mang tính chất quy
ước, song lại rất cần thiết trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử. Mỗi người có
một quan điểm khác nhau trong việc lựa chọn tiêu chí phân kỳ. Hơn thế nữa, sự
vận động lịch sử không diễn ra đồng đều với nơi này lại không phù hợp với nơi
khác và quan điểm khác nhau. Sử học của chúng ta là nền sử học mácxít, lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho nghiên cứu, giảng dạy lịch sử. Vì vậy chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết về hình thái kinh tế xã hội vẫn là tiêu chí căn
bản cho việc phân kỳ các thời đại. Cách mạng Hà Lan bùng nổ năm 1566, dẫu
diễn ra dưới hình thức một cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, không có ảnh
hưởng sâu rộng như các cuộc cách mạng Anh, Mĩ, Pháp, nhưng lại là cuộc cách
mạng tư sản đầu tiên, xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Cách
mạng tháng Mười Nga năm 1917 kết thúc thời cận đại mở đầu thời hiện đại cũng
theo tiêu chí ý nghĩa như vậy.
Thứ hai: Các cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật thời cận đại cần được chú trọng, nhấn mạnh hơn trong giảng dạy. Nếu trước
kia chỉ đề cập đến cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh thì nay cần mở rộng hơn ở
Pháp, Đức, Mĩ Cần cho học sinh thấy rằng "xét cho cùng năng suất lao động là
cái đảm bảo cho thắng lợi của trật tự xã hội này đối với xã hội khác" (Lênin). Chủ
nghĩa tư bản chỉ có thể thắng được chế độ phong kiến khi nó tiến hành cách mạng
8
công nghiệp. Cũng cần thấy rằng mỗi nước có con đường tiến hành cách mạng
dạy 4 cuộc cách mạng này, ngoài việc cung cấp cho các em thấy được cái chung
và giải thích vì sao như vậy (đối với học sinh giỏi).
Chương II - Các nước Âu Mĩ thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được học trong 7
tiết với 4 nội dung cơ bản: Châu Âu từ chiến tranh Napônêông đến Hội nghị
Viên; Cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, các cuộc
9
cách mạng tư sản ở châu Âu và Bắc Mĩ giữa thế kỷ XIX và các nước đế quốc
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sau thắng lợi của cách mạng Pháp 1789, với sự
ảnh hưởng của nó, chủ nghĩa tư bản đã được xác lập ở nhiều nơi trên thế giới. Ở
những nước tiên tiến, cách mạng công nghiệp đã diễn ra, tạo điều kiện củng cố
thành quả của cách mạng tư sản.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dẫn đến yêu
cầu ngày càng cao về thị trường, nguyên liệu đối với các nước tư bản. Vì vậy cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cùng với sự chuyển biến của CNTB từ tự do cạnh
tranh sang độc quyền đó là sự tăng cường xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thì
trường và bóc lột nhân dân thuộc địa.
Chương III - Phong trào công nhân giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Chương này có 5 tiết, trình bày các vấn đề cơ bản sau:
- Phong trào công nhân được bắt đầu cùng với sự ra đời của giai cấp vô sản
công nghiệp, chống lại sự bóc lột của giai cấp tư sản bằng nhiều hình thức đấu
tranh phong phú.
- Vai trò của C. Mác và Ăngghen trong việc sáng lập ra chủ nghĩa xã hội
khoa học, đưa phong trào công nhân phát triển lên một bước mới. Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản; Quốc tế thứ nhất.
- Cuộc khởi nghĩa ngày 18 - 3- 1871 và sự thành lập Công xã Pari.
- Phong trào công nhân cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Quốc tế thứ hai.
- V.I. Lênin và phong trào công nhân Nga. Cách mạng 1905 - 1907.
