tài liệu bồi dưỡng giáo viên sinh học 2 - Pdf 40

Chuyên đề 2
Tế bào học (20 tiết)
Tác giả biên soạn:
PGS.TS. Nguyễn Xuân Viết
Khoa Sinh – Kĩ thuật nông nghiệp, Trường ĐHSP Hà Nội
1. Mục tiêu
Chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT giảng dạy Sinh học 10, phần
Tế bào học, nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản có nâng cao một
cách có hệ thống về cấu trúc, chức năng các cấu thành tế bào Eucaryota và Procaryota,
chuyển hoá vật chất và năng lượng cũng như sinh sản của tế bào. Đồng thời bồi dưỡng
thêm kĩ năng và phương pháp tiến hành thí nghiệm thông qua một số bài thực hành có
liên quan trực tiếp đến chương trình Sinh học 10 THPT.
2. Nội dung
Chuyên đề được biên soạn thành 6 chương, từ khái quát về hình thái đại cương tế bào
đến cấu trúc chi tiết và các quá trình trao đổi chất và năng lượng, sinh sản của tế bào.
Trong mỗi chương, kiến thức được trình bày ngắn gọn nhưng cơ bản, đặc biệt chú
trọng kiến thức nâng cao ở mức sinh học phân tử tế bào để người học có thể tiếp cận
bản chất và tính thống nhất trong cấu trúc và chức năng tế bào. Cuối mỗi chương có
thêm một số câu hỏi gợi ý để tự luận. Phần thực hành gồm năm bài bao phủ toàn bộ
nội dung các bài thực hành trong chương trình Sinh học 10 THPT nhưng số lượng thí
nghiệm nhiều hơn và các đối tượng cũng khác nhau, nhằm giúp giáo viên sau này có
thể dễ dàng chọn đối tượng thí nghiệm cho phù hợp với điều kiện địa phương mình.
3. Phương pháp giảng dạy
Tế bào học cung cấp những kiến thức cơ sở để người học qua đó có thể tiếp thu được
các kiến thức cơ bản về Sinh học và Công nghệ sinh học.
Tế bào là đơn vị cấu trúc cơ bản và là đơn vị chức năng, do đó việc giảng dạy cần sử
dụng hệ thống kênh hình như tranh ảnh, băng đĩa,… kết hợp xây dựng các sơ đồ tổng
quát, bảng so sánh, hệ thống câu hỏi tự luận, trắc nghiệm… Đồng thời sử dụng kiến
thức đ• được nâng cao trong các giáo trình khác để giải thích các quá trình sinh học
xảy ra trong tế bào, tính hợp lí trong cấu trúc và chức năng của tế bào.
4. Kiểm tra, đánh giá

Bảng 1.1. Tỉ lệ phần trăm của các thành phần hoá học trong
tế bào vi khuẩn (Procaryote) và tế bào động vật có vú
(Eucaryote)
Thành phần hoá học % so với trọng lượng
toàn bộ tế bào
Vi khuẩn (E. coli) Tế bào
động vật có vú
H2O
Các ion vô cơ (Na+, K+, Mg+, Na+, Cl–, …)
Prôtêin
ARN
ADN
Photpholipit
Các lipit khác
Các polisaccarit 70
1
15
6
1
2

2 70
1
18
1,1
0,25
3
2
2
2.1.2. Nước và vai trò của nước trong việc duy trì và phát

tin di truyền cho thế hệ sau. Các ARN khác bao gồm: ARN
thông tin làm nhiệm vụ truyền thông tin từ ADN trong nhân
tới ribôxôm trong tế bào chất; ARN ribôxôm cùng với
prôtêin cấu trúc tạo nên các ribôxôm; các ARN vận chuyển
có chức năng vận chuyển các axit amin tới các ribôxôm,
thực hiện quá trình dịch m• thông tin di truyền.
2.1.4. Prôtêin – cấu trúc và chức năng
Phân tử prôtêin có cấu trúc theo nguyên tắc đa phân mà đơn
phân là axit amin. Công thức tổng quát của axit amin:

