Trang i
LỜI CẢM ƠN.
Trong thời gian hoàn thành đề tài, ngoài những cố gắng của bản thân, tôi đã
nhận đƣợc sự giúp đỡ của nhiều cơ quan và cá nhân. Với tất cả sự chân thành và
lòng biết ơn sâu sắc tôi xin đƣợc gởi lời cảm ơn tới:
Ban giám hiệu Trƣờng đại học Nha Trang, phòng Khoa học công nghệ, ban
chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản và các thầy cô bộ môn Bệnh học thủy sản đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Thạc sĩ Phan Văn Út-giáo viên hƣớng dẫn, ngƣời đã định hƣớng, động viên
và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi đƣợc thực hiện đề tài này.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng-giám đốc trung tâm Giống và Dịch bệnh thủy sản,
trƣờng Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi đƣợc thực hiện đề tài tại đây.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những ngƣời thƣơng yêu tôi đã
luôn bên cạnh, giúp tôi có thêm sức mạnh thực hiện tốt đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 9 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Mỹ Dung Trang ii
MỤC LỤC
3.2.1. Bệnh Ceratomyxosis. 21
3.2.2 Bệnh Henneguyosis 24
3.3. Kết quả thí nghiệm chữa trị: 26
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN. 31
4.1. Kết luận. 31
4.2. Đề xuất ý kiến. 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐCNTB
Cƣờng độ cảm nhiễm trung bình
ĐC
Đối chứng
h
Giờ
KST
Ký sinh trùng
NT
Nghiệm thức
ppm
Nồng độ phần triệu
ppt
chẽm giống. 14
Hình 2.3.Cách đo kích thƣớc bào tử 19
Hình 3.1. Dấu hiệu cá chẽm bị bệnh do Ceretomya gây ra. A- cá bị đen thân; B-
Nội tạng cá chẽm bị xuất huyết, mật bị đen; C- Gan teo, mật xanh. 21
Hình 3.2. Ceratomyxa ký sinh trong mật cá chẽm ở độ phóng đại 400X: A, B-
Mẫu soi tƣơi; C, D- Mẫu nhuộm với Giemsa; E- Hình vẽ bào tử Ceratomyxa. 22
Hình 3.3. Mô mật cá chẽm bị nhiễm bệnh Ceratomyosis: A- Ceratomyxa ký sinh
trong dịch mật; B- cấu trúc thành ống mật bị phá hủy, Ceratomyxa bám trên biểu
mô mật. Hình ảnh ở độ phóng đại 400X. 23
Hình 3.4. Hình ảnh bào nang và bào tử Heneguya trên cá chẽm: A, B- Bào nang
Henneguya cerebralis trên mang; C, D- Bào tử Henneguya cerebralis ở độ phóng
đại 400X; E- Hình vẽ bào tử Henneguya cerebralis . 25
Hình 3.5. Tỷ lệ (%) các cƣờng độ cảm nhiễm bào tử sợi khác nhau ở đàn cá chẽm
bị bệnh Ceratomyosis trƣớc khi đƣợc chữa trị trị bằng Baycox (BAYER). 27
Hình 3.6. Tỷ lệ chết ở các nghiệm thức sau 12 ngày chữa trị bằng Baycox
(BAYER). 27
Hình 3.7. Tỷ lệ (%) cƣờng độ cảm nhiễm ở nghiệm thức dùng thuốc (NT1) và đối
chứng (ĐC) sau 6 ngày chữa trị bằng Baycox (BAYER). 28 Trang 1
MỞ ĐẦU
Cá chẽm Lates calcarifer là loài có giá trị kinh tế, tốc độ sinh trƣởng khá
nhanh, dễ nuôi, năng suất nuôi cao và là đối tƣợng nuôi quan trọng ở nhiều nƣớc
trên thế giới, nhất là các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á. Nghề nuôi cá chẽm ở
Việt Nam đƣợc phát triển rộng rãi sau khi nghề nuôi tôm đi vào giai đoạn suy thoái
do dịch bệnh. Lates calcarifer đã trở thành đối tƣợng nuôi chính đem lại hiệu quả
kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân. Tuy nhiên, sự phát triển nghề nuôi cá chẽm gia
tăng nhanh chóng cả về quy mô và diện tích, đồng thời thiếu sự quản lý, quy hoạch
trong quá trình phát triển trong thời gian qua đã dẫn đến một số vấn đề về môi
Trang 3
PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1.Một số đặc điểm sinh học của cá chẽm.