Chương IV - Các nước châu Á từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX được
học trong 7 tiết. Nhật Bản, Ấn Độ mỗi nước 1 tiết; Trung Quốc: 2 tiết, Đông Nam
Á: 3 tiết. Chương này giới thiệu cho học sinh tình hình các nước châu Á cuối thế
một cách hoàn chỉnh, đáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước hiện nay.
b) Nội dung và quá trình phát triển của Lịch sử thế giới (1917 - 1945) được
cấu tạo theo khu vực địa lý lịch sử chứ không theo hình thái kinh tế - xã hội như
trước kia (hệ thống xã hội chủ nghĩa, hệ thống tư bản chủ nghĩa, phong trào công
nhân, phong trào giải phóng dân tộc ). Với cách cấu tạo theo khu vực địa lý -
lịch sử, học sinh sẽ nhận thức được mối quan hệ gắn bó giữa các quốc gia trong
khu vực trong quá trình phát triển của lịch sử. Từ đó, học sinh sẽ có được những
nhận thức bước đầu về tính khu vực, mối quan hệ khu vực, sự cần thiết phải hội
nhập khu vực và làm thế nào để hội nhập với khu vực và thế giới một cách hiệu
quả nhất.
c) Chương trình và sách giáo khoa mới rất chú trọng đến lịch sử phát triển
kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật Những nội dung này được thể hiện
trong từng chương, từng bài, từng tiết học để học sinh nắm được sự tiến hoá của
Lịch sử thế giới hiện đại lớp 11 trên các bình diện khác nhau. Chính sự phát triển
của văn hoá, khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi bộ mặt thế giới và tác động mạnh
mẽ đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại.
d) Chương trình và sách giáo khoa mới thể hiện tính cập nhật về nội dung
khoa học và về quan điểm đối với các sự kiện của lịch sử thế giới hiện đại. Khác
11
với các phần về lịch sử cổ trung đại, và cận đại, lịch sử thế giới hiện đại diễn biến
hết sức phức tạp, các sự kiện chằng chéo, đan xen lẫn nhau. Nhiều sự kiện, biến
cố lịch sử cho đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau, thậm chí
trái ngược nhau. Chương trình và sách giáo khoa mới đã cố gắng thể hiện tính cập
nhật về nội dung, tuy vậy vẫn phải đảm bảo tính ổn định của vấn đề và xem xét
các sự kiện theo đúng đường lối, quan điểm đổi mới của Đảng ta. Chẳng hạn như
cách nhìn nhận, đánh giá về Chính sách kinh tế mới của nước Nga Xô viết (Bài:
Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội 1921 - 1942) cũng cần thực sự khách quan,
khoa học. Về tập thể hoá nông nghiệp, cũng cần có cách nhìn mới về vấn đề này.
Trước đây, chúng ta thường coi đây là một chính sách mang ý nghĩa quy luật phổ
cảnh hiện nay, sau khi CNXH đã đổ bể ở Liên Xô và các nước Đông Âu nhưng
cần khẳng định rằng lịch sử thế giới vẫn nằm trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa
tư bản (CNTB) lên CNXH bắt đầu từ cách mạng XHCN tháng Mười Nga năm
1917. Có điều, thực tế lịch sử cho thấy, đúng như V.I. Lênin đã từng cảnh báo,
nếu hình dung lịch sử như một con đường thẳng tắp, trơn tru, không có những
bước gập ghềnh, khúc khuỷu, không có những thất bại tạm thời, cả những bước
lùi đối khi rất lớn, thì đó là một cách nhận thức không biện chứng, không khoa
học và không đúng về mặt lý luận. Luận chứng của chủ nghĩa Mác về tính tất yếu
của sự thay đổi CNTB bằng chủ nghĩa cộng sản là cơ sở phương pháp luận cho
việc xem xét tương lai của CNXH. CNXH có quá trình hình thành và phát triển
không ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử. Thắng lợi của cách mạng XHCN
tháng Mười Nga đã làm cho CNXH từ lý tưởng trở thành hiện thực. Những non
yếu, sai lầm, thiếu sót của một chế độ xã hội trong quá trình hình thành là một tất
yếu của quy luật lịch sử. Nếu nhìn lại lịch sử phát triển của CNTB chúng ta sẽ
thấy, nền Cộng hoà tư sản Pháp được sinh ta từ cách mạng Pháp 1789, phải mất
82 năm mới được khôi phục. Ở Mĩ, chế độ nô lệ bị thủ tiêu vào giữa thế kỷ XIX;
phụ nữ Mĩ chỉ được quyền bầu cử vào năm 1920. Chủ nghĩa xã hội được xây
dựng với mô hình Xô Viết, còn có không ít khuyết tật do sai lầm chủ quan, nhưng
đã thể hiện được tính ưu việt của mình.
