tìm hiểu bệnh do vi khuẩn bacillus sp. gây ra trên cá chẽm lates calcarifer (bloch, 1790) nuôi tại khánh hòa - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ THỊ MỸ DUNG
TÌM HIỂU BỆNH DO VI KHUẨN Bacillus sp.
GÂY RA TRÊN CÁ CHẼM Lates calcarifer
(Bloch, 1790) NUÔI TẠI KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ THỊ MỸ DUNG

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn. Với lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Nha Trang, khoa sau Đại học, Viện Nuôi trồng
Thủy đã luôn quan tâm và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
TS. Nguyễn Hữu Dũng, Giám đốc Trung tâm Giống và Dịch bệnh thủy sản-
trường Đại học Nha Trang, đã định hướng, chỉ dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài hoàn thành chương trình cao học.
Th.S. Trần Vĩ Hích, phó Giám đốc Trung tâm Giống và Dịch bệnh thủy sản, đã
luôn cho tôi những lời khuyên quý báu, động viên khích lệ tôi trong thời gian tôi hoàn
thành chương trình cao học.
Các cô, chú, anh, chị là nhân viên của Trung tâm Giống và Dịch bệnh thủy sản
đã tạo một môi trường làm việc thân tình, giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian thực
hiện đề tài ở trung tâm.


Một số đặc điểm của nhóm vi khuẩn Bacillus và tổng quan bệnh do vi khuẩn
Bacillus gây ra. 9
1.4.1.Đặc điểm của nhóm vi khuẩn Bacillus 9
1.4.2.Bệnh do vi khuẩn Bacillus gây ra trên động vật thủy sản 11
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 14
2.2.

Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
iv
2.2.2. Phương pháp thu mẫu 15
2.2.3. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 15
2.2.3.1. Phương pháp kiểm tra các tác nhân gây bệnh 15
2.2.3.2. Phương pháp phân lập vi khuẩn trong thức ăn 16
2.2.3.3. Phương pháp định danh vi khuẩn 16
2.2.3.4. Phương pháp xác định độc lực 17
2.2.3.5. Phương pháp nghiên cứu mô bệnh học 19
2.2.3.6. Phương pháp xác định độ nhạy của vi khuẩn với kháng sinh 19
2.2.4 Xử lý số liệu 20
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
3.1.Kết quả nghiên cứu 21
3.1.1. Kết quả phân lập vi khuẩn Bacillus sp. 21
3.1.1.1. Kết quả phân lập vi khuẩn Bacillus sp. từ cá chẽm bệnh 21
3.1.1.2. Kết quả phân lập vi khuẩn Bacillus sp. từ thức ăn. 23
3.1.2. Đặc điểm và kết quả định danh các chủng vi khuẩn Bacillus sp. 24
3.1.3. Kết quả thí nghiệm xác định độc lực 27
3.1.4. Kết quả kiểm tra mô học cá chẽm nhiễm bệnh sau khi cảm nhiễm. 31
3.1.5. Kết quả kháng sinh đồ. 34

