PHẦN MỞ ĐẦUx - Pdf 17

.PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và nhà nước Việt
Nam. Chủ trương này được khẳng định trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII và trong nghị quyết 01NQ/TW của Bộ chính trị với mục tiêu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa hướng về xuất
khẩu. Để thực hiện chủ trương của Đảng cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đất nước và giúp Việt Nam bắt kịp với tiến trình toàn cầu hóa và hội
nhập, chúng ta cần phải tăng cường mở rộng xuất khẩu. Việt Nam hiện là một
nước nông nghiệp đã xuất khẩu nhiều mặt hàng có giá trị cao như gạo, hồ tiêu, hạt
điều… và một trong những mặt hàng đó thì không thể không kể đến mặt hàng cà
phê. Cà phê cũng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hiện
nay, sản lượng cà phê của Việt Nam đang đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Brazil,
do đó từ lâu xuất khẩu cà phê là một lợi thế của Việt Nam, hàng năm lượng ngoại
tệ thu được từ việc xuất khẩu cà phê của Việt Nam chiếm một lượng thật đáng kể
cho việc đóng góp vào ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây
khi Việt Nam gia nhập vào nhiều tổ chức thế giới thì nền kinh tế nước ta không
phải là nền kinh tế đóng như lúc trước mà phải chịu sự biến động chung của nền
kinh tế thế giới. Vì thế, nền kinh tế nước ta gặp không ít những khó khăn, một số
thế mạnh của ta vẫn chưa triệt để. Trong tình hình đó, nghiên cứu marketing để
tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê là một đòi hỏi cấp
thiết và đáng quan tâm nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc sản xuất và xuất khẩu cà phê
của Việt Nam. Vì vậy, tôi quyết định nghiên cứu đề tài “phân tích chiến lược
Marketing trong việc xuất khẩu ngành cà phê Việt Nam từ năm 2007 –
tháng 6/2010” để hiểu rõ hơn về tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt
Nam trong những năm qua như thế nào nhằm làm tài liệu cho mình và cho cả
những ai quan tâm. Do thời gian có giới hạn nên tôi chỉ nghiên cứu số liệu trong
thời gian từ năm 2007- tháng 6 năm 2010.
II/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung: phân tích chiến lược Marketing trong việc xuất khẩu
ngành cà phê Việt từ năm 2007- tháng 6/2010. Nhằm tìm hiểu về thực trạng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về Marketing. Nhưng bất kì định nghĩa nào cũng
nhằm thực hiện công việc tìm kiếm, xác định nhu cầu, thị hiếu chưa được thỏa
mãn. Sau đó tổ chức sản xuất, cung ứng thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng. Sau
đây là một số định nghĩa về Marketing
a) Định nghĩa của Philip Kotler: “Marketing là quá trình quản lý xã hội
thông qua sự sáng tạo của cá nhân và tập thể thay đổi sự tiêu thụ. Là tự do giao
dịch trao đổi sản phẩm và các giá trị khác, để từ đó biết được nhu cầu xã hội”.
b) Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là quá trình hoạch
định và quản lý thực hiện việc định giá, chiêu thị và phân phối các ý tưởng, hàng
hóa, dịch vụ, nhằm mục đích tạo ra các giao dịch để thỏa mãn những mục tiêu của
cá nhân, của tổ chức và của xã hội”.
c) Định nghĩa theo quan niệm mới: “ Marketing là thiết lập, duy trì và củng
cố các mối quan hệ với khách hàng và các đối tác có liên quan để làm thỏa mãn
mục tiêu của các thành viên này”.
1.1.2. Thế nào là Marketing-Mix:
Marketing hỗn hợp là sự phối hợp các hoạt động, sự bố trí, sắp xếp các thành phần
của Marketing một cách tối ưu nhất, sao cho phù hợp với điều kiện kinh doanh
thực tế nhằm tăng cường, củng cố vị trí của công ty trên thương trường cả trong
ngắn hạn và dài hạn.
1.1.3. Vai trò của Marketing-Mix trong kinh doanh
Nếu công ty biết cách phối hợp tốt các thành phần của Marketing sẽ mang lại lợi
ích rất lớn cho doanh nghiệp
- Giúp hạn chế rủi ro trong kinh doanh
- Tạo điều kiện kinh doanh thuận lợ, có nhiều cơ hội phát triển
- Thu được lợi nhuận tối đa và ổn định
1.1.4. Các thành phần chính trong Marketing-Mix
Marketing hỗn hợp gồm 4 thành phần chủ đạo hay còn gọi là 4P gồm
- Product (P1): yếu tố này đặt câu hỏi sản xuất cái gì? Thế nào? Bao nhiêu? Từ đó
đưa ra chiến lược sản phẩm định vị, xây dựng thương hiệu
- Price (P2): đưa ra khung giá? Giá bán bao nhiêu? Từ đó đưa ra chiến lược giá