Về cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga, nếu như trước đây chúng ta
thường tập trung vào cách mạng tháng Mười thì nay cần lưu ý đến cách mạng
tháng Hai 1917, kết quả của nó và sự chuyển tiếp từ cách mạng tháng Hai sang
cách mạng tháng Mười. Từ đó, học sinh sẽ nhận thức và lý giải được vì sao năm
1917 ở nước Nga lại có hai cuộc cách mạng. Về ý nghĩa của cách mạng tháng
Mười Nga, cần làm rõ ý nghĩa mở đầu và mở đường của cách mạng Nga đối với
phong trào cách mạng thế giới. Mặc dù ngày nay chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở Liên
Xô nhưng ý nghĩa mở đầu và mở đường của cách mạng Nga vẫn tiếp tục được
khẳng định. Sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội ở các nước Trung Quốc,
Việt Nam, Lào, Cuba, CHDCND Triều Tiên là một thực tế lịch sử không thể phủ
nhận. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, các nước Đông Âu chỉ là thất bại
b) Về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chúng ta đều biết rằng CNTB đã
có lịch sử phát triển trên 400 năm. CNTB đã tạo ra những lực lượng sản xuất đồ
sộ, những máy móc tinh vi với những nguồn vật liệu và năng lượng mới Với nền
sản xuất đại công nghiệp, CNTB đã tạo ra thị trường thế giới, thay cho tình trạng
biệt lập trước đó của các khu vực, các dân tộc, quốc gia theo kiểu tự cung, tự cấp.
Do xâm chiếm, bóc lột thuộc địa, bóp nặn thị trường thế giới, chủ nghĩa tư bản đã
làm cho nền sản xuất và tiêu dùng của tất cả các quốc gia mang tính chất thế giới.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ 1918 - 1945,
chủ nghĩa tư bản đã trải qua những bước phát triển thăng trầm, đầy kịch tính. Yêu
cầu đặt ra trong khi giảng dạy về CNTB thời kỳ này là chúng ta cần dẫn dắt học
14
sinh để các em tiếp cận được những nội dung cơ bản nhất trong sự phát triển của
CNTB trải qua 3 giai đoạn phát triển chính sau đây:
- 5 năm đầu sau chiến tranh (1918 - 1923): khủng hoảng kinh tế, chính trị
sau chiến tranh, cao trào cách mạng bùng nổ ở châu Âu.
- 5 năm tiếp theo (1924 - 1929): phục hồi và phát triển nhanh chóng về
kinh tế, ổn định về chính trị.
- 10 năm cuối (1929 - 1939): đại khủng hoảng kinh tế dẫn tới sự xuất hiện
của chủ nghĩa phát xít và sự bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai.
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 bùng nổ đã chấm dứt thời kỳ ổn
định ngắn ngủi, đe doạ sự tồn tại và tác động mạnh mẽ đến xu hướng phát triển
của CNTB. Để cứu vãn tình thế, các nước tư bản chủ nghĩa phải xem xét lại con
đường phát triển của mình. Nếu như các nước Anh, Pháp và điển hình là Mĩ đã
tiến hành những cải cách kinh tế - xã hội để thích nghi với tình hình mới, tạo điều
kiện cho sự phát triển lâu dài của chủ nghĩa tư bản thì các nước Đức, Italia và
Nhật Bản lại đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị để đàn áp phong trào
cách mạng trong nước và gây chiến tranh xâm lược thuộc địa. Để làm rõ những
nội dung cơ bản đó, sau khi học khái quát về châu Âu, học sinh sẽ đi vào tìm hiểu
về Mĩ và Nhật, với tư cách là hai nước tư bản chủ nghĩa điển hình hai xu hướng
phát triển của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ này.
lịch sử Đông Nam Á, chúng ta cần lưu ý đến tính khu vực của Đông Nam Á và
nhìn nhận các nước trong một tổng thể để thấy được những nét chung, thấy được
sự thống nhất trong đa dạng của Đông Nam Á. Trên cơ sở những điểm chung,
chúng ta sẽ đi vào một số nước điển hình như: các nước Đông Dương trong cuộc
đấu tranh chống Pháp (trường hợp điển hình cho khu vực Đông Nam Á lục địa)
và Inđônêxia chống thực dân Hà Lan (điển hình cho khu vực Đông Nam Á hải
đảo). Đây là thời kỳ mà phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á diễn ra
những chuyển biến quan trọng, đặc biệt là sự xuất hiện xu hướng vô sản trong
phong trào giải phóng dân tộc. Như vậy phong trào giải phóng dân tộc ở Đông
Nam Á đã xuất hiện và phát triển song song hai xu hướng: tư sản và vô sản. Sự
lựa chọn xu hướng nào là phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử cụ thể và so sánh lực
lượng giai cấp xã hội ở mỗi nước. Cho đến khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng
nổ, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á chĩa mũi nhọn vào
chủ nghĩa phát xít nhật.