– Các axit amin liên kết nhau bằng liên kết peptit tạo nên
chuỗi polipeptit:

76
Các đơn phân khác nhau chủ yếu về nhóm R. Các chuỗi
polipeptit khác nhau về số lượng, thành phần và cả trật
tự sắp xếp của các đơn phân trong chuỗi đó.
Chuỗi polipeptit thường ở dạng xoắn hoặc gấp nếp gọi là
cấu trúc bậc hai. Cấu trúc bậc hai này có thể tiếp tục
xoắn tạo nên cấu trúc không gian ba chiều gọi là cấu trúc
bậc ba. Cấu trúc bậc 4 chỉ có ở những protêin có cấu trúc
nhiều mạch polipeptit. Các prôtêin có các chức năng sống khác
nhau (bảng 1.2)
Bảng 1.2. Chức năng của prôtêin
Loại prôtêin Chức năng Ví dụ
Prôtêin cấu trúc
Prôtêin enzim
Prôtêin hoocmôn
Prôtêin dự trữ
Prôtêin vận chuyển

vitamin A, D, E, K,...
b) Gluxit
Đường đơn (monosaccarit): Các đường đơn thường gặp như glucozơ,
fructozơ, galactozơ,... đều có công thức phân tử là C6H12O6,
nhưng có công thức cấu tạo khác nhau, nên có đặc tính khác
nhau.
Đường đôi (đisaccarit): Saccarozơ (cấu tạo từ glucozơ ?–1,2–frucozơ)
nhờ liên kết glicôzit bền vững; mantozơ (Glucozơ ? 1,4–
glucozơ); lactozơ (Galactozơ ?–1,4–galactozơ);
Đường đa (polisaccarit): Cấu trúc mạch thẳng như xenlulozơ hoặc
cấu trúc mạch phân nhánh như tinh bột, glicôgen. Tinh bột
là dạng hiđratcacbon dự trữ chính ở thực vật, có cấu trúc
chuỗi ?–glucozơ liên kết nhau bằng liên kết 1,4–glycôzit,
không phân nhánh (amylozơ) và chuỗi ?–glucozơ liên kết bằng
liên kết 1,4 và 1,6–glycôzit (amylôpectin). Glicôgen là
hiđratcacbon dự trữ chính ở động vật. Phân tử glicôgen cấu
trúc chuỗi ?–glucozơ liên kết
?–1,4–glicôzit ở đoạn mạch thẳng, liên kết ?–1,6–glycôzit nơi
phân nhánh). Cần nhớ rằng, xenlulozơ có cấu trúc mạch thẳng
gồm các đơn phân là
?– glucozơ liên kết nhau bằng liên kết 1–4–glicôzit như các đơn
phân cấu tạo nên tinh bột. Nhưng khác với tinh bột, trong
cấu trúc phân tử xenlulozơ các liên kết hiđro được hình thành
giữa các nhóm OH trên chuỗi song song liền kề, nhờ đó mà
phân tử xenlulozơ có tính ổn định về mặt cấu trúc.
Đường đơn và đường đôi tuy giống nhau về tính hoà tan trong
nước nhưng đường đơn có tính khử mạnh còn đường đôi thì không.
Đường đơn cung cấp năng lượng, cấu trúc nên đường đa; các đường
đa có vai trò dự trữ năng lượng, tham gia cấu trúc tế bào
(xenlulozơ), kết hợp prôtêin tạo các glicôprôtêin.