Cà phê là một mặt hàng buôn bán có giá trị kim ngạch đứng thứ 2 thế giới
đang phát triền sau dầu mỏ. Cà phê chủ yếu được trồng và xuất khẩu ở các nước
đang phát triển thuộc vành đai nhiệt đới và á nhiệt đới như Việt Nam, phần lớn sản
phẩm được nhập khẩu và tiêu thụ ở các nước công nghiệp phát triển với lượng
nhập khẩu tương đối lớn. Nhìn chung sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
trong những năm qua có sự tăng giảm đáng kể. Do ảnh hưởng của tình hình khó
khăn kinh tế nên tình hình tiêu thụ cà phê của thế giới có xu hướng giảm đáng kể,
sản lượng xuất khẩu năm 2008 so với năm 2007 giảm 13,8% hay về lượng giảm
170 ngàn tấn , đến năm 2009 tình hình có triển vọng hơn vì sự khó khăn của nền
kinh tế đang dần được phục hồi đạt 1.183 ngàn tấn, tăng 11,7% (tức tăng 124 ngàn
tấn) so với năm 2008. Nếu so sánh giữa lượng cà phê xuất khẩu ở 6 tháng năm
2009 và 6 tháng năm 2010 ta lại thấy lượng xuất khẩu trong 6 tháng 2010 có xu
hướng giảm đáng kể (giảm 9,9%) so với 6 tháng năm 2009 tức về lượng giảm 73
ngàn tấn. Nguyên nhân của sự sụt giảm là do hiện nay tỷ lệ cây cà phê già cỗi của
Năm 2007 2008 2009
6
tháng
2009
6
tháng
2010
Chênh lệch
2008/2007
Chênh lệch
2009/2008
Chênh lệch 6
tháng 2010/
6 tháng 2009
Tỷ lệ
(%)

trong tổng sản lượng làm ra. Chưa tính chung trên cả thế giới tức ở khoảng
0,5kg/người/năm, chỉ tính riêng trong các nước sản xuất cà phê thì mức tiêu thụ
nội địa của Việt Nam đứng thứ 19, nhiều nước tiêu thụ khoảng 3kg/người/năm và
đặc biệt là Braxin dẫn đầu với mức 5,29 kg/người/năm. Và mỗi năm, tiêu thụ cà
phê nội địa của Braxin đạt tới khoảng 600.000 tấn, trên 50% sản lượng cà phê của
Việt Nam. Nước ta là một nước đông dân nhưng nhu cầu tiêu thụ cà phê của Việt
Nam như hiện nay thì chứng tỏ rằng các doanh nghiệp Việt Nam chưa khai thác
hết các tiềm năng của thị trường Việt Nam. Như vậy, để đẩy mạnh tiêu thụ cà phê
thì ngoài việc quan tâm đến xuất khẩu cũng phải chú ý, đầu tư mạnh vào thị
trường trong nước.
2.1.2. Kim ngạch xuất khẩu
BẢNG 2: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM TỪ NĂM
2007-THÁNG 6/2010
Năm 2007 2008 2009
6
tháng
2009
6
tháng
2010
Chênh lệch
2008/2007
Chênh lệch
2009/2008
Chênh lệch 6
tháng 2010/ 6
tháng 2009
Tỷ lệ
(%)
Giá

