Đầu tư phát triển ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2001-2006 Thực trạng và giải pháp - Pdf 17

Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua cả nước ta nói chung đã có nhiều thành công
to lớn trong phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tỉnh Nam Định đã cùng với cả nước
hoàn thành và đạt mục tiêu đề ra cụ thể trong đại hội đảng bộ tỉnh Nam Định
lần thứ XVII đã đề ra "phát huy và khai thác cao độ tiềm năng, thế mạnh của
địa phương, tận dụng mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài, tranh thủ giúp đỡ
của Trung ương, thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài
nước, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp thực hiện phân công lại lao
động xã hội …"
Bên cạnh những tiềm năng, thế mạnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội đã và sẽ là động lực cho đầu tư phát triển, cũng còn không ít khó khăn mà
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nam Định phải cùng nỗ lực vượt qua.
Bước vào thế kỷ mới - thế kỷ của tri thức và công nghệ hiện đại, để đáp ứng
nhu cầu đầu tư phát triển ngày một tăng và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
của đất nước, chìa khoá cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững chính là
vấn đề huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư còn hạn chế trên địa bàn tỉnh
một cách tiết kiệm và hiệu quả.
Trong quá trình học tập tại Bộ môn Kinh tế Đầu tư - Trường đại học
kinh tế quốc dân và đặc biệt là sau thời gian thực tập tại cơ quan thực tế, nhận
thức được vị trí và vai trò quan trọng của quá trình đầu tư đối với việc phát
triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như ở địa phương, em đã chọn đề tài
"Đầu tư phát triển ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2001-2006 Thực trạng và giải
pháp".
Để thực hiện chuyên đề tốt nghiệp, ngoài phần mở đầu và kết luận,
phần nội dung của chuyên đề được chia thành 2 chương:
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
1
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C

19
0
52 đến 20
0
30 vĩ độ Bắc và 105
0
55 đến 106
0
35 kinh độ Đông. Địa hình
Nam Định chủ yếu là đồng bằng - ven biển và thấp dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam.
- Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam
- Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình
- Phía Đông Nam và Nam giáp với biển Đông.
- Phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình.
Nam Định nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung
bình năm là 23,8
0
C. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.400 ml. Độ ẩm
trung bình năm 83,5%. Hướng gió chính là Đông Nam và Đông Bắc. Khí hậu
Nam Định nhìn chung rất thuận lợi cho môi trường sống con người, sự phát
triển của hệ sinh thái động, thực vật và du lịch.
1.1.1.2. Diện tích và dân số
Diện tích: Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 1.650 km
2
, bằng 0,52% diện tích
cả nước và 13,2% diện tích của đồng bằng Bắc Bộ.
Dân số: Dân số của tỉnh gần 2 triệu người, mật độ dân số bình quân gần
1.212 người/km
2

Khoáng sản kim loại: có các vành phân tán Inmenit, Ziarcon, mônazit
và Quặng titan, zicon.
Các nguyên liệu sét bao gồm sét làm gốm sứ, sét gạch ngói, sét làm bột
màu.
Fenspat: phân bổ tại núi Phương Nhi, núi Gôi. Có thể khai thác làm phụ
gia sản xuất gốm sứ.
Cát xây dựng có mỏ cát nhỏ Quất Lâm dài 25km rộng 50-200m và dày
2,5-3m.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
4
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Nước khoáng ở Núi Gôi - Vụ Bản và Hải Sơn - Hải Hậu
- Tài nguyên nước mặt và nước ngầm :
Về nước mặt: bao gồm cả nước mặn và nước ngọt. Nước ngọt được
cung cấp bởi hệ thống Sông Hồng, Sông Đáy, Sông Đào, Sông Ninh Cơ và
nước mặn được cung cấp bởi hệ thống biển phong phú của tỉnh.
Về nước ngầm cũng bao gồm nước mặn và nước ngọt.
- Tài nguyên biển và rừng :
Bờ biển Nam Định dài 72 km thuộc 3 huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu,
Nghĩa Hưng. Có 3 cửa sông lớn: sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ.
Biển Nam Định nông và bằng phẳng. Độ sâu tăng dần từ trong ra ngoài
khoảng 3m/100m. Biển Nam Định mỗi năm lùi ra khoảng 100- 200m do phù
sa sông Hồng bồi đắp ở cửa Ba Lạt, tạo thêm diện tích khoảng 400 ha/năm.
Bình quân mỗi năm quai thêm được 150 ha đất ở cao trình 0,5 - 0,8 m trở lên.
Diện tích biển Nam Định có tiềm năng hải sản rất lớn, nhưng hiện nay
chúng ta mới chỉ khai thác được trong khoảng diện tích hơn 10.200 km2.
Chúng ta chưa khai thác hết phần thềm lục địa của chúng ta, càng chưa vươn
xa được ra vùng biển quốc tế.
Nam Định là tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn lợi thuỷ sản ở cả 3 vùng
nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Trữ lượng cá khoảng 157.500 tấn, chiếm