electron nên mang điện tích dương hơn. Những vùng ngẫu
nhiên tích nhiều điện tích dương hơn và những vùng tích
nhiều điện tích âm hơn luôn được hình thành và liên tục
thay đổi mà không cố định. Khi những vùng mang điện tích
trái dấu như vậy gần nhau thì sẽ hút nhau. Lực hút này
được gọi là liên kết Vande Van, có liên kết hoá học yếu (2
– 5kcal/mol, bảng 1.3) đ• không đủ năng lượng để tạo ra
những mạng lưới cứng nhắc bên trong tế bào, nhờ đó mà bên
trong tế bào không bao giờ bị đặc lại, đảm bảo được tính
mềm dẻo của hệ thống sống.
Bảng 1.3. Năng lượng cần thiết để bẻ gẫy một liên kết hoá
trị
79
và không hoá trị
Loại liên kết Độ dài (nm) Năng lượng cần để bẻ gẫy
liên kết (kcal/mol)
Trong chân không Trong nước
Hoá trị
Liên kết ion
Liên kết hiđro
Liên kết Vande Van 0,15
0,25
0,30
0,20 90
80
4
1 90
1
1
1

phong phú nhất. ở một số dạng glicôprôtêin được bổ sung
bằng các phân tử lipôpolisaccarit. Tế bào không có
lipôpolisaccarit sẽ kết hợp với thuốc nhuộm gentian
violet và được gọi là vi khuẩn Gram dương. Tế bào có
lipôpolisaccarit sẽ không nhuộm với gentian violet và gọi
là vi khuẩn Gram âm. Vi khuẩn gram dương mẫn cảm với kháng
sinh và lyzôzim hơn là các vi khuẩm gram âm. Phần lớn sống
dị dưỡng và đa số trong đó là hoại sinh. Một số vi khuẩn
sống cộng sinh. Một số khác sống tự dưỡng như vi khuẩn
quang tổng hợp sử dụng H2S như là chất cho electron:
CO2 + 2H2S (CH2O) + H2O + E ;
hoặc các vi khuẩn hoá tổng hợp lấy năng lượng từ các phân
tử vô cơ như NH4, N
2NH4 + 3O2 ? 2N + 4H+ + 2H2O + E (Nitrosomonas);
2N + O2 ? 2N + E (Nitrobacter).
Vi khuẩn sinh sản bằng phân đôi rất nhanh: 1 con vi khuẩn có
thể cho ra 4 ? 1021 tế bào vi khuẩn trong 24 giờ).
Cấu tạo tế bào nhân sơ
Màng sinh chất có bản chất hoá học là lipôprôtêin bao
quanh khối tế bào chất. Khối tế bào chất chứa ribôxôm,
các thể vùi và các chất dự trữ, các mezôxôm và một hoặc
vài nuclêoid.
Mezôxôm là phần màng sinh chất lõm vào trong khối tế
bào chất, có vai trò tương tự như ti thể vì trong đó có chứa
các enzim và các nhân tố của quá trình oxiphôtphorin hoá.
Nuclêoid là phần tế bào chất có chứa sợi ADN vòng, chưa có
nhân đặc trưng cách biệt với tế bào chất nên vi khuẩn, khuẩn
lam được gọi là sinh vật nhân sơ.
Bao ngoài màng sinh chất là lớp thành vỏ dày 8 – 30nm
có thành phần hoá học là polisaccarit liên kết với axit

– Kích thước bé (1 –3 ?m)
– Cấu tạo đơn giản
– ADN trần dạng vòng
– Chưa có nhân điển hình. Chỉ có nucleoid là vùng tế bào
chất chứa ADN.
– Tế bào chất chỉ có các bào quan đơn giản
– Riboxôm nhỏ hơn
– Phân bào đơn giản bằng cách phân đôi. Không có nguyên phân hay
giảm phân.
– Có lông và roi cấu tạo đơn giản – Nấm, thực vật, động vật
– Kích thước lớn (3 –20?m)
– Cấu tạo phức tạp
– ADN + histon ? tạo nên NST, trong nhân
82
– Có nhân điển hình: có màng nhân, trong nhân chứa chất
nhiễm sắc và hạch nhân.
– Tế bào chất được phân thành vùng chứa các bào quan phức
tạp như: mạng lưới nội chất, ti thể, lạp thể, ribosom, thể
Gôngi, …
– Riboxôm lớn hơn
– Phương thức phân bào phức tạp với bộ máy phân bào gồm
nguyên phân và giảm phân
– Có lông và roi cấu tạo theo kiểu 9+2
Bảng 1.5. So sánh tế bào thực vật và tế bào động vật
Tế bào thực vật Tế bào động vật
– Có vách xenlulozơ bao ngoài màng sinh chất của các tế bào
cạnh nhau
– Có lục lạp, sống tự dưỡng
– Chất dự trữ là tinh bột
– Trung tử không có trong tế bào thực vật bậc cao. Phân