Cá chẽm có hệ thống phân loại nhƣ sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Latidae
o
C. Nhiệt độ thay đổi đột ngột 2 – 3
o
C có thể gây
sốc cho cá giống (Tucker, 2000). Độ pH thích hợp cho cá từ 7.0 – 8.5; DO 4 -9
ppm; NH
3
-N < 0.025 ppm, H
2
S < 0.3 ppm (Kungvankij và ctv, 1984).
Cá chẽm là loài cá dữ, ăn mồi sống và có khả năng ăn thịt đồng loại, đặc biệt
tỷ lệ chết do ăn nhau cao nhất ở giai đoạn từ 1 – 10 cm. Ngoài tự nhiên, thức ăn của
cá chẽm gồm cá nhỏ, tôm, cua, mực…. Cá có kích thƣớc >20 cm ăn 100% mồi
động vật (Kungvankij và ctv, 1994).
Cá chẽm là loài có kích thƣớc lớn, khối lƣợng tối đa có thể đạt 60 kg. Cá
tăng trƣởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20–30 g tốc độ tăng trƣởng nhanh hơn và
chậm lại khi đạt khoảng 4 kg. Cá bột mới nở có chiều dài 1.49 mm, sau 40 ngày đạt
cỡ 17.4 mm, 50 ngày đạt 28.9 mm, 90 ngày đạt chiều dài 93 mm, khối lƣợng là 9g.
Trong điều kiện nuôi, cá giống cỡ 2 – 2.5 cm sau thời gian ƣơng từ 30 – 45 ngày đạt
cỡ 5 – 11 cm, sau từ 6 đến 24 tháng nuôi thƣơng phẩm cá đạt 0.35 – 3 kg.
1.2. Đặc điểm ký sinh trùng Myxosporea và bệnh do chúng gây ra.
Myxosporea là thuộc ngành Myxozoa, giới động vật đơn bào Protozoa.
Myxosporea có hình dạng cơ thể đơn giản, đây là kết quả của quá trình phân đôi
quy mô lớn để thích ứng với đời sống ký sinh (Lom và Dyková, 2006). Vòng đời
của Myxosporea trải qua các vật chủ khác nhau, theo Wolf và Markiw (1984) vòng
đời của Myxosporea xảy ra trên hai ký chủ chia làm 2 giai đoạn là Myxospore và
Actinospore, giai đoạn Myxospore xảy ra ở ký chủ trung gian là động vật có xƣơng
sống bậc thấp nhƣ cá, giai đoạn Actinospore ký sinh ở động vật không xƣơng sống
thƣờng là giun nhiều tơ nhằm phục vụ cho sự sinh sản hữu tính. Giai đoạn ký sinh
Trang 6
1992). Khi kí sinh vào cơ thể vật chủ, các thể dinh dƣỡng lấy chất dinh dƣỡng để
phát triển, sau đó hoặc chúng phân phối các bào tử trƣởng thành vào trong các cơ
quan vật chủ hoặc ra ngoài môi trƣờng trở thành bào nang và hủy hoại vật chủ.
Khi một bào tử trong môi trƣờng nƣớc, chúng sẽ xâm nhập trở lại cá hay
xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, có thể xâm nhập trực tiếp qua da, mang, vây cá
khỏe, hay cảm nhiễm thông qua ruột khi có trong thức ăn của cá. Khi tiếp xúc với
cơ thể cá, bào tử bị kích thích bởi cơ thể cá, sẽ phóng sợi thích ty, cắm vào tổ chức
cơ thể, hai mảnh vỏ tách ra, tế bào chất di chuyển, xâm nhập vào các tế bào tổ chức
của ký chủ, hoặc theo máu đến ký sinh ở các tế bào tổ chức của các cơ quan và
dừng lại ở đó lấy chất dinh dƣỡng để sinh trƣởng và phát triển. Myxosporea tồn tại
lâu ngoài môi trƣờng, bào tử có thể tồn tại trong nƣớc lạnh với hình thái bình
thƣờng hơn một năm (Lom và Dyková, 1992).
Sự phát triển bệnh do Myxosporea có thể phụ thuộc vào sự tƣơng tác của
nhiều yếu tố: vật chủ, môi trƣờng, dinh dƣỡng và quản lý dinh dƣỡng của ngƣời
nuôi ( Lom và Dyková, 1992 ). Yếu tố chủ yếu là vật chủ thông qua khả năng đề
kháng và tập tính dinh dƣỡng, yếu tố môi trƣờng nhƣ vùng địa lý, độ mặn, mùa
vụ…là yếu tố tác động không chủ yếu, một số loài bị ức chế bởi biến động mùa vụ
nhƣ ở cá Perch (Perca fluviatilis) mức độ nhiễm Henneguya psoro bị giảm vào đầu
mùa xuân, tuy nhiên một số loài Myxosporea khác vẫn phát triển mạnh trong cơ thể
vật chủ bất kể mùa nào (Lom và Dyková, 1992).
