I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giá trị của một Thương hiệu là triển vọng
lợi nhuận mà Thương hiệu đó có thể đem lại
cho nhà đầu tư trong tương lai. Rõ ràng,
Thương hiệu là tài sản vô hình nhưng không
thể thiếu được của doanh nghiệp. Thương
hiệu không chỉ là một tài sản quan trọng, mà
còn là công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh
nghiệp trong hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới. Nhưng hiện nay nhiều doanh nghiệp
chưa coi Thương hiệu là tài sản vô hình do
chưa hiểu biết hết về giá trị của Thương hiệu.
Vì vậy cần phải xác định giá trị Thương hiệu
theo các quan điểm và hoàn cảnh cụ thể.
II. NỘI DUNG
Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing
Hoa Kỳ thì: Thương hiệu là một cái tên, một
từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một
hình vẽ hay tổng hợp nhiều yếu tố nhằm xác
định một sản phẩm hay dịch vụ nhằm phân
biệt các sản phẩm, dịch vụ đó với các đối thủ
cạnh tranh. Nói cách khác, Thương hiệu là
hình thức thể hiện bên ngoài, tạo ấn tượng cần
thể hiện cái bên trong cho sản phẩm hoặc
doanh nghiệp. Thương hiệu tạo ra nhận thức
và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản
phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng.
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN THƯƠNG HIỆU
ký sở hữu đối với các Thương hiệu của mình.
Thế nhưng hiện nay mới chỉ có 25%
trong khoảng 200.000 doanh nghiệp ở Việt
Nam đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên với
75% số doanh nghiệp hiện chưa đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu cho thấy hiểu biết của các doanh
nghiệp về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
vấn đề Thương hiệu nói riêng chưa thật cao.
Họ chưa coi đây là tài sản giá trị lớn, là
phương tiện bảo vệ hàng hoá của mình chống
lại hàng giả, hàng nhái. Phần lớn số doanh
nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về vấn đề
Thương hiệu, do đó còn gặp nhiều khó khăn
trong việc xây dựng, giữ gìn uy tín và hình
ảnh Thương hiệu cũng như phát triển Thương
hiệu. Theo kết quả điều tra của dự án “Hỗ trợ
doanh nghiệp Việt Nam về xây dựng và quảng
bá Thương hiệu”, với mẫu là 500 doanh
nghiệp thì hiện nay việc xây dựng Thương
hiệu là quan tâm thứ hai của doanh nghiệp
Việt Nam sau đẩy mạnh tiêu thụ. Có 4,2% số
doanh nghiệp cho rằng: Thương hiệu là “vũ
khí” trong cạnh tranh; 5,4% số doanh nghiệp
cho rằng: Thương hiệu là tài sản doanh
nghiệp; 30% số doanh nghiệp cho rằng:
Thương hiệu sẽ đem lại niềm tin cho người
tiêu dùng và bán hàng được nhiều hơn. Còn
lại, nhiều doanh nghiệp chưa nhận rõ sự đóng
góp quan trọng của Thương hiệu trong giá trị
chỉ là giá trị doanh nghiệp bị định giá thấp mà
còn mất đi cơ hội khai thác tiềm năng, nâng
cao gia tăng giá trị doanh nghiệp qua các cách
thức quản lý tài sản vô hình hiệu quả.
Mục tiêu định giá Thương hiệu đa dạng
và có ích cho doanh nghiệp. Ví dụ như để làm
tài sản thế chấp, nhượng quyền Thương hiệu,
định giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán,
gây ảnh hưởng đến cán cân tài chính, phân bố
ngân sách Marketing, điều tra về tính độc
quyền, vấn đề quan hệ nội bộ, liên doanh. Ví
dụ Thương hiệu có thể coi như là một tài sản
thế chấp, trường hợp này đã xảy ra với Walt
Disney. Công ty này thành lập một liên doanh
ở Nhật và để hoạt động đã phát hành trái
phiếu với tài sản thế chấp là các nhãn hiệu của
mình và đã nhanh chóng huy động vốn lên
đến 725 triệu USD. Về nhượng quyền Thương
hiệu, để thương lượng phí nhượng quyền
Thương hiệu thì giá trị Thương hiệu phải
được xác định, ví dụ như với MC Donals. Còn
khi định giá cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán, thông thường, giá cổ phiếu của một
Công ty có nhiều Thương hiệu không phản
ánh hết toàn bộ tiềm năng sinh lợi của các
Thương hiệu Công ty. Giá hời này sẽ không
còn nếu Thương hiệu của Công ty được xác
sản vô hình thành ba nhóm chính dựa trên 4
cơ sở là: chi phí, thị trường, yếu tố kinh tế và
thiết lập công thức lý thuyết.