đường tỉnh, đường liên huyện, liên xã, liên thôn xóm, trong đó có 80% số
đường đã được nâng cấp, rải nhựa hoặc đổ bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho
vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân. Một số dự án đầu tư cải tạo các tuyến
đường nhánh từ Quốc lộ 10 vào Thành phố Nam Định, dự án cầu mới qua
sông Đào và đường giao thông nối Quốc lộ 10 với Quốc lộ 21B theo hướng
mở rộng Thành phố Nam Định về phía Tây đang được triển khai lập dự án.
Đường sông : Nam Định có 4 sông lớn với chiều dài 251 km, cùng với
hệ thống sông nội đồng dài 279km tạo thành một mạng lưới giao thông thuỷ
phân bố đều, thuận tiện cho đi lại, vận chuyển hàng hoá, cung cấp nước cho
tưới tiêu các loại cây trồng, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
6
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Cảng - bến bãi : Đã cơ bản xây dựng xong giai đoạn I cảng Hải Thịnh
với công suất xếp dỡ hàng hoá 3 vạn tấn/năm. Tập trung cải tạo cảng sông
Nam Định đảm bảo bốc dỡ hàng hoá an toàn, thuận tiện.
1.1.2.2 Điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông :
Hệ thống cấp điện : Điện lưới quốc gia phủ kín toàn tỉnh và với đủ điện
áp phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Huy động mọi nguồn vốn để cải tạo và phát
triển mạng lưới điện như quy hoạch lưới điện của tỉnh đã được phê duyệt.
Hệ thống cấp thoát nước, các công trình đô thị và nhà ở: Từng bước
đảm bảo nhu cầu nước đủ tiêu chuẩn chất lượng phục vụ cho sinh hoạt và sản
xuất công nghiệp, Thành phố Nam Định và các thị trấn, huyện lỵ. Năm 2006,
đã xây dựng và nâng cấp hệ thống đường ống nước đảm bảo cung cấp nước
cho khu vực Nam Định đạt bình quân 100 -120 lít/ngày đêm/người.
Về thoát nước tập trung: hoàn thiện các dự án thoát nước cho Thành
phố Nam Định, các thị trấn và các khu dân cư tập trung, đảm bảo nước lưu
thông nhanh, không bị úng lụt, ứ đọng sau mưa.
Hoàn chỉnh hệ thống đèn đường chiếu sáng ở Thành phố Nam Định và
các thị trấn huyện lỵ. Xây dựng các công trình phúc lợi công cộng. Quy hoạch