Bệnh do Myxosporea ở cá biển nuôi là sự đe dọa tiềm năng và hiện hữu cho
nghề nuôi trồng thủy sản nƣớc mặn. Tác hại của chúng không rõ ràng: một số loài
gây hại trực tiếp, thật sự nguy hiểm cho cá có thể gây chết cao; một số loài khác khi
cảm nhiễm vào cá không gây dấu hiệu lâm sàng hay tỷ lệ chết nghiêm trọng nhƣng
phá hủy trầm trọng cấu trúc mô cơ thể cá, tạo điều kiện cho các tác nhân cơ hội xâm
nhập gây các bệnh khác khi cá bị stress hay đáp ứng miễn dịch cơ thể suy giảm
(Alvarez-Pellitero, Sitja-Bobadilla, 1993).
Trang 8
Hallet và ctv, 1997 khi kiểm tra tổng số 444 con cá Sillago spp. bắt ở Vịnh
Moreton, Australia đã đƣợc tìm thấy Kudoa ciliatae trên 141 con cá (32%) . Tỷ lệ
cảm nhiễm trên loài S. maculata cao nhất vào mùa thu (100%) và thấp nhất vào
mùa xuân (10%), sự khác biệt này có liên quan thuận với kích thƣớc cá, vào mùa
thu cá có kích thƣớc lớn. Cƣờng độ nhiễm từ 1 đến 45 bào nang/cá, trung bình 7,6
bào nang/cá, bào nang ký sinh trên bề mặt ống tiêu hóa
Maeno và ctv, 1995, đã tìm ra một loài Myxosporea mới trên cá Seriola
quinqueradiata là Myxobolus spirosulcatus. Sau đó, Maita và ctv (1997) thông báo
một loài Myxosporea nhiễm trong túi mật có thể là nguyên nhân làm gan trở nên
màu xanh nhƣng không xác định rõ ra loài. Đến năm 2001, Hiroshi Yokoyama &
Yutaka Fukuda khi tiếp tục nghiên cứu về loài cá này lại bắt gặp Myxobolus
spirosulcatus với tỷ lệ cảm nhiễm 20-100%, ngoài ra còn phát hiện hai loài mới
Ceratomyxa seriolae n. sp và C. buri n. sp ký sinh trong túi mật.
Năm 2003, Freeman và ctv thông báo một loài ký sinh trùng ký sinh trong
rận cá Lepeophtheirus salmonis, rận cá là một trong những ký sinh trùng ngoại ký
sinh phổ biến trên các lồng nuôi cá hồi trên biển. Myxosporea đƣợc quan sát ở giai
đoạn trƣởng thành hay tiền trƣởng, ký sinh trên cả rận cái hay đực với tỷ lệ nhiễm
lên đến 5%, ký sinh ở dạng bào nang trong lớp biểu mô dƣới vỏ kitin, bƣớc đầu
định danh loài Myxosporea này thuộc Nucleospora.
Năm 2005, Ariadna và Pilar đã mô tả một loài mới Leptotheca sparidarum n.
sp., ký sinh trong thận hai loài cá Sparus aurata và Dentex dentex, đƣợc nuôi tại
vùng bờ biển Tây Mediterranean (trích theo Lom và Dyková, 2006).
MacKenzie và ctv (2005) khi nghiên cứu 4 loài thuộc họ cá Tuyết Gadus ở
các Bắc Đại Tây Dƣơng từ năm 1992 đến 2003 đã thu đƣợc 9 loài: Ceratomyxa
arcuata, Leptotheca informis, Leptotheca longipes, Myxidium bergense, Myxidium
gadi, Myxidium oviforme, Myxidium sphaericum, Sphaeromyxa hellandi, và
Myxidium. Một số loài là tác nhân gây bệnh nguy hiểm, một số có thể dùng để chỉ
thị sự thay đổi và ô nhiễm môi trƣờng biển.
kính cực nang 4.6 (4.1–5.3) µm. Zschokkella lophii sp.n. ký sinh trong túi nƣớc tiểu
Trang 10
và có tỷ lệ cảm nhiễm lên đến 70%, bào tử trƣởng thành có hình ellip hay hình bán
cầu, đƣờng nối cong. Hai cực nang hình cầu hở nằm ở cuối bào tử, chứa sợi thích ty
xoắn 5 lần. Kích thƣớc bào nang với chiều dài 20.1 (16.8–24.0) µm, rộng 14.9
(12.7–16.8) µm, đƣờng kính cực nang 5.1 (3.6–5.8) µm.