và chức năng của chúng trong tế bào sống.
4. Các loại lipit chủ yếu trong cấu trúc của tế bào sống
và vai trò của mỗi loại đó trong tế bào?
5. Đặc điểm về cấu trúc và chức năng của prôtêin trong
tế bào và cơ thể?
6. Đặc điểm về cấu trúc và chức năng của các axit
nuclêic trong tế bào và cơ thể?
7. Các phương pháp hoặc các phép thử nào có thể nhận biết
một số thành phần hoá học chủ yếu cấu trúc nên tế bào và
cơ thể?
8. Có những dạng liên kết hoá học nào và vai trò của
các dạng liên kết đó trong cơ thể sống?
9. Vẽ sơ đồ cấu trúc tế bào nhân sơ và tế bào nhân
chuẩn. Lập bảng so sánh về các đặc điểm cấu trúc và hoạt
động chức năng của các loại tế bào này.
10. Vẽ sơ đồ cấu trúc tế bào thực vật và tế bào động
vật. Lập bảng so sánh về các đặc điểm cấu trúc và hoạt
động chức năng của các loại tế bào này.

Chương 2
Màng sinh chất
1. Khái niệm màng sinh học
Sự xuất hiện lớp màng bao bọc ngăn cách hệ đại phân tử
axit nucleic và prôtêin với môi trường ngoài, nhưng vẫn
đảm bảo khả năng trao đổi chất với môi trường ngoài, là một
84
sự kiện quan trọng trong tiến hoá dẫn tới sự xuất hiện tế
bào sống đầu tiên.
Màng sinh học là màng có bản chất là lipôprôtêit, bao
quanh tế bào chất có chứa các phân tử hữu cơ (prôtêin, axit

Các lipit khác 17
7
4
85
24
7
22 22
15
9
10
28
8 3
35
2
39
không đáng kể
21 6
17
5
40
không đáng kể
27 0
70
không đáng kể
0
0
30
Phôtpholipit là loại lipit quan trọng trong cấu trúc màng
sinh chất. Chúng là những lipit mà trong phân tử có một
trong các nhóm axit béo được thay bằng axit phôtphoric.

Gluxit màng: Trong màng sinh chất, gluxit chiếm khoảng 2 –
10%, đó là những mạch ôligôsaccarit hoặc polisaccarit liên
kết đồng hoá trị với các prôtêin màng ? glicôprôtêin hoặc
prôtêôglican. Liên kết gluxit với lipit ? glicôlipit định khu
phía ngoài màng.
Phần gluxit thò ra ngoài màng tạo nên lớp cấu trúc sợi
gọi là lớp áo, giữ chức năng bảo vệ màng, kháng nguyên bề
mặt, liên kết các tế bào cạnh,…
Chức năng của các thành phần cấu trúc nên màng được
tóm tắt trong bảng 2.2.
Bảng 2.2. Chức năng của các thành phần cấu trúc nên
màng
Thành phần màng Chức năng
Photpholipit ảnh hưởng đến trạng thái lỏng hay trạng thái
nhầy của màng.
Côlestêrôn
Glicôlipit
Prôtêin
87
Glicoprôtêin Làm cho màng sinh chất ít lỏng ở nhiệt độ cao
hơn và lỏng hơn khi nhiệt độ thấp hơn.
Hoạt động như là vị trí xác nhận, ví dụ: hệ thống nhóm máu
người ABO là kết quả của các glicolipit khác nhau trên
màng tế bào hồng cầu. Nó cũng giúp cho màng ổn định hơn.
Thành phần cấu trúc màng; vận chuyển các chất qua màng;
Thụ quan, xúc tác (enzim trên màng) tạo năng lượng và
chuyển electron.
Hoạt động như là những thụ quan.
2.2. Mô hình phân tử của màng
Theo Singer–Nicolson (1972), prôtêin định khu phân tán trong màng