khuẩn lạc trên TSA+ 2% NaCl (a) và trên BA + 5% máu cừu (b); tế bào vi khuẩn
nhuộm Gram (c) và nhuộm bào tử (b) 24
Hình 3.3: Đặc điểm sinh hóa của chủng CRB170613 trên kit API 20E (a), trên môi
trường thủy phân tinh bột (b) và trên môi trường thủy phân casein (c) 26
Hình 3.4: Tỷ lệ chết tích lũy của cá chẽm ở những nồng độ vi khuẩn khác nhau khi dẫn
truyền bằng phương pháp tiêm xoang bụng chủng vi khuẩn CRB170613 và chủng
TAOC3. 27
Hình 3.5: Dấu hiệu bệnh lý của cá chẽm khi gây nhiễm bằng cách tiêm xoang bụng:
xuất huyết vây (a); xuất huyết nội quan, tích dịch xoang bụng (b) 28
Hình 3.6: Tỷ lệ chết tích lũy của cá chẽm khi dẫn truyền bằng phương pháp tiêm cơ vi
khuẩn CRB170613 và TAOC3 29
Hình 3.7: Dấu hiệu bệnh lý của cá chẽm khi gây nhiễm bằng phương pháp tiêm cơ:
vùng cơ trên lưng hoại tử mờ đục, nội quan xuất huyết (a), cá bi hoại tử lở loét tại
vùng tiêm (b). 29
Hình 3.8: Tỷ lệ tích lũy cá chẽm biểu hiện hoại tử, lở loét cơ khi dẫn truyền bằng
phương pháp tiêm cơ ở những nồng độ vi khuẩn khác nhau chủng vi khuẩn
CRB170613 và chủng vi khuẩn TAOC3 30
Hình 3.9. Tương quan giữa nồng độ vi khuẩn B. cereus tiêm vào cơ và tỉ lệ cá chẽm
biểu hiện các dấu hiệu tổn thương cơ 30
vii
Hình 3.10: Mô học của thận cá chẽm khỏe (a) và các biến đổi mô bệnh học ở thận cá
chẽm bệnh do B. cereus 31
Hình 3.11: Mô học của gan cá chẽm khỏe (a) và các biến đổi mô bệnh học của tổ chức
gan cá chẽm bệnh gây bởi B. cereus. 32
Hình 3.12: Mô học của lách, não cá chẽm khỏe (a) (c) và các biến đổi mô bệnh học
của lách, não, cơ cá chẽm bệnh gây bởi B. cereus 33
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

API 20E Tên kit định danh

MỞ ĐẦU

Cá chẽm Lates calcarifer, loài cá có tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, năng suất
nuôi cao; là một đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam,
Lates calcarifer đã từng được xem là một đối tượng thay thế khi nghề nuôi tôm sú đi
vào giai đoạn suy thoái do dịch bệnh lan tràn và đóng vai trò như một trong những loài
cá “xoá đói giảm nghèo” cải thiện thu nhập cho nhiều hộ nông dân.Với ưu thế sinh
trưởng phát triển tốt trong điều kiện nước ta và sản phẩm thịt phi lê đông lạnh có thể
xuất khẩu ra thị trường thế giới với giá cao, cá chẽm đã và đang chứng tỏ loài cá này là
một đối tượng tiềm năng đem lại lợi ích kinh tế cao. Hiện nay đối tượng này đang
được phát triển cả về diện tích cũng như các mô hình nuôi ở nhiều vùng trong cả nước
và có mặt trong danh sách một trong những loài cá biển được nuôi chủ yếu ở nước ta.
Một trong những vật cản thách thức sự phát triển nghề nuôi cá chẽm là dịch bệnh.
Đồng thời với sự phát triển của nghề nuôi cá chẽm, tần số xuất hiện của bệnh trên cá
chẽm ngày càng tăng và những nghiên cứu về bệnh để hạn chế thiệt hại kinh tế cũng
được quan tâm hơn. Với mục đích giúp người dân đưa ra giải pháp phòng trị và giảm
tác hại do bệnh, hoạt động xét nghiệm tác nhân gây bệnh của Trung tâm Giống và
Dịch bệnh thủy sản (CAAHBS) cũng đã thực hiện kiểm tra trên nhiều mẫu cá chẽm
bệnh nuôi ở khu vực Khánh Hòa. Trong các mẫu được kiểm tra đó, bên cạnh các tác
nhân vi khuẩn đã được thông báo từ những nghiên trước như Vibrio, Streptococcus;
một loài vi khuẩn được xác định là Bacillus sp. cũng xuất hiện.
Vi khuẩn Bacillus là nhóm vi khuẩn phân bố phổ biến trong tự nhiên. Nhiều loài
vi khuẩn có lợi thuộc giống này đã được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn cuộc
sống và sản xuất của con người. Một số loài lại là những tác nhân gây bệnh gây những
tác hại nghiêm trọng lên sức khỏe con người và động thực vật. Ở động vật thủy sản, đã
có một vài thông báo bệnh do nhóm vi khuẩn này gây ra: B. cereus gây bệnh hoại tử
mang trên cá chép Cyprinus carpio, trên cá Morone saxatilis [18, 36]; B. mycoides gây
lở loét trên cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus [36]; Bacillus sp. gây bệnh trên cá tra Việt
Nam Pangasius hypophthalmus [31]; tuy nhiên, chưa tìm thấy thông báo nào về bệnh
do vi khuẩn Bacillus sp. gây ra trên cá chẽm. Vì thế, nghiên cứu khả năng gây bệnh