d) Về chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945)
Cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại. Đây
không phải là vấn đề mới, nhưng vấn đề đặt ra ở đây là cần đổi mới cách tiếp cận
vấn đề về chiến tranh. Nếu như trước đây chúng ta thường tập trung nhiều vào
diễn biến chiến tranh, tường thuật các trận đánh, số người tham chiến, số thương
vong thì nay cần có cách nhìn khác. Chiến tranh và hoà bình ngày nay đã trở
thành một trong những vấn đề chính trị quan trọng nhất của thời đại, do vậy
chúng ta cần giúp học sinh nhận thức được vì sao chiến tranh bùng nổ (nói cách
khác là con đường dẫn đến chiến tranh), chiến tranh diễn ra như thế nào (phác hoạ
16
toàn cảnh những nội dung chính) và chiến tranh đã tác động đến tình hình thế giới
như thế nào. Từ đó, học sinh sẽ có nhận thức đúng đắn về chiến tranh, hậu quả
của nó đối với lịch sử nhân loại và tự giác suy nghĩ, hành động để góp phần ngăn
chặn chiến tranh, bảo vệ hoà bình. Giảng dạy về chiến tranh thế giới thứ hai trong
bối cảnh 60 năm đã trôi qua, chúng ta cần dẫn dắt học sinh nhận thức rõ vai trò
của những lực lượng tham gia vào cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít: vai
Với tinh thần đó, sách giáo khoa được viết ra trên cơ sở lựa chọn những tri
thức phù hợp về mặt khoa học và giáo dục, phục vụ tốt các mục tiêu chính trị,
kinh tế - xã hội cũng như những yêu cầu đổi mới của đất nước trong giai đoạn
này.
3.2. Đặc điểm chương trình
Khoá trình Lịch sử Việt Nam lớp 11 được phân thành 2 chương (chương 1
và chương 2) gồm 7 bài, 16 tiết - đối với Ban nâng cao; và 3 chương 6 bài, 10 tiết
- đối với Ban cơ bản. Trong sách giáo khoa Ban nâng cao các chương này nằm ở
phần C, còn Ban cơ bản nằm trong phần ba.
Nội dung cơ bản cần đạt được của chương trình là cung cấp những kiến
thức có liên quan đến tiến trình lịch sử dân tộc trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ
XIX và 2 thập niên đầu thế kỷ XX, lý giải một số sự kiện, hiện tượng Lịch sử
Việt Nam, đặt trong bối cảnh khu vực và quốc tế.
Chương 1 phân thành 3 bài phản ánh nội dung cơ bản về cuộc kháng chiến
chống xâm lược của nhân dân ta ở thế kỷ XIX. Chương 2 trình bày về những biến
đổi trong đời sống kinh tế xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX và những nét mới của
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta từ đầu thế kỷ XX đến hết Chiến tranh
thế giới thứ nhất (1914 - 1918).
Việc phân bổ chương trình theo 2 ban và cách viết tập trung vào các nội
dung cốt lõi, then chốt, có ý nghĩa nhất đối với môn học, lược bớt phần chữ, tăng
thêm kênh hình, cải tiến cách viết, cách đặt vấn đề, cách đặt câu hỏi và ra bài tập -
đó cũng chính là những điểm mới của SGK lịch sử 11 nói chung và phần viết về
Lịch sử Việt Nam nói riêng.
3.3 Những nội dung mới và khó của phần Lịch sử Việt Nam trong sách
giáo khoa Lịch sử 11
Chương 1 của sách giáo khoa giới thiệu hai mảng vấn đề chính đó là cuộc
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và cuộc đấu tranh chống xâm lược của
nhân dân Việt Nam (trong sách dành cho Ban cơ bản hai mảng vấn đề này được
trình bày trong hai bài khác nhau). Trong đó, cuộc xâm lược của tư bản phương
Tây được hiểu như một hiện tượng chung trong thế kỷ XIX, xuất phát từ bản chất
kháng chiến chống xâm lược.