chuyển động dịch chỗ của các phân tử lipit, hàm lượng
côlestêrôn trong màng tạo nên trạng thái lỏng hoặc nhớt
của màng. Khi các phôtpholipit ở dạng no, màng trở nên nhớt.
Khi các phôtpholipit ở dạng chưa no, màng ở trạng thái
lỏng. Hàm lượng côlestêrôn cao làm tăng tính bền vững của
màng.
2.3.2. Tính linh hoạt của các prôtêin màng
Các phân tử prôtêin có khả năng chuyển động quay và dịch
chuyển trong màng. Bình thường các prôtêin màng phân bố
ít nhiều đồng đều trong màng. Khi có thay đổi môi trường
như độ pH, nhiệt độ, sự kích thích của kháng thể,… thì các
phân tử prôtêin di chuyển tạo nên những tập hợp. Sự dịch
chuyển chậm tạo nên kênh vận chuyển.
Sự dịch chuyển ngang các phân tử prôtêin thấy rõ trong
thí nghiệm lai tế bào người và tế bào chuột invitro (hình
2.4).
Lai invitro tế bào người và chuột. Phát hiện sự dịch chuyển
của các prôtêin kháng nguyên tế bào chuột và người bằng
sử dụng kĩ thuật miễn dịch huỳnh quang để đánh dấu kháng
thể: huỳnh quang lục đánh dấu kháng thể của prôtêin kháng
nguyên chuột, còn huỳnh quang đỏ để đánh dấu kháng thể của
prôtêin kháng nguyên tế bào người. Sau thí nghiệm lai
phát hiện thấy huỳnh quang đỏ lẫn lộn giữa các huỳnh quang
lục. Kết quả thí nghiệm chứng tỏ các prôtêin kháng nguyên
màng đ• chuyển dịch ngang.
2.3.3. Sự kiểm soát tính linh hoạt của màng
Tính linh hoạt của màng, đặc biệt đối với các prôtêin màng
được kiểm sóat bởi các tác nhân ngoài và trong tế bào. Ví
dụ: Lectin tuy không xâm nhập vào tế bào, nhưng sự có mặt
của nó kích thích sự hợp nhóm của các glicôprôtêit màng,

cần tiêu tốn năng lượng, hoặc theo cơ chế xuất, nhập bào.

Hình 2.5. Sơ đồ minh họa các hình thức vận chuyển các chất
qua màng.
3.2.1. Vận chuyển chất qua màng không kèm theo tiêu tốn năng
lượng
Sự khuếch tán là dạng vận chuyển thụ động đơn giản nhất,
không đòi hỏi năng lượng. Các phân tử nhỏ có thể qua màng tế
bào bởi quá trình khuếch tán.
Khuếch tán là sự di chuyển của các phân tử từ một vùng có
nồng độ cao hơn đến vùng có nồng độ thấp hơn. Sự khuếch tán
xảy ra nhờ động năng phân tử. Tốc độ khuếch tán phụ thuộc
vào nhiệt độ, kích thước phân tử và loại phân tử khuếch
tán. Đối với các chất không phân cực và không tích điện,
chất có kích thước phân tử càng lớn tốc độ vận chuyển
càng chậm (oxi dễ dàng thấm qua màng). Phân tử có tích
90
điện và có mức độ hiđrat hoá cao khó đi qua màng. Ví dụ: Ion
tuy có kích thước bé nhưng khó đi qua màng, trong khi đó phân tử
CO2 có khối lượng phân tử tới 44 đvC lại dễ dàng qua màng.
Chất hoà tan trong lipit dễ dàng qua màng (các ancol, các
axeton,…). Nước và các chất hoà tan trong nước khó đi qua
màng. Các chất di chuyển từ nơi có nồng độ cao tới nơi có nồng
độ thấp hơn theo nguyên tắc khuếch tán. Tốc độ khuếch tán tăng
khi gradient nồng độ chất đó giữa trong và ngoài màng càng
lớn.
Sự khuếch tán của các phân tử nước qua màng tế bào gọi là
sự thẩm thấu. Nước và các chất hoà tan trong nước thẩm
thấu qua màng tế bào nhờ cơ chế tạo lỗ hoặc khe do sự di
chuyển họp nhóm của các prôtêin trong màng. Sự trao đổi