1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá chẽmCá chẽm, còn được gọi là cá
vược, có tên khoa học là Lates
calcarifer. Tên tiếng anh thông dụng
của loài cá này là Asian seabass,
barramundi hay giant seaperch.
Hình 1.1. Cá chẽm Lates calcarifer

Cá chẽm có thân hình thon dài và dẹp bên. Chiều dài thân bằng 2,7 – 3,6 lần
chiều cao. Đầu nhọn, nhìn bên cho thấy phía trên hơi lõm xuống ở giữa và hơi lồi ở
lưng. Miệng rộng và hơi so le, hàm trên kéo dài đến phía dưới sau hốc mắt.
Răng dạng nhung, không có răng nanh, trên nắp mang có gai cứng, vây lưng gồm có 2
vây: vây trước có 7-9 gai cứng và vây sau có 10-11 tia mềm. Vây hậu môn có 3 gai
cứng, vây đuôi tròn và có hình quạt. Vẩy dạng lược và có kích cỡ vừa phải, có 61 vẩy
đường bên. Khi cá còn khoẻ, trên mặt lưng có màu nâu, mặt bên và bụng có màu bạc
khi sống trong môi trường nước biển, màu nâu vàng khi sống trong môi trường nước
ngọt. Khi cá ở giai đoạn trưởng thành sẽ có màu xanh lục hay vàng nhạt trên lưng và
màu vàng bạc ở mặt bụng.
Cá chẽm là loài có khả năng thích ứng rộng với sự thay đổi độ mặn, cá giai đoạn
giống và trưởng thành sống được ở độ mặn từ 0 – 35 ‰ và có thể chịu đựng tốt với sự
thay đổi độ mặn đột ngột. Vì vậy, đây là loài rất thích hợp cho phát triển nuôi cả trong
nước ngọt, nước lợ cũng như nuôi biển [46, 56]. Cá chẽm có thể thích ứng với nhiệt độ
từ 21 – 39
o
C, thích hợp nhất 27 – 30
o
C. Nhiệt độ thay đổi đột ngột 2 – 3

nuôi phổ biến tại Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore và Indonesia; lồng được
làm bằng gỗ, kim loại, hay nhựa PVC đặt ở biển hoặc ngay trong ao nuôi. Hình thức
nuôi cá chẽm trong lồng đem lại lợi nhuận cao hơn so với hình thức nuôi trong ao [56].
Trong khoảng thời gian hơn 4 thập kỷ phát triển, sản lượng và giá trị của cá
chẽm nuôi đã đạt được những con số ấn tượng. Năm 1963, lần đầu tiên FAO thực hiện
việc thống kê về cá chẽm và cho biết sản lượng nuôi đạt 5 tấn tại Thái Lan. Sau hơn
20 năm sau, năm 1984, cá chẽm được thống kê cả về mặt sản lượng và giá trị, tổng sản
lượng 1.646 tấn đạt giá trị xấp xỉ 4,36 triệu đô la Mỹ (USD), đánh dấu mức độ thương
mại của loài cá này. Năm 1990, sản lượng cá chẽm thế giới chạm mốc 10.000 tấn. Từ
năm 1990 cho đến nay, mặc dù có sự biến động tăng giảm theo năm, nhưng xu hướng
chung, sản lượng cá chẽm nuôi thế giới đã có sự gia tăng rõ rệt (hình 1.2). Theo thống
5
kê của FAO, đến năm 2012, tổng sản lượng cá chẽm nuôi thế giới là 75.405,92 tấn,
tăng 573,81% so với năm 1990. Cũng theo thống kê của FAO, 5 quốc gia và vùng lãnh
thổ có sản lượng cá chẽm nuôi cao nhất thế giới gồm Australia, Thái Lan, Malaysia,
Indonesia và Đài Loan. Điều này thể hiện các quốc gia khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương vẫn đang là những quốc gia phát triển mạnh đối tượng này. Hình 1.2. Sản lượng và giá trị cá chẽm nuôi thế giới từ năm 1989 - 2012
(nguồn: FishStat J-FAO)