phức tạp, mặc dù sản lượng xuất khẩu năm 2008/2007 có giảm nhưng kim ngạch
lại tăng, trong khi đó sản lượng năm 2009/2008 đang trên đà tăng lên về mặt sản
lượng nhưng lại có kim ngạch xuất khẩu giảm và giảm một lượng khá cao (tới
19%), còn 6 tháng năm 2010 giảm vì sản lượng xuất khẩu giảm nên kim ngạch
cũng giảm theo đó là điều bình thường. Nguyên nhân của sự biến động này là vì
vào năm 2008 mặc dù tình trạng kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam vẫn
không bị ảnh hưởng nhiều do chưa hòa nhập hoàn toàn vào nền kinh tế thế giới
nên. Nhưng đến năm 2009 thì không những không tăng mà ngược lại còn bị giảm
vì do cách làm thiếu khoa học, phân tán không chuyên nghiệp của không ít nhà sản
xuất và doanh nghiệp xuất khẩu từ đó làm cho cà phê không đạt chất lượng, một
nguyên nhân đặc biệt nữa là trong năm này do sự biến động của giá cả, tháng
5-2009 giới đầu cơ nước ngoài tung tin, giá cả cà phê sẽ tăng đột biến khiến nhiều
doanh nghiệp Việt Nam đua nhau tích trữ, thậm chí có doanh nghiệp vay nóng tiền
để mua cà phê. Đến tháng 6-2009, các quỹ đầu cơ trên sàn giao dịch London
ngừng mua để dìm giá xuống thấp và lại tung tin giá cà phê trong những tháng kế
tiếp sẽ giảm mạnh khiến các doanh nghiệp nước ta bán tháo, bán đổ, chịu lỗ vài ba
triệu đồng/tấn. Một thực trạng nữa là có quá nhiều doanh nghiệp xuất khẩu bán
hàng giao xa (nhà nhập khẩu ứng trước một tỷ lệ lớn tiền hợp đồng cho nhà xuất
khẩu, phần còn lại được tính toán khi giao hàng và chốt giá dựa vào giá cà phê
giao dịch trên thị trường kỳ hạn London), doanh nghiệp Việt Nam chấp nhận mua
hàng hoá trong nước với giá cao, chờ cơ hội chốt giá trên thị trường London cao
hơn để kiếm lời nhưng giá này bị dìm liên tục, đến hạn giao hàng phải chấp nhận
“mua đắt bán rẻ” hoặc thương thảo điều chỉnh lùi kỳ hạn giao hàng và chịu mất
phí với mức vài chục USD/tấn, tuỳ theo thời gian điều chỉnh. Ngoài ra, điểm yếu
của các doanh nghiệp Việt Nam là không dự báo được sự lên xuống của thị trường,
đồng thời không đánh giá được tình hình cung, cầu thực tế trên thế giới làm cho
tình trạng doanh nghiệp Việt Nam đua nhau xuất khẩu đầu vụ vì sợ để lâu sẽ bán
không được. Đây là nguyên nhân khiến giá bị dìm xuống thấp. Vì vậy, nhà nước và
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010

trong số các loài cây cà phê. Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê trên toàn
thế giới, trên thị trường cà phê chè được đánh giá rất cao. Cà phê vối là cây quan
trọng thứ hai trong các loại cà phê sau cà phê chè (khoảng 39% các sản phẩm cà
phê được sản xuất từ loại cà phê này). Nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới
là Việt Nam, các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm: Côte d’Ivoire, Uganda,
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
-8-
GVHD: Hồ Lê Thu Trang SVTH:
Dương Tấn Phát
Braxin và Ấn Độ. Mặc dù cà phê chè có giá trị kinh tế nhất trong các loại cà phê
nhưng nó không được sản xuất nhiều ở Việt Nam do độ cao ở Việt Nam không
phù hợp để phát triển, loài cây này lại có nhiều sâu bệnh hại nên không kinh tế
bằng trồng cà phê vối đối với Việt Nam. Hiện nay, gần 90% diện tích cà phê ở
Việt Nam được trồng cà phê vối, 10% trồng cà phê chè và khoảng 1% còn lại được
trồng cà phê mít.
Ngoài ba loại cà phê trên thì hiện nay Việt Nam còn sản xuất và xuất khẩu một
loại cà phê có giá trị cao đó là “cà phê Chồn”. Sản phẩm này chủ yếu dành cho
người có thu nhập cao và đặc biệt chủ yếu tập trung cho thị trường xuất khẩu. Cà
phê chồn được tạo ra thông qua con chồn, cứ vào vụ cà phê chồn hương chọn ăn
những quả chín mọng, không bị sâu. Enzym tiêu hoá trong dạ dày con chồn tương
tác với vỏ cà phê làm thay đổi thành phần và hương vị hạt cà phê thải ra theo
đường tiêu hoá của chồn. Loại cà phê này có hương vị hấp dẫn, quyến rũ đặc biệt
đến vị giác của người thưởng thức. Cà phê này có giá trị cao vì ngoài có hương vị
độc đáo nó còn được chế biến hoàn toàn từ công nghệ thủ công.
2.2.1.2. Chất lượng xuất khẩu của cà phê trong thời gian qua
Việt Nam hiện là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn thứ 2 trên thế giới sau
Brazil, và cà phê là một trong 5 mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị cao.
Tuy nhiên, chất lượng cà phê xuất khẩu chưa đồng đều, đặc biệt hàng năm số
lượng cà phê xuất khẩu bị thải chiếm tỉ lệ cao nhất thế giới. Chất lượng cà phê là