Trong nhiều trường hợp, tế bào phải vận chuyển các chất
ngược với gradient nồng độ, từ vùng có nồng độ thấp tới
vùng có nồng độ cao hơn. Sự vận chuyển các chất như thế
được xem như là một sự vận chuyển tích cực. Không giống như
sự vận chuyển thụ động, sự vận chuyển tích cực đòi hỏi phải
tiêu tốn năng lượng.
Khi năng lượng ATP của tế bào được sử dụng để vận chuyển
các phân tử qua màng, quá trình đó được gọi là vận chuyển
tích cực.
Sự vận chuyển tích cực thường có liên quan đến các
prôtêin mang giống như đối với trường hợp vận chuyển dễ
dàng. Các prôtêin mang hoạt động như một cái “bơm” có sử
dụng năng lượng để vận chuyển các ion và các phân tử qua
màng.
Sự vận chuyển tích cực đặc biệt quan trọng trong sự duy trì
nồng độ ion trong tế bào và giữa các tế bào.
Bơm ion natri – kali: Tế bào động vật có khả năng duy trì nồng độ
Na+ thấp và K+ cao trong tế bào chất, trong khi ở môi
trường ngoại bào thì ngược lại. Khả năng này do màng sinh
chất đ• thực hiện sự hoạt tải các ion Na+ và K+ ngược với
gradient nồng độ, nhờ các “bơm ion” được tạo nên bởi các
prôtêin xuyên màng. Ví dụ: bơm Na+–K+ ATPaza. Phân tử Na+–
K+ ATPaza hoạt động như một cái bơm, đẩy 3 ion Na+ ra khỏi
tế bào và hút 2 ion K+ vào tế bào theo cơ chế như sau (hình
2.7):
K+ K+–X ~ P K+–X ~ P K+
X P
Màng ATP ATP
ADP
X ~ P X ~ P

khuẩn bị gắn chặt vào màng tế bào thực bào. Thụ quan màng
(Fc) liên kết đặc trưng với vật gắn (ligand – vi khuẩn có
gắn opsonin). Phức hệ Fc – ligand sẽ làm hoạt hoá kênh
ion nằm cạnh thụ quan màng và các ion Na+ sẽ xâm nhập vào
tế bào. Điện thế màng bị hạ thấp và làm hoạt hoá sự thực
bào – màng chuyển dạng cùng phần ngoại sinh chất dưới
màng tạo nên chân giả, các chân giả bao lấy vi khuẩn và
tạo nên bóng thực bào hay thể thực bào (phagosome). Màng
bao quanh bóng thực bào là màng sinh chất và sự tạo thành
chân giả là nhờ sự hoạt động của các vi sợi phần ngoại
sinh chất và năng lượng cung cấp là từ ATP. Các thực bào
vào tế bào chất sẽ liên kết với các lizôxôm biến thành các
phagôlizôxôm.
93
Sự xuất bào: Là hiện tượng tạo thành bóng xuất bào
(exosome) trong tế bào chất từ mạng lưới nội sinh chất và
phức hệ Gôngi. Bóng xuất bào được bao bởi màng và chứa
các chất tiết như các hoocmôn,… hoặc các chất dư thừa cần bài
xuất khỏi tế bào. Đây là phương thức vận chuyển chất ra
khỏi tế bào qua màng sinh chất.
Bóng xuất bào di chuyển đến màng sinh chất do dòng chảy tế
bào tạo ra nhờ sự hoạt động của các vi sợi, vi ống và
tiêu phí năng lượng ATP. Khi màng bóng xuất bào gắn vào
màng sinh chất sẽ tạo nên vùng hoà hợp, tại đó các prôtêin
màng di chuyển làm cho lớp lipit kép đứt ra thành các
mixen và qua đó bóng xuất bào được mở ra, các chất chứa
trong bóng được giải phóng ra ngoài.