1.2.2.Tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam
Cá chẽm là một trong 11 loài cá biển được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam [26].
Giống như những loài cá biển khác, nghề nuôi cá chẽm ở Việt Nam có lịch sử phát
triển muộn hơn các loài cá nước ngọt. Không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về thời
gian cá chẽm được nuôi ở Việt Nam, cho đến hiện nay số liệu thống kê mỗi năm về
sản lượng và giá trị cá chẽm xuất khẩu của FAO vẫn chưa có tên Việt Nam. Tuy nhiên,
trên thực tế, nghề nuôi cá chẽm Việt Nam đã được manh nha từ những năm trước năm
2003 khi loài cá này được một số người dân nuôi ở hình thức quảng canh, nguồn giống

hôn mê, cơ thể xuất huyết hay xuất hiện vùng lở loét kèm xuất huyết [3], xoang bụng
tích dịch, đôi khi có hiện tượng xuất huyết ở một số nội quan như gan, thận, lách [52].
Hầu hết các loài Vibrio là những tác nhân thứ cấp, sự bùng phát bệnh liên quan đến
chất lượng nước kém hay stress do hoạt động chăm sóc [34]. Tuy nhiên, V. harveyi và
V. anguilarum lại được xem là các tác nhân chính gây bệnh ở cá chẽm [45].
Bệnh do vi khuẩn Streptococcus (Streptococcosis): Bệnh Streptococcosis trên
cá được gây bởi một nhóm gồm 6 loài liên cầu khuẩn Gram dương, trong đó tác nhân
chính gây bệnh trên cá chẽm là Streptococcus iniae. Bệnh do S. iniae trên cá chẽm
được thông báo từ những năm 80 của thế kỷ 20. Singapore là quốc gia đầu tiên thông
7
báo bệnh, bệnh được thông báo đồng thời với dịch bệnh nghiêm trọng do vi khuẩn này
gây ra trên cá dìa (Singanus canaliculatus) [32]. Trung Quốc là quốc gia thứ hai thông
báo bệnh với tỷ lệ chết từ 16,7- 32,6% [39]. Ở Australia, từ năm 1992, S. iniae đã
gây bệnh vào mỗi mùa hè với thiệt hại khoảng 8-15% sản lượng cá chẽm nuôi lồng
trên biển hàng năm, thậm chí thiệt hại có thể lên 70% khi bệnh bùng phát dữ dội [17].
Vào năm 2003 và 2004, S. iniae cũng đã được thông báo gây tác động nghiêm trọng
đến nghề nuôi cá chẽm ở khu vực phía Nam Thái Lan [59]. Cá chẽm khi cảm nhiễm
với S. iniae thường biểu hiện các dấu hiệu bệnh lý như màu sắc đen tối, mắt cá lồi và
đục, xuất huyết ở các gốc vây và xương nắp mang, dấu hiệu điển hình như: cá vận
động khó khăn, bơi xoắn, không định hướng, xoang bụng tích dịch, xuất huyết các cơ
quan nội quan [16, 59]. Kiểm tra mô học cho thấy các biến đổi rõ rệt trong gan, thận,
lách, tim, mắt và não do phản ứng viêm nghiêm trọng [59]. Bệnh có thể xảy ra ở dạng
cấp tính hay bán cấp tính trong bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình nuôi.
Bệnh “ trướng bụng” (Big belly): Bệnh do loài vi khuẩn Bacillus lưỡng cực, ký
sinh nội bào gây ra. Bệnh đã xuất hiện ở một số nước Đông Nam Á như Indonesia,
Singapore và Malaysia [64]. Đến nay bệnh chỉ được tìm thấy trên cá chẽm. Trong sản
xuất giống nhân tạo, bệnh thường xảy ra sau khoảng 3 tuần ương khi cá có khối lượng
cơ thể từ 0,3-3 g [64] và gây tỷ lệ chết lên đến 80%. Cá nhiễm bệnh thường chuyển
màu đen sậm, bụng căng tròn, phần cơ teo tóp, cá bệnh thường tách đàn, mất thăng
bằng, bơi lờ đờ trên tầng mặt hay tụ dưới đáy. Việc chẩn đoán bệnh thường dựa vào