2009
6
tháng
2010
Chênh lệch
2008/2007
Chênh lệch
2009/2008
Chênh lệch 6
tháng 2010/ 6
tháng 2009
Tỷ lệ
(%)
Giá
trị
(USD
/tấn)
Tỷ lệ
(%)
Giá trị
(USD/
tấn)
Tỷ lệ
(%)
Giá trị
(USD/
tấn)
Giá
XK
(USD

người dân (không chỉ ngoài nước mà hầu như nước nào cũng vậy) tăng lên thì vấn
đề họ quan tâm chính không còn là giá cả mà là chất lượng. Việt Nam là nước
hàng năm có nhiều lượng cà phê để xuất khẩu nhưng lại áp dụng chính sách định
giá này. Điều này không những sẽ tạo ảnh hưởng không tốt với hình ảnh thương
hiệu cà phê của nước ta mà hàng năm còn làm mất đi một lượng kim ngạch đáng
kể. vì thế, nhà nước ta đặc biệt là hiệp Hội cà phê - ca cao Việt Nam cần có những
chính sách đúng đắn trong việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của ta, nâng cao
quảng bá, khẳng định thương hiệu của ta sao cho không những cao về sản lượng
mà còn cao về kim ngạch và hình ảnh.
2.2.3. PHÂN PHỐI
2.1.3.1. Các thị trường lớn nhập khẩu cà phê Việt Nam trong thời gian qua
Việc gia nhập nhiều tổ chức thế giới đã làm tăng uy tín và vị thế kinh tế của
Việt Nam trên trường quốc tế. Thế giới biết đến Việt Nam như là một nơi an toàn
trong khu vực với nền kinh tế mở và nỗ lực cải cách mạnh mẽ để hội nhập kinh tế
quốc tế. Việc Việt Nam được bầu là thành viên không chính thức của Hội đồng
Bảo an Liên hiệp Quốc là thắng lợi kép trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế.
Một hệ thống pháp luật mới ra đời với việc sửa đổi, hợp nhất các luật và xây
dựng mới 30 luật và pháp lệnh phù hợp các hiệp định và quy định của WTO, sửa
đổi hàng trăm luật khác phục vụ cải cách nền hành chính và đổi mới nền kinh tế.
Như vậy, chúng ta đã có một hệ thống chuẩn mực cao hơn, phù hợp với thế giới
hơn để nền kinh tế Việt Nam đi vào thế kỷ 21, thế kỷ của hợp tác kinh tế và hội
nhập. Môi trường kinh doanh của Việt Nam minh bạch hơn, ổn định về pháp luật
hơn, hấp dẫn hơn đã trở thành điểm đến của các nhà đầu tư lớn. Vì vậy, các thị
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
-11-
GVHD: Hồ Lê Thu Trang SVTH:
Dương Tấn Phát
trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam ngày càng đông, không chỉ có mặt hàng cà
phê mà nhiều loại mặt hàng khác như quần áo, chè, hạt tiêu… cũng được xuất