Hình 2.8. Sơ đồ minh họa sự hình thành bóng nhập (bên trái)
bào và bóng xuất bào (bên phải)

khoảng 3000 vi mao, 1mm2 bề mặt biểu mô ruột có đến 200
triệu vi mao. Sự hình thành vi mao trên bề mặt tế bào
biểu mô ruột đ• làm tăng diện tích bề mặt và khả năng hấp
thu lên nhiều lần.

Hình 2.9. Các lông, các vi mao của tế bào biểu mô ống dẫn trứng
(ảnh trái)
và bao myêlin ở tế bào thần kinh (ảnh từ Internet).
2.4.3. Tăng cường chuyển hoá năng lượng: Ví dụ tế bào cảm
quang (tế bào que, tế bào nón trong mắt). Tế bào biến đổi
để tăng diện tích bề mặt bằng cách hình thành các nếp gấp
mà ta gọi là đĩa màng (rodopxin: retinen + opxin).
2.4.4. Tăng cường chức năng dẫn truyền: Ví dụ bao miêlin của
sợi trục thần kinh là do màng biến đổi thành. Bao miêlin
thực chất gồm các lớp lipôprôtêin tạo ra từ các tế bào
xoan.
2.5. Lớp vỏ bao ngoài – lớp glicocalix (glico = gluxit; calix =
vỏ)
Đối với nhiều loại tế bào, ngoài màng sinh chất còn
được bao bởi lớp vỏ bao gọi chung là lớp glicocalix.
Thành phần hoá học của vỏ glucocalix có bản chất là
gluxit, hoặc dẫn xuất của gluxit. Vai trò chủ yếu là bảo
vệ, nâng đỡ cho màng sinh chất. Trong một số trường hợp, vỏ
glicocalix còn tham gia vào sự vận chuyển, trao đổi chất,
miễn dịch.
2.5.1. Lớp vỏ của tế bào vi khuẩn
Tế bào vi khuẩn ngoài màng sinh chất dày khoảng 10nm, còn
có vỏ bao ngoài màng.
Vai trò của lớp vỏ là bảo vệ cho vi khuẩn như một lớp xương
ngoài, giữ cho vi khuẩn có hình dạng nhất định, đồng thời

chất.
2. Nêu các chức năng của các màng trong tế bào.
3. Trình bày các cơ chế vận chuyển các chất qua màng tế
bào. Vai trò của phương phức vận chuyển tích cực đối với
sự sinh trưởng của thực vật.
4. Cho biết hiện tượng gì sẽ xảy nếu đặt tế bào động vật
trong dung dịch ưu trương, dung dịch nhược trương và dung
dịch đẳng trương? Giải thích hiện tượng xảy ra.
5. Cho biết những phân hoá của màng sinh chất về cấu
trúc và biến dạng thành phức hệ cấu tạo thích nghi với
chức năng như thế nào?
96
6. Vai trò của các thành phần cấu trúc màng. Sự hợp lí
giữa cấu trúc và chức năng của màng sinh chất biểu hiện
như thế nào?
7. Vai trò của lớp vỏ bao ngoài tế bào?Chương 3
Tế bào chất
1. Khái niệm về tế bào chất (Cytoplasma) và bào quan
(organella)
Khối nguyên sinh chất (Protoplasma) nằm trong màng sinh
chất và bao quanh nhân gọi là tế bào chất. Ngày nay,
người ta biết rõ rằng tế bào chất (TBC) là một cấu thành
của tế bào có cấu trúc vô cùng phức tạp, thực hiện các
chức năng sống như trao đổi chất, trao đổi năng lượng và
thông tin.
Về cấu trúc nội bào, trong TBC có các bào quan và
các chất ẩn nhập, khung xương tế bào, chất trong sáng (chất


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status