Nghề nuôi cá chẽm ở Việt Nam cũng như trên thế giới ngày càng phát triển,
đồng thời với sự mở rộng diện tích và gia tăng hiệu suất nuôi, những bệnh nhiễm
khuẩn như vibriosis, streptococcosis, columnaris… có tần suất xuất hiện cũng dày
hơn. Việc sử dụng kháng sinh để kiểm soát bệnh do vi khuẩn là một phương pháp
truyền thống, tuy nhiên bên cạnh hiệu quả chữa trị thì việc sử dụng kháng sinh còn có
những bất lợi như có thể để lại dư lượng trong cá, gây khó khăn trong tiêu thụ hay kéo
theo những mối nguy hại trực tiếp cho môi trường và cho sức khỏe con người khi hiện
tượng kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, các biện pháp
phòng bệnh được xem là giải pháp “khôn ngoan” để có được một vụ nuôi thành công.
Vaccine, chế phẩm vi sinh là những công cụ phòng bệnh hữu ích. Việc sử dụng
vaccine trên cá chẽm còn hạn chế bởi chưa có nhiều sản phẩm vaccine được sản xuất
nên sử dụng chế phẩm vi sinh để tăng cường sức khỏe vật nuôi và kiểm soát môi
trường là biện pháp được sử dụng phổ biến hiện nay.
Một số chế phẩm vi sinh có thành phần là các loài vi khuẩn Bacillus kết hợp với
một số lợi khuẩn khác. Các loài Bacillus có thể được đưa vào cơ thể vật nuôi để cạnh
tranh với tác nhân gây bệnh [30] hay được đưa vào môi trường nuôi nhằm giúp quản
9
lý chất lượng nước, xử lý chất thải, giảm lượng vật chất hữu cơ và hàm lượng
ammonium trong ao nuôi trồng thủy sản [22]. Bằng con đường này, các loài vi khuẩn
Bacillus trở thành vi sinh vật đông đúc trong ao nuôi. Tuy nhiên, một số loài Bacillus
hiện diện trong môi trường nuôi có chứa độc lực và đã được thông báo là những tác
nhân gây bệnh cho động vật thủy sản.
1.4. Một số đặc điểm của nhóm vi khuẩn Bacillus và tổng quan bệnh do vi khuẩn
Bacillus gây ra.
1.4.1.Đặc điểm của nhóm vi khuẩn Bacillus.
Bacillus là nhóm những vi khuẩn hình que có khả năng hình thành nội bào tử
trong điều kiện hiếu khí [37]. Nhóm vi khuẩn này rất đa dang gồm sự tập hợp của hơn
60 loài [13, 50] , được chia thành 5 hoặc 6 nhóm căn cứ vào đặc điểm kiểu hình và
kiểu gen 16S rDNA [50]. Các loài thuộc Bacillus có thể được định danh dựa theo đặc
điểm hình thái bào tử kết hợp các đặc điểm sinh hóa theo phương pháp của Gordon,