Tuy nhiên có thể quan tâm đến phương
pháp công thức các nhà định giá Thương hiệu
đưa ra 7 yếu tố để xác định sức mạnh của một
Thương hiệu. Một là thị phần được coi là yếu
tố xem xét về vị trí của thị phần của Thương
hiệu. Thương hiệu có thị phần lớn nhất thì
được điểm thị phần cao nhất. Thứ hai là sự ổn
định, Thương hiệu duy trì được sự ưa chuộng
và lòng trung thành của khách hành trong một
thời gian dài thì có giá trị hơn Thương hiệu có
nhiều biến động. Thứ ba là thị trường, Thương
hiệu ở thị trường này có thể tạo ra nhiều giá trị
hơn Thương hiệu ở thị trường khác do khả
năng tạo ra doanh số tốt hơn. Thứ tư là tính
quốc tế, Thương hiệu có mặt trên thị trường
thế giới sẽ có giá trị hơn Thương hiệu quốc
gia hay khu vực; có khả năng phát triển mở
rộng thị trường tốt hơn. Thứ năm là xu hướng,
đây là khả năng của một Thương hiệu duy trì
tình trạng hiện có trong tư tưởng của người
tiêu dùng. Thứ sáu là sự hỗ trợ, Thương hiệu
được sự quản lý và hỗ trợ liên tục bởi Công ty
trong thời gian dài có giá trị hơn Thương hiệu
mà không có sự đầu tư hay đầu tư manh mún.
Cuối cùng là bảo hộ, yếu tố này liên quan đến
các vấn đề pháp lý, Thương hiệu đăng ký độc
quyền và được bảo hộ có giá trị cao hơn các
tiêu chí: 7 trụ cột sức mạnh Thương hiệu
Chương trình “Thương hiệu mạnh Việt
Nam” năm 2005 đưa ra 7 tiêu chí trụ cột để
đánh giá sức mạnh Thương hiệu bao gồm:
- Năng lực lãnh đạo
- Chất lượng
- Năng lực đổi mới của doanh nghiệp
- Bảo vệ Thương hiệu
- Tính ổn định
- Kết quả kinh doanh
Ngoài ra nghiên cứu cũng đánh giá, nhìn
nhận những giá trị mang tính bản sắc dân tộc
và văn hoá của những nghề truyền thống, chỉ
dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ …
Theo đó, kết quả nghiên cứu cuối cùng sẽ
cho thấy thang điểm từng trụ cột mà mỗi
doanh nghiệp đạt được là bao nhiêu, trụ cột
nào đạt điểm tích cực, trụ cột nào còn nhiều
hạn chế cũng như đưa ra phân tích về thành
công, thất bại của những Thương hiệu điển
hình.
Bên cạnh 7 tiêu chí trụ cột đưa ra năm
2005, năm 2006 Ban tổ chức Chương trình
Thương hiệu mạnh đã đưa thêm một căn cứ cụ
thể khi xét chọn, đó là kết quả xếp hạng tín
dụng của các doanh nghiệp - chủ sở hữu
Thương hiệu. Một Thương hiệu mạnh phải đi
cùng một hạng mức tín dụng tốt, nhưng một
hạng mục tín dụng tốt không có nghĩa là có
được một Thương hiệu mạnh. Ở đây cần sự
tích.
Thứ hai là sức khoẻ của Thương hiệu
trên hệ thống phân phối thông qua các tiêu chí
như: độ phủ, thị phần, số lượng hàng tồn trong
kênh phân phối …
Thứ ba là sức khoẻ của Thương hiệu về
mặt tài chính, để xác định Thương hiệu có
thực sự khoẻ mạnh về tài chính hay không, sẽ
đo lường các tiêu chí như: doanh thu, tỷ suất
lợi nhuận, doanh thu từ việc tung ra các sản
phẩm mới, chi phí Marketing… từ đó sẽ tìm
ra các vấn đề tiềm ẩn về tài chính của Thương
hiệu.
Tuỳ theo mỗi ngành nghề kinh doanh,
đặc trưng của sản phẩm mà Lantabrand có thể
khuyến cáo tần suất nghiên cứu cũng như quy
mô nghiên cứu nhóm khách hàng mục tiêu,
nghiên cứu kênh phân phối và xem xét các dữ
liệu về tài chính trong nội bộ của Thương
hiệu. Từ đó sẽ giúp doanh nghiệp rà soát lại
tính hiệu quả của các hoạt động Marketing
liên quan đến Thương hiệu; sau đó đưa ra các
giải pháp cần thiết nhằm nâng cao giá trị
Thương hiệu, giúp Thương hiệu mạnh khoẻ
và phát triển trong dài hạn.
Chi phí cho việc “khám sức khoẻ Thương
hiệu” phụ thuộc vào độ lớn của Thương hiệu.
tình huống cụ thể mà có thể áp dụng các
phương pháp xác định giá trị Thương hiệu
một cách phù hợp nhằm có một hình ảnh cụ
thể về lợi ích của Thương hiệu. Tài liệu tham khảo
[1] An Duy: “Định giá Thương hiệu như thế nào”.
Thời báo kinh tế Việt Nam số 124, 16/10/2002.
[2] Trần Yên Thanh: “Nhiều doanh nghiệp chưa
coi Thương hiệu là tài sản vô hình”. Báo Nhân dân
ngày 3/5/2004.
[3] Hoàng Anh: “Đánh giá sức mạnh Thương hiệu
Việt”. Thời báo kinh tế Việt Nam số 71,
10/4/2006.
[4] Trịnh Minh Đức: “Đưa thông tin tín dụng vào
đánh giá Thương hiệu Việt”. Thời báo kinh tế Việt
Nam số 170, 25/8/2006.
[5] Phạm Minh: “Khám sức khoẻ” cho Thương
hiệu. Thời báo kinh tế Việt Nam số 87,
11/4/2007
♦