Ngoài việc đưa ra những chứng cớ của sự khủng hoảng suy yếu, bài học
cũng trình bày ở mục 2: Tình thế Việt Nam trong bối cảnh các nước xung quanh
bị thôn tính.
- Câu hỏi đặt ra là: Phải làm thế nào để tránh được hoạ mất nước.
+ Trong khi suy nghĩ để trả lời câu hỏi Làm thế nào để giữ nước thì mục 3
tiết học đưa ngay ra những tình huống mà Nhà nước phong kiến và nhân dân ta
phải lựa chọn: Đối phó với cuộc xâm lược vũ trang của Pháp.
Mục này giáo viên cần chú ý lý giải những nguyên nhân khiến thực dân
Pháp nổ súng đánh chiếm Việt Nam năm 1858.
Trong khi dạy, cần giải thích các khái niệm như:
- Nguyên nhân sâu xa.
- Nguyên nhân trực tiếp.
19
- Nguyên nhân bên trong, bên ngoài.
- Nguyên nhân, nguyên cớ
+ Trong các bài từ bài 34 trở đi, có nhiều chi tiết cụ thể viết về cuộc kháng
chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam. Song cần đi đến những khái quát
về 2 nội dung:
* Triều đình Nguyễn với cuộc kháng chiến chống xâm lược thế kỷ XIX.
* Trận tuyến nhân dân và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1858 -
cuối thế kỷ XIX.
Đây là những vấn đề tương đối khó, giáo viên cần tìm hiểu, đọc thêm tài
liệu tham khảo để nắm vững.
Xin nêu khái quát một số điểm:
Thứ nhất: Trước cuộc xâm lược Pháp, triều đình Huế đã có những chủ
trương gì để đối phó với chúng (quân sự, kinh tế, ngoại giao?)
- Có những liên hệ với lực lượng kháng chiến của nhân dân không?
- Có tìm kiếm bạn đồng minh bên ngoài không? ai? như thế nào?
- Thực lực kinh tế, quân sự (hệ quả của chế độ và các chính sách).
Ở chương trình Lịch sử THPT, phần này được viết sâu hơn, chi tiết hơn,
phản ánh những nội dung phức tạp của trận tuyến chống xâm lược trong giai đoạn
này, nhất là về các mối quan hệ dân tộc và giai cấp.
Phần giới thiệu về tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1802 - 1858)
chỉ nhắc qua với vai trò tiếp nối các tri thức của lớp 10, nhưng rất cần thiết giúp
học sinh hiểu được tính liên tục và lôgic lịch sử. Kiến thức cần nắm ở đây là Thực
trạng kinh tế, xã hội, khả năng quốc phòng của nước Việt Nam phong kiến giữa
thế kỷ XIX trước cuộc xâm lược của Pháp. Trong bối cảnh đó, nhân dân ta bước
vào cuộc kháng chiến trong một trạng thái không cân sức, phải chống lại một kẻ
thù có trình độ khoa học tiên tiến hơn.
+ Để chiến thắng giặc ngoại xâm, hoá giải được những âm mưu và thủ
đoạn của thực dân Pháp cần phải có quyết tâm và những điều kiện vật chất đảm
bảo, nhất là phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn.
Vấn đề này sách giáo khoa không trình bày một cách cụ thể, chỉ cung cấp dữ
kiện, phải thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý của thầy để học sinh hiểu bài.
+ Để thấy rõ vấn đề, giáo viên có thể cho học sinh tham khảo phần Lịch sử
thế giới, các mục nói về đối sách của các quốc gia trước nạn xâm lăng của tư bản
phương Tây.
Đặt vấn đề với trường hợp Việt Nam.
(Các giải pháp đó có thể là:
- Không kháng cự, chấp nhận sự bảo hộ ngay từ đầu.
- Áp dụng cách thức của người Nhật, người Xiêm.
- Kháng chiến bằng quân sự.
- Kết hợp kháng chiến với kiến quốc? vừa đánh, vừa đàm, chống giặc trên
nhiều mặt trận )
Người dạy cần suy nghĩ, hướng dẫn để học sinh đưa ra đáp án phù hợp.