thường sinh bào tử sau 48 h nuôi cấy trên môi trường thạch [33]. Bào tử hình ellip,
nằm ở trung tâm hay gần trung tâm tế bào, không gây phình to tế bào [37, 47]. Vi
khuẩn sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ 10-48
o
C, tối ưu 28-35
o
C; sinh trưởng tốt
trong các môi trường TSA, TSB, BA. Khuẩn lạc có đường kính 3-8 mm, mép không
đều, tạo vòng dung huyết β khi nuôi cấy trên môi trường thạch máu [57]. Một số phản
ứng đặc trưng của B. cereus gồm các phản ứng catalase và Voges- Proskauer (VP)
dương tính; không lên men đường manitol và arabitose [21, 48].
Bacillus cereus hiện diện phổ biến trong tự nhiên, có thể tìm thấy trong trầm
tích, đất, bụi, thực vật và cả trong những môi trường sản xuất thực phẩm [57] . Nhiều
nghiên cứu đã phân lập Bacillus cereus từ các loại thức ăn và nguyên liệu khác nhau
như gạo, sữa, ngũ cốc. Theo Blakey và Priest (1980) 56% mẫu các loại đậu và ngũ
cốc có chứa vi khuẩn B. cereus từ 1x10
2
đến 6x10
4
tế bào/g, vi khuẩn có thể gia tăng
lên đến 10
7
tế bào/g ở quy trình nấu nướng thông thường [15]. Ankolekar và CTV.
(2009) thông báo 52,8% của các mẫu gạo có chứa bào tử Bacillus với mật độ trung
bình là 32,6 CFU/g; 83 chủng trong 94 chủng được định danh là B. cereus và 11 chủng
được định danh là B. thuringiensis [10].
Bacillus cereus được xem là tác nhân gây bệnh cho người. Bệnh nhiễm khuẩn
do vi khuẩn B. cereus được chia thành 6 dạng: (1) nhiễm khuẩn cục bộ trên da, mắt
sau khi các cơ quan này bị tổn thương hay sau phẫu thuật; (2) nhiễm trùng máu; (3)
nhiễm khuẩn hệ thống thần kinh trung ương; (4) nhiễm khuẩn đường hô hấp; (5)

Theo Austin, 1999 vi khuẩn Bacillus spp. được xem là một trong những tác
nhân mới, gây bệnh cho các loài động vật thủy sản [11]. Nhóm tác nhân gây bệnh này
đã được ghi nhận là nguyên nhân gây bệnh cho một số loài cá nước ngọt và nước mặn
ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Oladosu và CTV. (1994) [11] thông báo vi khuẩn hình que, Gram (+), có kích
thước 1-4 µm, được nhận định là Bacillus sp., là nguyên nhân bùng nổ bệnh gây chết
10-15% các loài cá Clarias carpis, Clarias gariepinus, Clarias nigrodigitatus,
12
“Heteroclarias” và Heterobanchus bidorsalis ở các ao vùng phía Đông Nigeria trong
khoảng thời gian từ 1989-1991. Cá bệnh thường ốm yếu, hôn mê, da bị viêm và hoại
tử, hiện tượng chết xảy ra sau vài ngày có dấu hiệu bệnh. Giải phẫu bên trong xoang
bụng quan sát có hiện tượng tích dịch màu máu nhạt, gan và thận có những đốm hoại
tử, xuất huyết; lách gia tăng kích thước, mềm, dễ vỡ; cơ tim mềm, nhũn; dạ dày xung
huyết. Tại vùng da lở loét có sự hiện diện của Aeromonas và Flavobacterium
columnare.
Baya và CTV. (1992) thông báo B. cereus là tác nhân được tìm thấy ở cá
Morone saxatilis bị hoại tử mang, vi khuẩn này có thể gây chết cho cá Morone
saxatilis khỏe khi tiêm 10
7
tế bào/cá [36]. Pynchynski và CTV. (1981) cũng đã thông
báo B. cereus xuất hiện trên cá chép Cyprinus carpio bị hoại tử mang [18, 36].
Goodwin và CTV. (1994) [36] thông báo bệnh do Bacillus mycoides gây ra trên
cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus nuôi thương phẩm ở Alabana, Mỹ vào năm 1992. Cá
nhiễm bệnh có màu sắc đen tối, bỏ ăn. Cá chết hay hấp hối biểu hiện vùng da tái nhạt
trên lưng, vùng cơ dưới da đục, một số cá có vết loét tại vùng da đã chuyển màu bất
thường. Kiểm tra mô học cho thấy trong cơ cá bệnh có chứa chuỗi vi khuẩn hình que
Gram (+). Khi thử nghiệm cảm nhiễm bằng phương pháp tiêm cơ, vi khuẩn đã gây lở
loét cho cá khỏe ở nồng độ 1,6 x 10
4
CFU/cá.