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, một số ngành
có mức tăng trưởng cao và toàn diện. Tổng sản phẩm (GDP) 5 năm 2001-
2006 tăng bình quân 8.3%/năm, cao hơn mức bình quân chung của cả nước.
GDP bình quân đầu người đạt 6.2 triệu đồng (khoảng 380 USD), vượt chỉ tiêu
đề ra.
Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tăng bình quân 4,05%/năm.
Mặc dù diện tích trồng trọt giảm nhưng sản lượng lương thực vẫn đạt gần 1
triệu tấn/năm, không ngừng đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn mà còn
xuất khẩu với giá trị lớn. Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất canh tác đạt
38 triệu đồng. Thuỷ sản phát triển nhanh với tốc độ tăng 15,6%/năm, trong đó
nuôi trồng thuỷ sản tăng 24,4%/năm.
Ngành công nghiệp xây dựng liên tục tăng trưởng cao, đạt tốc độ tăng
bình quân 20,4%/năm, trong đó công nghiệp địa phương tăng 23,4%, công
nghiệp cơ khí tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ 28%/năm. Một số ngành cơ khí
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
8
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
chủ lực có khả năng cạnh tranh như đóng mới tàu thuỷ, sản xuất xe ô tô…
Trên địa bàn tỉnh đã đầu tư 1 khu công nghiệp tập trung với diện tích 327 ha,
16 cụm công nghiệp làng nghề, thu hút hàng trăm dự án trong và ngoài nước.
Đang triển khai xây dựng khu công nghiệp cao Mỹ Trung với diện tích 150 ha
và quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp Thành An, Bảo Minh (Vụ Bản) và
Hồng Tiến (Ý Yên) với tổng diện tích trên 700 ha.
Các ngành dịch vụ phát triển nhanh, giá trị sản xuất tăng 8,3%/năm.
Ngành du lịch có bước phát triển mới về chất lượng dịch vụ du lịch đạt hiệu
quả cao. Bưu chính viễn thông được mở rộng, 100% xã có diểm bưu điện văn
hoá xã, mật độ máy điện thoại đạt 9.1 máy/100 dân.
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông lâm
ngư nghiệp tư 40,9% năm 2000 giảm xuống còn 34,5% năm 2005; công
nghiệp xây dựng từ 20,94% lên 28,1%; ngành dịch vụ 37,4%. Cơ cấu lao

=
Vốn đầu tư
GDP do vốn tạo ra
∆GDP

Theo tính toán của các nhà kinh tế để đạt được tốc độ tăng trưởng ở
mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15- 20% so với GDP tuỳ
thuộc vào hệ số ICOR. Khi hệ số ICOR không đổi thì mức tăng GDP phụ
thuộc vào vốn đầu tư.
Thực tế, trong những năm vừa qua trên địa bàn tỉnh cũng đã thu hút
được khối lượng vốn đầu tư tương đối lớn (giai đoạn 2001- 2006 đạt khoảng
hơn 15.000 tỷ đồng) nhờ đó tốc độ tăng trưởng phát triển của tỉnh không
ngừng tăng cao, bình quân giai đoạn 2001 - 2006 tốc độ tăng trưởng GDP đạt
8,3%/năm.
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế của tỉnh đạt
mức khá song cơ cấu kinh tế vẫn còn trong tình trạng lạc hậu. Hiện nay, trên
địa bàn tỉnh còn tới 75% lao động nông nghiệp, vấn đề nông nghiệp nông
thôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
của tỉnh. Tuy nhiên, để có thể tạo ra cho tỉnh một cơ cấu kinh tế hợp lý thì vấn
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
10
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
đề mấu chốt là vốn đầu tư được phân bổ như thế nào. Kinh nghiệm của các
nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng với tốc độ
nhanh là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển cho khu vực công
nghiệp, dịch vụ bởi vì ngành nông, lâm, thủy sản do hạn chế về điều kiện đất
đai, sinh học nên ngành không thể đem lại tốc độ tăng trưởng nhanh.
Trình độ khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh còn rất lạc hậu. Các
doanh nghiệp chủ yếu vẫn chỉ chú trọng đầu tư theo chiều rộng, chưa có điều
kiện đầu tư chiều sâu, đưa khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Vấn đề