SẢN LƯỢNG
(ngàn tấn)
2007 2008 2009
NĂM
EU
ASEAN
MỸ
NHẬT BẢN
ÚC
TRUNG QUỐC
Nguồn: tổng hợp từ cục thống kê
Dựa vào biểu đồ ta thấy rằng nhìn chung qua ba năm từ năm 2007-2009 thì
EU vẫn là quốc gia nhập khẩu cà phê của Việt Nam nhiều nhất và rất cao so với
những nước nhập khẩu lớn lượng cà phê của Việt Nam, tiếp theo đó là Mỹ, Asean,
Nhật Bản, Trung Quốc và sau cùng là Úc. Điển hình như năm 2007 sản lượng
nhập khẩu cà phê của khối EU là 559.000 tấn, trong khi những nước khác như Mỹ
145.000 tấn, ASEAN 94.000 tấn, Nhật Bản 46.000 tấn, Trung Quốc 16.000 tấn và
Úc là 12.000 tấn. Nguyên nhân của sự nhập khẩu ở thị trường EU khá cao là vì
trong thị trường này lại có nhiều thị trường lớn (đặc biệt là Đức đang dẫn đầu về
lượng nhập cà phê đối với Việt Nam; kế đến là Bỉ, Hà Lan..). Tương tự năm 2008
cũng vậy EU nhập 502.000 tấn, ASEAN 69.000 tấn, Mỹ 106.000 tấn, Nhật Bản
59.000 tấn, Trung Quốc 16.000 tấn và Úc là 8.000 tấn. Ở năm 2008 này hầu hết
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
-12-
GVHD: Hồ Lê Thu Trang SVTH:
Dương Tấn Phát
các thị trường đều có lượng nhập khẩu cà phê Việt Nam thấp hơn so với năm 2007
ngoại trừ Nhật Bản đã tăng từ 46.000 tấn (năm 2007) lên 59.000 tấn (năm 2008)
và Trung Quốc vẫn không thay đổi vẫn 16.000 tấn. Đa số các nước đều giảm vì

37
78
36
7 6
254
52
75
32
9
12
0
50
100
150
200
250
300
350
400
EU ASEAN MỸ NHẬT BẢN ÚC TRUNG
QUỐC
Quốc Gia
Sản Lượng (ngàn tấn)
6 tháng 2009
6 tháng 2010
Nguồn: tổng hợp từ cục thống kê
Nếu so sánh cùng kì giữa hai năm 2009 và 2010, ta thấy rằng sản lượng nhập
khẩu cà phê của EU đã giảm so với kì trước từ 362.000 tấn xuống còn 254.000
tấn; đối với ASEAN thì lại tăng lên từ 37.000 tấn lên 52.000 tấn; tương tự vậy Mỹ
từ 78.000 tấn xuống 75.000 tấn; Nhật Bản từ 36.000 tấn xuống 32.000 tấn; Úc lại

2.1.3.3. Hệ thống xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
Năm
Thị Trường EU
2007 2008 2009
6 tháng
2009
6 tháng
2010
Đức 177 136 136 79 84
Bỉ 45 88 132 111 28
Tây Ban Nha 95 73 81 45 46
Italya 91 86 96 68 42
Pháp 31 24 25 19 6
Anh 32 35 31 16 18
Hà Lan 32 16 32 27 12
Thụy Sỹ 80 29 28 16 16
Ba Lan 18 12 11 5 4
-15-
Các vườn trồng
cà phê
GVHD: Hồ Lê Thu Trang SVTH:
Dương Tấn Phát
Ta thấy rằng, hệ thống tiêu thụ sản phẩm cà phê của Việt Nam là từ các chủ
vườn trồng cà phê, sau đó các nhà thu mua của ta sẽ mua lại có thể qua thương lái
hoặc trực tiếp, tới đây các nhà xuất khẩu có 2 hình thức bán một là bán trực tiếp
sang các công ty rang cà phê trong nước hoặc thuộc sở hữu nước ngoài, thứ hai là
bán qua các nhà nhập khẩu cà phê hoặc các trung gian/đại lý. Nhưng cuối cùng cả
nhà nhập khẩu và các đại lý đều phân phối lại cho các công ty rang. Ở công ty rang