Tác hại do ký sinh trùng này gây ra đối với nghề nuôi trồng thủy sản thế giới
là không nhỏ, tuy nhiên cho đến nay ngoài những nghiên cứu về thành phần loài
Myxosporea gây hại và những tác hại do chúng gây ra thì phƣơng pháp chữa trị
thành công tác nhân này dƣờng nhƣ vẫn đang bế tắc.
1.4. Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng do
Myxosporea gây ra trên cá chẽm Lates calcarifer ( Bloch, 1790) trên thế giới.
Nghề nuôi cá chẽm thê giới phát triển đầu tiên tại Thái Lan từ những năm
1970, sau đó nghề này phát triển mở rộng ra các nƣớc châu Á khác nhƣ Trung
Quốc, Ấn Độ, Maylaysia, Việt Nam…Vì vậy, những công trình nghiên cứu chuyên
về Myxosporea trên đối tƣợng này còn hiếm, đa phần các công trình đều là nghiên
cứu thành phần loài ký sinh trùng.
Các công trình nghiên cứu cho thấy thành phần loài ký sinh trùng trên cá
chẽm rất đa dạng và phong phú:
Kết quả kiểm tra cá chẽm tại Malaysia cho thấy sự có mặt của 17 loài kí sinh
trùng, bao gồm 2 loài động vật đơn bào, 2 loài sán lá đơn chủ, 6 loài sán lá song
chủ, 1 loài sán dây, 2 loài giun tròn và 4 loài giáp xác kí sinh. Trong đó kí sinh
trùng gây bệnh chủ yếu là Trichodina sp. với tỉ lệ cả nhiễm là 62.8% và
Pseudohabdosynochus latesi là 14.8% (Leong và Wong, 1986).
Kết quả một nghiên cứu khác xác định 86% cá chẽm tự nhiên bị nhiễm sán lá
song chủ Lecithochirium sp. và 100% cá chẽm tự nhiên bị nhiễm Pseudometadena
celebenensis với cƣờng độ cảm nhiễm trung bình lần lƣợt là 5.5 và 9.3 trùng trên cá
(Ruangpan, 1988).
Năm 1988, Leong và Wong kiểm tra ký sinh trùng trên 149 con cá chẽm
Trang 12
Vũ Thị Ngọc, năm 2008 đã nghiên cứu bệnh do Protozoa ký sinh trên cá
chẽm nuôi thƣơng phẩm tại Khánh Hòa phát hiện 3 bệnh đó là bệnh do trùng bánh
xe, bệnh do bào tử sợi Henneguya và bệnh do trùng loa kèn.
Nhƣ vậy, ở Việt Nam đã có những nghiên cứu liên quan về ký sinh trùng gây
bệnh trên cá chẽm nhƣng chƣa có nghiên cứu nào về bệnh trùng bào tử sợi
Myxosporea ký sinh gây hại trên cá chẽm. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần một công
trình nghiên cứu về bệnh do tác nhân này gây ra để từ đó đƣa ra biện pháp phòng và
chữa trị hiệu quả.
Trang 13
PHẦN 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tƣợng nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu: Trùng Myxosporea ký sinh trên cá chẽm.
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20/6/2011 đến 6/2012
Địa điểm nghiên cứu:
Xác định tác nhân gây bệnh tại phòng thí nghiệm Bệnh học thủy
sản, trƣờng Đại học Nha Trang.
Tiến hành chữa trị tại trung tâm nghiên cứu giống và dịch bệnh thủy
sản, trƣờng Đại học Nha Trang
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu.
Kiểm tra
các đặc
điểm mô
học
Cố định,
nhuộm và
làm tiêu
bản.
Trang 14
2.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu trùng bào tử sợi ký sinh trong cá chẽm.
Hình 2.2. Các bƣớc thực hiện của phƣơng pháp nghiên cứu ký sinh
trùng ở cá chẽm giống.
Áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu ký sinh trùng toàn diện ở cá của Dogiel
(1929) có sửa chữa, bổ sung của một số tác giả: Hà Ký (1993), Bùi Quang Tề
Kiểm tra mang cá: Cắt bỏ nắp mang rồi quan sát bằng mắt thƣờng để xem
xét tình trạng mang nhƣ: màu sắc, sự tiết nhớt, có bị rách hay sƣng không. Sau đó
cắt rời từng cung mang, lấy nhớt mang cho lên lam để quan sát phát hiện ký sinh
trùng, sau đó cho vào hộp lồng có nƣớc muối rồi đƣa lên kính soi nổi quan sát, dùng
panh nhỏ và dùi tách ký sinh trùng ra khỏi mang.
Kiểm tra cơ quan bên trong
Sau khi kiểm tra xong da và mang, tiến hành giải phẫu cá tách riêng từng cơ
quan nội tạng cho vào hộp lồng chứa nƣớc muối sinh lí 0.85%.
Gan: Quan sát màu sắc hình dạng của gan. Sau đó cắt một ít lá gan đem ép
rồi quan sát trên kính.
Mật: Tách lấy túi mật, lấy dịch mật đem quan sát trên kính hiển vi.
Dạ dày: Cho vào hộp lồng có nƣớc muối sinh lí đƣa lên kính giải phẫu quan
sát bên ngoài phát hiện những ký sinh trùng thì dùng panh và dùi tách ra, sau đó
dùng kéo mổ gạt hết thức ăn, cạo nhớt cho vào lam nhỏ nƣớc muối sinh lí đƣa lên
kính hiển vi quan sát. Nếu thấy bào nang qua kính giải phẫu thì tách ngay, làm sạch,
đƣa lên kính hiển vi quan sát kĩ hơn chụp và vẽ hình.
Ruột: Chia ruột làm ba phần: ruột trƣớc, ruột giữa, ruột sau. Dùng kéo hoặc
dao rạch dọc theo ống ruột gạt bớt thức ăn, cạo để quan sát dƣới kính hiển vi nếu có
bào nang hay trùng thì đƣa qua kính giải phẫu tách trùng.
Trang 16
Khi phát hiện đƣợc ký sinh trùng cần vẽ và chụp hình, ghi đặc điểm phân
loại, cố định và bảo quản phù hợp
Bƣớc 3: Thu thập, cố định, bảo quản, làm tiêu bản.
Mỗi loài ký sinh trùng có phƣơng pháp thu thập và bảo quản khác nhau.
Trong quá trình thu mẫu cần ghi chép đầy đủ số lƣợng, mô tả và vẽ hình sơ bộ để
thuận tiện cho phân loại sau này. Riêng đối với Myxosporea, sau khi thu thập đƣợc
Myxosporea tiến hành một số thực hiện phƣơng pháp sau:
Ép và dàn mỏng ký sinh trùng lên lam, để khô ở nhiệt độ phòng, cố định
trong cồn ethylic 100% và nhuộm dung dịch Giemsa đƣợc pha từ dung dịch Giemsa
- Nghiệm thức 1: Cho ăn thức ăn đƣợc trộn với Toltrazuril nồng độ 0.5ppt
(0.01mL Baycox/1g thức ăn).
- Nghiệm thức 2: Cho ăn thức ăn đƣợc trộn với Toltrazuril nồng độ 1ppt
(0.02mL Baycox/1g thức ăn).
- Nghiệm thức 3: Đối chứng (thức ăn không có Baycox).
Quy trình chữa trị đƣợc thực hiện trong 6 ngày gồm cho ăn thức ăn có chứa
thuốc liên tục trong 3 ngày, 3 ngày tiếp theo cho ăn bình thƣờng. Sau 6 ngày tiến
hành giải phẫu kiểm tra mẫu. Nếu cá còn nhiễm bệnh lặp lại quy trình và tiếp tục
cho đến khi hết bệnh.
Cá đƣợc nuôi trong bể 1m
3
có chứa 0.5m
3
nƣớc; cho ăn thức ăn công nghiệp
chiếm 10% khối lƣợng cơ thể, các thông số môi trƣờng đƣợc quan sát và duy trì ổn
định với nhiệt độ 26-28ºC, độ mặn 28-33 ppt. Thu thập cá chết hàng ngày, kiểm tra
mật, sau mỗi đợt chữa trị tiến hành kiểm tra để xác định hiệu quả. Trang 18
2.2.5. Phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu.
2.2.5.1. Phƣơng pháp tính mức độ cảm nhiễm
- Tỷ lệ cảm nhiễm:
TLCN (%) =
100
AL- chiều dài phần phụ đuôi;
TL-tổng chiều dài bào tử;
2.2.5.3. Xử lý số liệu
Số liệu sau khi đƣợc thu thập đƣợc xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.