được giữ gìn và phát huy. Công tác giáo dục – đào tạo của tỉnh luôn được
quan tâm chú trọng; các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt đạt nhiều kết quả
cao. Vì vậy, Nam Định là địa phương có trình độ dân trí cao và đồng đều, là
cơ sở để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng.
Trong giai đoạn 2001-2006 kinh tế - xã hội Nam Định tiếp tục phát
triển trên một số lĩnh vực. Năng lực sản xuất được nâng lên, kết cấu hạ tầng
được cải thiện, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo tiền đề cho bước phát triển thời kỳ sau. Đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân được cải thiện một bước. Tình hình chính trị tiếp tục ổn định,
quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, so với
cả nước, tình hình kinh tế xã hội tỉnh vẫn trong tình trạng lạc hậu, phát triển
chậm. Nam Định vẫn là một tỉnh nghèo, sản xuất hàng hoá chưa phát triển,
tích luỹ từ kinh tế nội tỉnh còn rất thấp. Khu vực nông nghiệp đang chiếm tỷ
trọng lớn, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP còn nhỏ bé. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch chậm, sức cạnh tranh yếu. Đời sống nhân dân một số
vùng còn nhiều khó khăn.
Cơ sở lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng đẩy mạnh hoạt động đầu
tư là một trong những nhân tố quyết định thúc đẩy phát triển kinh tế. Vì vậy,
cần phải đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Nam
Định.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
12
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỈNH NAM
ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2001-2006
1.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư phát triển tỉnh Nam
Định giai đoạn 2001-2006.
Bảng 1. 1: Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện tỉnh Nam Định giai
đoạn 2001-2006
STT

Biểu đồ 1. 1: Biểu đồ quy mô vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2001 – 2006
1725.5
1825.4
2125.2
2487.2
3230.2
4215.9
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
4500
2001 2002 2003 2004 2005 2006
năm
tỷ đồng
vốn đầu tư phát triển
đường thể hiện vốn đầu


Như vậy, có thể thấy vốn đầu tư phát triểm tăng nhanh qua các năm.
Năm 2001 tổng vốn đầu tư phát triển là 1725,5 tỷ đồng, đến năm 2006 đã là
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
13
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
4215.9 tỷ đồng tức là tăng 2,44 lần. Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2001-

đồng
1564.2 1785.6 2030.5 2532.3 2856.8 3654
2 VĐT thực hiện
Tỷ
đồng
1725.5 1825.4 2125.2 2487.2 3230.2 4215.9
3
Tỷ lệ VĐT thực
hiện/ kế hoạch
% 110.3 102.2 104.7 98.2 113.1 115.4
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
14
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Nam Định
Bảng số liệu trên cho thấy: trong giai đoạn 2001-2006 nhìn chung công
tác thu hút vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh đều hoàn thành và vượt mức
chỉ tiêu đề ra. Trong đó có những năm vượt mức nhiều so với kế hoạch như
năm 2005; 2006 vượt mức 13% và 15%. Chỉ trong năm 2004 kết quả thu hút
đầu tư là 98.2% chưa đạt so với kế hoạch (kế hoạch thu hút 2532 tỷ đồng
nhưng chỉ thu hút được 2487 tỷ đông).
1.2.2 Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển theo nguồn vốn huy
động
Nhìn chung cả giai đoạn 2001-2006 vốn Nhà nước vẫn chiếm phần lớn
trong tổng vốn đầu tư phát triển tỉnh Nam Định và tốc độ tăng ngày càng
nhanh qua các năm, đặc biệt là trong năm 2006, tăng 55.13% so với năm 2005
và đạt mức 2.295 tỷ đồng.
Bảng 1. 3: Nguồn vốn đầu tư phát triển tỉnh Nam Định giai đoạn 2001-2006.
Đơn vị: Triệu đồng
Nguồn vốn 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng số 1725464