phối này hay phân phối khác như qua trung gian hay trực tiếp; qua các đại lý hay
phải qua các nhà nhập khẩu. Điều này tùy thuộc vào khả năng và kinh nghiệm của
từng doanh nghiệp. Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét, phân tích để
tìm cho mình cách phân phối an toàn và hiệu quả nhất.
2.2.4. CÁC HOẠT ĐỘNG CHIÊU THỊ CỦA NGÀNH CÀ PHÊ VIỆT
NAM
Trong những năm qua nhìn chung các hoạt động chiêu thị đối với ngành cà
phê thô chưa được chú trọng và chưa thật sự tạo hình ảnh mạnh đối với thế giới.
Vì lẽ đó, hàng năm mặc dù sản lượng cà phê của ta được xuất với lượng khá lớn
nhưng giá vẫn thấp hơn so với các nước khác cũng xuất khẩu cà phê như Brazil,
Colombia, Indonexia, Ấn Độ… nếu tính về giá trị thì cà phê của Việt Nam được
xếp vào hàng thứ tư trên thế giới. Nguyên nhân của hiện tượng hình ảnh cà phê
không được đánh giá cao là về chất lượng và khâu Marketing chưa tốt. Một số
hoạt động chiêu thị của ngành cà phê Việt Nam là:
- Phối hợp với tổ chức môi giới (được Ngân hàng Nhà nước cho phép) tổ chức
giao dịch cà phê với các sàn giao dịch của thế giới (LIFFE - thị trường London,
NYBOT - New York,…).
- Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, hay Buôn Ma Thuột cà phê Festival, là một lễ hội
được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk, đây là một lễ hội lớn
ở Tây Nguyên. Nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ
cấu cây trồng ở đây và chiếm đến 60& sản lượng cà phê của Việt Nam, loài cây đã
đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng cao này. Lễ hội mới chỉ bắt đầu
được tổ chức từ năm 2005 trong chương trình quảng bá hình ảnh Thủ phủ cà phê
Buôn Ma Thuột
- Xây dựng các trang Web giới thiệu về cà phê Việt Nam
Ngoài ra hình ảnh cà phê Việt Nam còn được tạo hình ảnh từ các công ty
kinh doanh cà phê như Trung Nguyên đã xây dựng thủ phủ cà phê thế giới đã được
đông đảo các chuyên gia đánh giá cao, bên cạnh đó còn có những công ty khác
như Vina cà phê hay G7… đã có những chương trình quảng cáo táo bạo. Thông
qua đó phần nào cũng tạo hình ảnh tốt và nâng cao thương hiệu cho ngành cà phê

3. Các doanh nghiệp
thiếu kinh nghiệm
trong phân tích và
dự báo thị trường
4. Chưa định vị được
sản phẩm
O
1. Thị trường rộng
lớn
2. Được sự quan tâm
từ nhà nước
3. Nhu cầu tiêu thụ
ngày càng cao
S2+O4 => Thâm nhập thị
trường
S3+O2 => Mở lớp huấn
luyện, nâng cao kiến thức cho
người dân
W4+O1 => nâng cao
hình ảnh thương hiệu
W3+O1+O3 => Nâng
cao khả năng của
doanh nghiệp

T
1. Nhiều nước nhập
khẩu đưa ra nhiều
rào cản cho các
nước xuất khẩu
2. Có nhiều đối thủ

⊗ Giải pháp 2: Sự kết hợp giữa S3 (người dân ham học hỏi) và O2 (được sự
quan tâm của nhà nước) => Mở lớp huấn luyện, nâng cao kiến thức cho người dân
- ngày càng nhiều nước áp dụng những tiêu chuẩn khó đối với các nước xuất khẩu
vào quốc gia họ, các nước có những hàng rào như Mỹ hay EU… họ kiểm tra rất
nghiêm ngặt, nhiều đợt cà phê của ta khi xuất vào thị trường họ đã bị trả về một
lượng tương đối lớn. Vì vậy, nhà nước cần tạo điều kiện để người dân ngày càng
có kiến thức hơn, cách chăm sóc, cách đảm bảo chất lượng, làm thế nào để vừa
nâng cao năng suất lại vừa đảm bảo chất lượng quốc tế không những ở một cụn
nhỏ mà hầu hết các hộ dân trồng cà phê bằng cách mở những lớp huấn luyện tại
một địa điểm thuận tiện, hành động này không phải chỉ thực hiện một hai lần là
được mà phải có tính chu kì tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng và những phát
hiện mới của các nhà nghiên cứu.
⊗ Giải pháp 3: Sự kết hợp giữa S3 (người dân ham học hỏi) và T1 (nhiều nước
nhập khẩu đưa ra nhiều rào cản cho các nước xuất khẩu) => Nâng cao nhận thức
của người dân về việc chăm sóc cà phê đúng cách - nếu giải pháp 2 là nâng cao
kiến thức cho người dân về cách chăm sóc thì ở giải pháp này phải làm cho người
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
-20-
GVHD: Hồ Lê Thu Trang SVTH:
Dương Tấn Phát
dân hiểu về những việc làm của họ, cho họ thấy tầm quan trọng của việc chăm sóc
đúng cách, thực hiện trên tinh thần tự nguyện và hợp tác của người dân. Vì hiện
nay mặc dù người dân biết thu hoạch cà phê sống và chín trộn lẫn nhau đem bán là
không tốt nhưng do những yếu tố chủ quan và khách quan ta đã nói ở phần trước
nên người dân vẫn cứ thu hoạch bất chấp những hậu quả của nó.
⊗ Giải pháp 4: Sự liên kết giữa S4 (hệ thống phân phối rộng), T2 (có nhiều đối
thủ cạnh tranh) và T3 (thị trường thường bất ổn) => Tập trung vào các thị trường
chủ lực - trong bất cứ ngành hàng nào cũng vậy nếu hệ thống phân phối rộng lớn
bên cạnh đó có nhiều đối thủ và sự bất ổn của thị trường thì đây là một mối đe dọa