21
Về kết quả cuộc kháng chiến: Cần lưu ý rằng, do có nhiều lý do chi phối,
nên cuộc kháng chiến của nhân dân ta cuối cùng đã thất bạị. Thực dân Pháp đã áp
đặt được nền thống trị của chúng lên đất nước ta từ 1884.
lực của giai cấp phong kiến, nhưng đồng thời cũng phản ánh sự khủng hoảng sâu
sắc về lãnh đạo, về đường lối trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam
giai đoạn này.
22
Từ việc phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan, trực tiếp, gián tiếp
đưa đến sự thât bại của phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ
XIX, dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh sẽ rút ra những kết luận cần thiết.
Kết thúc chương 1, cần nhắc lại một số sự kiện tiêu biểu trong tiến trình
lịch sử nước ta từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX, nhấn mạnh hậu quả cuộc chiến tranh
xâm lược của thực dân Pháp và trạng thái chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam cuối
thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trước khi chuyển sang giai đoạn mới.
3.3.3. Về phần Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến hết Chiến tranh
thế giới thứ nhất, được trình bày trong chương 2 (bài 36, 37, 38) còn trong SGK
Ban cơ bản được phân thành 2 chương 2 và 3 (các bài 20, 21, 22).
Phần kiến thức chủ yếu của giai đoạn lịch sử này đề cập đến sự chuyển biến
của xã hội Việt Nam dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, sự
ra đời và phát triển của trào lưu giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư
sản (cả nước và trong Chiến tranh thế giới thứ nhất); sự khởi đầu của một khuynh
hướng cứu nước mới gắn liền với các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1911
đến 1918 (ban KHXH - NV).
Trong sách giáo khoa hiện hành, phần này được viết khá dài trong 3
chương: III, IV và V, trong đó chương III nói về xã hội Việt Nam trong cuộc
KTTĐ lần thứ nhất của thực dân Pháp; hai khuynh hướng: Bạo động và cải cách
trong phong trào yêu nước trong chiến tranh (chương V). Như vậy các nội dung
lịch sử của sách giáo khoa Ban cơ bản tương đương như sách giáo khoa cũ nhưng
được viết cô đọng, giảm tải, tập trung vào 2 vấn đề chính: Nét mới trong kinh tế
xã hội Việt Nam và những biến chuyển mới trong phong trào giải phóng dân tộc
Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những kiến thức
khác có thể được đề cập nhưng phải phục vụ tốt cho các nội dung cơ bản này.
Riêng đối với Ban nâng cao, bài 36 đề cập đến những hoạt động bước đầu của
giác học tập cũng là một phương pháp có hiệu lực để chống lối học vẹt, vì vậy
Bác Hồ đã nói" phải nêu cao phong cách độc lập suy nghĩ và tụ do tư tưởng. Đọc
tài liệu thì phải đào sâu, hiểu kỹ từng câu, từng chữ trong sách, có vấn đề nào
chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với vấn đề gì đều
phải đặt câu hỏi," vì sao" đều phải suy nghĩ kỹ xem có phù hợp với thực tế không,
có đúng lý không. Tuyết đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách
xuôi chiều, phải suy nghĩ chín chắn”. Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cũng khẳng
định:" Phương pháp dạy học mà các đồng chí nêu ra, nói gọn là lấy người học
làm trung tâm , nói cho cùng, phương pháp dạy học này tích cực, sự tích cực
này là biểu hiện chiều sâu. Nó tạo ra cho người học, tức là trung tâm phát huy
được trí tuệ, tư duy, óc thông minh của mình Điều thứ hai của phương pháp
này là giáo dục người ta phương pháp tự học, lòng ham học đó là đáng quý nhất.
Ở trường học, bất kỳ là trường gì, cũng chỉ cung cấp cho con người khối lượng tri
thức giới hạn. Trong khi đó, khả năng hiểu biết, sự mong muốn của con người
24
trong cả cuộc đời là vô cùng, cần đào tạo con người mới vươn lên mãi mãi trong
quá trình cuộc sống”.
Nghị quyết trung ương II, khoá VIII đã khẳng định, " phải đổi mới phương
pháp giáo dục - và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành
nếp tư duy sáng tạo của người đọc. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự
học, tự đào tạo, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học phát triển
mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên, và rộng trong khắp toàn dân,
nhất là thanh niên”.
Định hướng trên đã được pháp chế hoá trong “Luật giáo dục" “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Vậy tính tích cực của học sinh trong học tập là gì? nó được biểu hiện như