Kiến thức lớp 12
"Vợ nhặt" - Kim Lân –phần28
Một trong những sáng tác nghệ thuật đặc sắc của Kim
Lân trong truyện ngắn Vợ nhặt là đã xây dựng đựơc
tình huống truyện đặc sắc và hấp dẫn. Hãy phân tích
truyện Vợ nhặt để chứng minh ý kiến trên. Đọc Vợ nhặt của Kim Lân tôi lại rờn rợn nhớ đến Một đám
cưới nghèo của Nam Cao với những bóng đen lầm lũi đi
trong màn sương chiều nhập nhoạng. Cái đói, cái nghèo
ấy sao đầy kinh hoàng và u ám đến thế. Chính cái đói, cái
nghèo đó tạo nên cho Vợ nhặt một tình huống hết sức
độnc đáo và hấp dẫn. Và vì thế, Kim Lân đã đóng góp một
truyện ngắn vào loại hay nhất trong văn học Việt Nam
hiện đại
Ngay từ tựa đề của tác phẩm cũng gợi lên sự chua xót,
mai mỉa, một nỗi đâu không thể nói thành lời. “Nhặt vợ”,
một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như
vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân
gian:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay
Vậy mà ở đây Tràng đã nhặt được vợ hẳn hoi, trong cơn
đói khủng khiếp mà có lẽ “đến năm 2000 con cháu chúng
ta vẫn kể cho nhau nghe để rùng mình” đang hoành hành.
Cái lạ thường, kì dị của hành động đã tạo nên một tình
huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa phân phối toàn bộ
tác phẩm.
rằng con mình lại có vợ, ngay trong cái thời buổi đói kém
này. Bà cứ hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn mà càng lúc
nó cứ nhoèn mãi ra.
Tình huống càng bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng
cũng vẫn còn “ngỡ ngàng như không phải”. “Ngồi ngay
giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không
phải. Ra hắn đã có vợ đấy ư?”. Mọi chuyện xảy ra quá bất
ngờ, dường như chỉ là cơn mơ. Người đàn bà chỉ gặp mới
hai lần lại trở thành vợ hắn. Mà thật ra, hắn cũng không có
ý định gì với thị Thị liều lĩnh đến với hắn chỉ bằng mộ câu
nói suông. Thị theo hắn như phó mặc cho số phận. Cái
đói đã đẩy họ đến với nhau.
Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là một
tình huống oái ăm. Ta sẽ mừng hay lo, buồn hay vui cho
cặp vợ chồng này? Tâm trạng của những nhân vật trong
câu chuyện chứa đầy những cảm xúc ngổn ngang và mâu
thuỗn. Bà cụ Tứ vui vì cuối cùng con mình cũng có vợ
nhưng lại tủi vì sự trớ trên của số phận : có phải thời “tao
đoạn” như thế, người ta mới hcịu lấy con mình? Bà mẹ
nghèo nặng trĩu những lo âu cho tương lai của con mình,
“liệu chúng nó có nuôi nhau nổi sống qua được cơn đói
khát này không?”. Câu hỏi từ tận đáy lòng của bà mẹ
“chất chứa nỗi hoang mang, ám ảnh của kiếp bần hàn
không lối thoát và cả sự rình rập trước ngõ của cơn ác
mộng về cái đói chưa bao giờ dữ dội đến thế”. Trong lòng
bà, ta cảm thấy cả nỗi buồn của một người mẹ không
được thấy con trong ngày vui, không được một vài mâm
làm lễ gia tiên. Trong lời nghẹn ngoài tâm sự của à có cả
sự xót xa, một chút ân hận vì đã không làm được đầy đủ
trũng hoáy của thị sáng lên tức thì, thế rồi “thị sà xuống ăn
thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền
chẳng chuyện trò gì”. Đoạn văn làm cho bất cứ ai có
lương tâm cũng phải xấu hổ, phải quay mặt đi để cười ra
nước mắt. Thì làm ta liên tưởng đến bà lão trong Một bữa
no của Nam Cao. Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân
cách khi cái đói lởn vởn trong tâm trí. Giận thị nhưng ta
vẫn xót xa trước dáng hình tiều tịu của thị “hôm nay thị
rách quá, quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp đi, trên cái
khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Cái
đói, với bóng đen kinh hoàng của nó bao trùm khắp mọi
nơi, đè nặng lên cuộc sống bình thường của mỗi con
người. Còn gì thê thảm bằng đám “rước dâu” có tiếng quạ
kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai hờ khóc tỉ
tê “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo
gió thoảng vào khét lẹt”. Thân phận bọt bèo của những
con người như Tràng, những cám cảnh bần cùng ấy tự
thân nó đã có sức tố cám mạnh mẽ cái tội ác của thực
dân phát xít
Thế nhưng, chính trong cái cảnh thê lương ấy, những tấm
lòng nhân hậu lại sáng ngời lên mà tiêu biểu trong tác
phẩm là bà cụ Tứ. Trong lòng người mẹ nghèo ấy lúc nào
cũng mang sẵn tình thương con vô bờ bến “vừa ai oán
vừa xót xa cho số kiếp của đứa con mình”. Trong cái nhìn
đăm đăm vào người đàn bà đang “cúi mặt xuống, tay vân
vê tà áo đã rách bợt” có sự xót thương, thông cảm sẻ
chia. Tình thương con dù bao la đến mấy cũng có thể chỉ
làm bà “rũ xuống hai dòng nước mắt”. Cái khổ đau vất vả
một đời đã vắt kiệt nước mắt người mẹ. Nó không đủ để
hiểu theo nghĩa đen trần trụi nhất) vẫn cưu mạng, vẫn lấy
lại phẩm giá để làm người, để sống với hi vọng, với tương
lai. Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh dẫn đoàn đói khát đi
phá kho thóc của Nhật đâu chỉ là mộng tưởng ? Tương lai
mới “bạch sắc” (màu trắng) nhưng “dĩ thành hồng” (đã
thành đỏ) rồi. Cách mạng đã gần kề, suối nguồn của chủ
nghĩa nhân đạo sẽ tắm gội những con người bình dị
nhưng có phẩm chất nhân đạo như cụ Tứ, như Tràng và
cô “vợ nhặt” tội nghiệp Họ sẽ viết tiếp truyện thống về
phẩm giá con người Việt Nam trong tương lai.