ảnh của ngành cà phê nước ta thì ta phải thay đổi thói quen kể từ khâu chăm sóc,
bảo quản, áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn trong việc kiểm tra…
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
-22-
GVHD: Hồ Lê Thu Trang SVTH:
Dương Tấn Phát
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. KẾT LUẬN
Tóm lại, trong những năm qua điển hình là năm 2007 - tháng 6/2010
ngành cà phê Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, mặc dù ta gia
nhập thị trường thế giới muộn nhưng nhanh chóng đã đứng ở vị trí thứ 2 trên
thế giới. Nước ta trồng nhiều loại cà phê nhưng xuất khẩu chủ yếu là cà phê
Robusta vì hàng năm cho sản lượng cao, và có vị phù hợp với người tiêu dùng
và ở nhiều nơi như đồng bằng sông Hồng, một số tỉnh ở ĐBSCL nhưng tập
trung phần lớn ở Tây Nguyên, Đắc Lắc,… về phần sản lượng xuất khẩu nhìn
chung mỗi năm đều tăng nhưng có những năm lại giảm do một số yếu tố khách
quan và chủ quan, nhưng kim ngạch lại không cao dù sản lượng có tăng vì chất
lượng của ta chưa được tốt, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến
giá cà phê của ta trên sàn thấp hơn các nước xuất khẩu khác. Ngoài ra ta còn
xâm nhập được vào những thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ…, đây cũng
là những thị trường lớn và tương đối ổn định của ta.
3.2. KIẾN NGHỊ
3.2.1. Đối với các cơ quan nhà nước:
- Cần có những chính sách có lợi cho các doanh nghiệ Việt Nam, không chỉ
là những chiến lược ngắn hạn mà còn phải là những chiến lược dài hạn sao cho tạo
điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam phát triển, bên cạnh đó cần hỗ trợ vốn cho
các doanh nghiệp. Vì thế qua đó sẽ tạo một phần nguồn thu ngoại tệ cho nước nhà
- Hỗ trợ người dân trồng cà phê về vốn khi cần, có những chương trình huấn
luyện nhằm nâng cao kiến thức về cây cà phê. Vì khi có kiến thức họ sẽ biết cách

vẫn hái) cũng sẽ không tạo được thành phẩm tốt.
- Phối hợp với cơ quan nhà nước, với các doanh nghiệp Việt Nam và với cả
những người dân trong vùng để tạo ra những quả cà phê đạt chất lượng tốt nhất.
Phân Tích Chiến Lược Marketing Trong Việc Xuất khẩu Ngành Cà phê Việt Nam
Từ 2007 - 6/2010
-24-
Bạn hãy tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.
(Hướng dẫn: Bạn hãy đăng nhập -> chia sẻ tài liệu -> download)
• Bình luận qua Facebook
• Bình luận qua 123doc
Phân tích chiến lược marketing cho xuất khẩu ngành cà phê việt nam
Chia sẻ qua facebook
Chia sẻ qua Google
Phân tích chiến lược marketing cho xuất khẩu ngành cà phê việt nam
Thêm vào bộ sưu tập
Lượt xem130
Tải về8
Chia sẻ0
Được chia sẻ bởi:
Mirumiru
• TÀI LIỆU LIÊN QUAN
• /
• CÙNG NGƯỜI TẢI LÊN

Phân tích chiến lược Marketing tại công ty cổ phần điện thọại di động ....
Lượt tải: 0
Lượt xem: 21

Phân tích chiến lược marketing của cocacola.
Lượt tải: 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status