Vốn của các DN
ngoài quốc doanh
363634 310456 520334 740346 780000 876000
Vốn của dân cư và tư
nhân
591631 701207 717460 722680 929853 987969
3. Vốn FDI 6500 - 39271 7328 40605 56396
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
15
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Nguồn vốn Ngân sách bao gồm vốn phân bổ từ ngân sách Trung ương
và các nguồn để lại do tỉnh điều hành hoặc huyện, xã điều hành. Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án thuộc phạm
vi ngân sách của địa phương mình (bao gồm cả nguồn vốn bổ sung từ ngân
sách cấp trên) do hội đồng nhân tỉnh phân cấp. Hiện nay, tỉnh Nam Định đang
áp dụng những điều khoản quy định tại Nghị định số 16/2005/NĐ-CP về thẩm
quyền quyết định đầu tư xây dựng công trình; theo đó chủ tịch UBND cấp
huyện được quyết định đầu tư các dự án thuộc ngân sách địa phương có mức
vốn đầu tư không lớn hơn 5 tỷ đồng và Chủ tịch UBND cấp xã không lớn hơn
3 tỷ đồng. Các nguồn để lại bao gồm các nguồn thu từ thuế sử dụng đất lúa,
xổ số kiến thiết, thuế đất, quảng cáo truyền hình, bán nhà thuộc sở hữu Nhà
nước, vượt thu đưa vào sử dụng…Nguồn bổ sung từ ngân sách Trung ương
dành cho phát triển đô thị, vốn sự nghiệp giáo dục, chương trình khuyến khích
điểm và các chương trình mục tiêu quốc gia. Ngoài ra còn có nguồn vốn của
các dự án nhóm A, B đầu tư trên địa bàn tỉnh. Đầu tư từ nguồn vốn ngân sách
chủ yếu vào các lĩnh vực: thiết kế quy hoạch và chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu
tư các dự án thuộc các khối nông nghiệp – thuỷ lợi, giao thông – vận tải, đầu
tư công cộng, dịch vụ quản lý Nhà nước, giáo dục đào tạo, văn hoá thông tin,
y tế xã hội, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, quốc phòng an ninh, bổ

Ngân sách Nhà nước 25.89 25.95 34.35 35.70 41.51 39.66
Vốn tín dụng 14.75 14.15 5.20 3.81 3.68 14.25
Vốn của các DNNN 3.61 4.48 0.36 1.37 0.62 0.53
2. Vốn ngoài quốc
doanh
55.36 55.42 58.24 58.82 52.93 44.21
Vốn của các DN ngoài
quốc doanh
21.07 17.01 24.48 29.77 24.15 20.78
Vốn của dân cư và tư
nhân
34.29 38.41 33.76 29.06 28.79 23.43
3. Vốn FDI 0.38 - 1.85 0.29 1.26 1.34
Trong tổng nguồn vốn Nhà nước, nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
tương đối ổn định và tăng liên tục qua các năm. Vốn tín dụng và vốn của các
doanh nghiệp Nhà nước có sự tăng, giảm không đều. Trong năm 2003, vốn
của các doanh nghiệp Nhà nước thấp nhất là 7.755 triệu đồng chiếm 0.36%
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
17
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
trong cơ cấu vốn đầu tư. Nguyên nhân là do trong năm 2003 tỉnh Nam Định
đang thực hiện tiến trình cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê một loạt các doanh
nghiệp Nhà nước. Điều này làm cho quy mô vốn của khu vực kinh tế Nhà
nước có thể giảm đi một phần nhưng vẫn chiếm vị trí quan trọng, có ý nghĩa
giữ vừng ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác
phát triển.
Nguồn vốn tín dụng Nhà nước do cung còn hạn chế so với cầu và yêu
cầu “đảm bảo” hoàn trả cả gốc và lãi nên phần lớn nguồn vốn này hiện chỉ
dành cho các doanh nghiệp Nhà nước và phát triển nông nghiệp – nông thôn.
Nguồn vốn này chiếm tỷ lệ lớn qua các năm 2001, 2002 là gần 15% và giảm