14
Chương II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Bacilus sp. gây ra trên cá
chẽm Lates calcarifer.
Thời gian nghiên cứu: Từ 12/2013 đến 7/2014
Địa điểm nghiên cứu:
- Thu mẫu bệnh tại các địa điểm nuôi cá chẽm ở Khánh Hòa
- Phân tích mẫu cá bệnh; phân lập vi khuẩn, thí nghiệm cảm nhiễm và kiểm tra
mô bệnh học được thực hiện tại phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Giống và Dịch
bệnh thủy sản, trường đại học Nha Trang.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu.

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Kiểm tra
biến đổi
mô học
15
2.2.2. Phương pháp thu mẫu
Mẫu cá phân tích được thu trực tiếp từ các ao, lồng nuôi cá chẽm đang bị bệnh
trong địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Mẫu được vận chuyển sống trong túi có bơm ôxy hay
được vận chuyển lạnh trong những túi riêng biệt khi đưa về phòng thí nghiệm.
Từ kết quả phân lập vi khuẩn trên cá chẽm bệnh nuôi ở Vạn Ninh; các mẫu thức
ăn ở cơ sở nuôi này được thu, đóng gói trong túi sạch, ký hiệu mẫu và gửi về phòng thí
nghiệm để kiểm tra các chỉ tiêu vi khuẩn. Các mẫu thức ăn được kiểm tra là những
mẫu thức ăn công nghiệp dạng viên đã được sử dụng cho các đàn cá chẽm bệnh còn
lưu mẫu tại cơ sở nuôi hay các mẫu từ các lô thức ăn sẽ được sử dụng cho các đàn cá
chẽm nuôi.
2.2.3. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng
Để thực hiện các nội dung trong luận văn, một số phương pháp nghiên cứu bệnh
ở động vật thủy sản được thực hiện:
- Phương pháp phân lập vi khuẩn ở cá bệnh
- Phương pháp cấy hộp trải xác định vi khuẩn trong thực phẩm
- Phương pháp xác định độc lực.
- Phương pháp nghiên cứu mô bệnh học
- Phương pháp nhuộm Gram trên lát cắt mô
- Phương pháp xác định độ nhạy kháng sinh của vi khuẩn
2.2.3.1. Phương pháp kiểm tra các tác nhân gây bệnh
Quan sát, ghi nhận các dấu hiệu bệnh lý bên ngoài,
Kiểm tra ký sinh trùng ngoại và nội ký sinh theo phương pháp của Bùi Quang Tề
(2006) [6] để xác định sự hiện diện của ký sinh trùng trên cơ thể cá.
Kiểm tra virus gây bệnh Viral Nervous Necrosis và Irido virus bằng kit kiểm tra
nhanh VNN, GIV của Rega Bio (Đài Loan).
Phương pháp phân lập vi khuẩn ở cá bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status