của dân cư và tư nhân có xu hướng giảm dần vể tỷ trọng nhưng về quy mô
vẫn tăng dần đều từ 591 tỷ đồng năm 2001 lên 988 tỷ đồng năm 2006. Điều
này cho thấy sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong những
năm gần đây cũng như sự gia tăng tích luỹ của đầu tư từ dân cư.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm vị trí rất nhỏ bé,
gần như không đáng kể cả về quy mô và tỷ trọng và biến động qua các năm;
năm 2001 là 6.5 tỷ đồng, chiếm 0.38%, năm 2003 là 39,3 tỷ đồng chiếm
1.85%, năm 2004 là 7.3 tỷ đồng chiếm 0.29%, năm 2005 là 40.6 tỷ đồng
chiếm 1.26% và năm 2006 là 56.4 tỷ đồng chiếm 1.34%. Trong khi tỷ trọng
nguồn vốn FDI trong cơ cấu tổng đầu tư phát triển toàn xã hội cả nước các
năm 2001 – 2006 lần lượt là 24.97%; 18.19%; 18.57%; 18.30%; 18.83% và
19.35%. Như vậy có thể thấy việc thu hút và thực hiện nguồn vốn FDI tại
Nam Định còn rất hạn chế mặc dù tỉnh có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho
đầu tư phát triển. Trong vài năm gần đây, để nâng cao hiệu quả thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, UBND tỉnh Nam Định đã có nhiều chính sách
khuyến khích đối với các dự án nước ngoài. Do đó, đã có nhiều dự án đầu tư
vào các ngành nghề như sản xuất hàng may măc, thuỷ hải sản, đồ uống… còn
các ngành khác: nông nghiệp– lâm nghiệp, công nghiệp nặng, du lịch, dịch
vụ, giao thông vận tải…thì hầu như không có. Đối tác đầu tư nước ngoài cũng
còn rất hạn chế:
Trung Quốc: Có 7 dự án với số vốn đăng ký đầu tư là 17,35 triệu USD,
chiếm 58,33% về số dự án, 21,45% về số vốn đầu tư.
Hàn Quốc: có 3 dự án với số vốn đăng ký đầu tư 56,47 triệu USD,
chiếm 25% về số dự án, 69,8% về số vốn đăng ký đầu tư. Riêng công ty
YOUNGONE – Hàn Quốc có số vốn lên tới 53,2 triệu USD đầu tư sản xuất
các loại quần áo, dệt kim, dệt may, giày dép, nguyên phụ liệu ngành may.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
19
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Ngoài ra còn 2 đối tác là Hungari và Hà Lan đầu tư vào sản xuất kinh

vốn đầu tư trong ngành nông nghiệp và dịch vụ có xu hướng giảm dần còn
ngành công nghiệp có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Nguyên nhân
là do, tỉnh đã chủ trương xây dựng nhiều khu công nghiệp mới như: KCN
Hoà Xá, Cụm CN An Xá, KCN Mỹ Trung…để thu hút các dự án đầu tư trong
nước và nước ngoài vào địa bàn tỉnh. Ngành công nghiệp xây dựng cũng là
ngành chiếm tỷ trọng vốn đầu tư cao nhất trong giai đoạn 2001-2006 (bình
quân đạt 39%/năm).
Bảng 1. 7: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển xã hội tỉnh Nam Định giai đoạn 2001-
2006 phân theo ngành
Đơn vị: %
STT
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng 100 100 100 100 100 100
1 Nông- lâm – thuỷ sản 20.34 19.18 16.65 15.69 13.47 13.36
2 CN - XD 34.65 35.73 37.92 38.14 40.62 41.2
3 Thương mại-dịch vụ 25.02 24.96 24.09 24.42 23.16 22.87
4 KH – Công nghệ 0.55 0.78 0.88 0.93 0.90 0.96
5 Giáo dục-đào tạo 3.32 3.31 3.01 3.12 3.15 2.38
6 Y tế- xã hội 1.15 1.99 2.16 2.09 1.88 1.98
7 Văn hoá thông tin 2.07 2.26 2.62 2.52 2.32 2.11
8 Các ngành khác 12.90 11.80 12.66 13.09 14.50 15.14
Trong cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh ngoài việc tập trung vốn cho các
ngành có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tỉnh còn dành lượng vốn
khá cao cho các ngành phục vụ xã hội, đời sống vật chất cho nhân dân như:
giáo dục, y tế, văn hoá thông tin, khoa học công nghệ và các ngành khác….
Tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành này hàng năm khoảng 20-23% so với tổng
vốn đầu tư toàn tỉnh. Điều này cho thấy, ngoài việc quan tâm tới phát triển
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
21
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C

Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
22
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
và phát triển chủ yếu là nông nghiệp lúa nước và các cây nông nghiệp ngắn
ngày.
Trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh, trồng trọt được xác định là ngành
sản xuất chính và có vị trí vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, là nguồn
cung cấp thực phẩm chủ yếu và tạo thu nhập cho hơn 85% hộ nông dân
trong tỉnh. Trong 6 năm qua, vốn đầu tư cho ngành trồng trọt đạt 1.500 tỷ
đồng, chiếm gần 70% vốn cho phát triển nông nghiệp, nhưng giá trị sản xuất
lại có xu hướng giảm dần từ 75% xuống còn 61%. Nguyên nhân là do đất đai
dành cho trồng trọt có xu hướng thu hẹp và thâm canh trong nông nghiệp đã
đạt tới trình độ cao. Cơ cấu sản xuất có sự chuyển biến mạnh theo hướng
tích cực, giá trị thu được trên 1 ha đất đạt 35.5 triệu đồng. Rất nhiều giống
cây trồng mới đã được trồng thử nghiệm trên địa bàn tỉnh và cho chất lượng,
năng suất cao. Năm 2003, giá trị sản xuất ngành trồng trọt thấp, chỉ chiếm
61% là do cơn bão số 9 gây nên và gây thiệt hại đáng kể cho nhân dân. Giá
trị sản xuất của các sản phẩm như: gạo, đậu tương, lạc…vẫn đạt giá trị cao
đáp ứng nhu cầu nhân dân trong tỉnh và một phần cho xuất khẩu.
Bảng 1.9: Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thuỷ sản trên địa bàn
tỉnh Nam Định giai đoạn 2001 – 2006
Đơn vị: %
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng số 100 100 100 100 100 100
1.Nông nghiệp 88.09 87.40 81.80 84.77 83.58 83.95
Ngành trồng trọt 75.33 73.29 61.16 68.69 61.58 63.07
Ngành chăn nuôi 21.02 23.29 33.84 28.45 34.21 32.07
Dịch vụ phục vụ trồng
trọt và chăn nuôi
3.65 3.41 4.99 2.86 4.21 4.87

bước chuyển mạnh từ nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến và bán thâm
canh. Hình thành được một số trang trại, vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung
theo hướng công nghiệp, hình thành một số cơ sở sản xuất giống tôm sú, ngao
vạng, cua biển…cung cấp cho vùng nuôi trong tỉnh.
1.2.3.2 Công nghiệp – xây dựng
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
24
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Ngành công nghiệp xây dựng sau khi tổ chức lại sản xuất đã chặn đứng
tình trạng sa sút nghiêm trọng và từng bước đi lên. Nguồn vốn đầu tư xã hội
cho công nghiệp xây dựng tăng cả về quy mô và tỷ trọng: 34.65% năm 2001,
35.73% năm 2002, 37.92% năm 2003, 38.14% năm 2004, 40.62% năm 2005
và 41.2% năm 2006. Về quy mô cũng tăng: năm 2001 tổng số vốn đầu tư cho
ngành này là 598 tỷ đồng, đến năm 2006 đã tăng 1737 tỷ đồng, tăng 2.9 lần.
Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá để tăng
cường thu hút vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Những năm gần đây công
nghiệp dân doanh phát triển mạnh mẽ và năng động, nhất là khu vực sản xuất
công nghiệp tư nhân, cá thể, hộ gia đình.
Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu đầu tư
xây dựng của tỉnh cũng tăng nhanh bao gồm cả đầu tư Nhà nước và đầu tư từ
dân cư, tư nhân: đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, nông thôn; hạ tầng
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; trụ sở làm việc khối quản lý Nhà
nước; đầu tư xây dựng trường học, trạm y tế; đầu tư xây dựng, cải tạo nhà
xưởng của dân cư, tư nhân…Chỉ tính vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
vốn ngân sách tỉnh điều hành (không tính vốn cho thiết kế quy hoạch và
chuẩn bị đầu tư) năm 2001 là 164 tỷ đồng (tăng 46.2%); năm 2002 là 203,7 tỷ
đồng (tăng 24.2%); năm 2003 là 267.5 tỷ đồng (tăng 31.3%).
Cùng với sự biến đổi về tỷ trọng vốn đầu tư vào lĩnh vực nông – lâm –
thuỷ sản, sự tăng trưởng của vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng
cũng đã thể hiện sự tập trung của tỉnh vào việc phát triển các ngành công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status