Kiến thức lớp 10
"Đại cáo bình Ngô" - Nguyễn Trãi –phần6
Thể loại
Cáo là thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc xưa. Cáo
được chuyên dùng để vua công bố việc lớn với muôn dân.
Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo vốn là tên gọi một bài
cáo cổ xưa nhất của Trung Quốc để thay lời Lê Lợi công
bố cuộc bình Ngô thắng lợi với thiên hạ.
Cáo thường hay dùng văn biền ngẫu. Văn biền ngẫu còn
gọi là “biền văn”, “biền lệ văn” hoặc “văn tứ lục” (biền là
ngựa đi sóng đôi ; ngẫu là đôi, cặp). Văn biền ngẫu có
năm đặc điểm :
Ngôn ngữ đối ngẫu : các vế đối nhau theo bằng trắc, từ
loại ;
Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ
đối với câu 6 chữ hoặc câu 4/4 và câu 6/6 đối nhau ;
Có vần điệu, bằng trắc hài hoà ;
Sử dụng điển cố ;
Sử dụng từ ngữ bóng bẩy có tính phô trương.
Trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi còn có loại
câu 5 chữ, 7 chữ, 10 chữ, 14 chữ rất đa dạng.
2. Tác giả
(1464), vua Lê Thánh Tông mới giải oan cho ông.
Những tác phẩm văn chương của Nguyễn Trãi còn lại với
chúng ta ngày nay rất phong phú : Ức Trai thi tập, Quốc
âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập, đặc biệt là Bình
Ngô đại cáo một áng thiên cổ hùng văn, bản Tuyên ngôn
độc lập thứ hai của nước ta (sau bài Nam quốc sơn hà).
3. Bố cục
Bài cáo gồm năm đoạn :
Đoạn 1 (từ Từng nghe đến Chứng cớ còn ghi) : Nêu luận
đề chính nghĩa.
Đoạn 2 (từ Vừa rồi đến …thần nhân chịu được ?) : Tố
cáo tội ác của giặc.
Đoạn 3 (từ Ta đây đến …lấy ít địch nhiều.) : Lãnh tụ và
nghĩa quân trong buổi đầu dấy nghiệp.
Đoạn 4 (từ Trọn hay đến …chưa thấy xưa nay) : Quá
trình kháng chiến đi đến thắng lợi.
Đoạn 5 (phần còn lại) : Tuyên bố hoà bình, khẳng định ý
nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
4. Đọc hiểu
Có thể nói : Bình Ngô đại cáo là bản Tuyên ngôn độc lập
lần thứ hai của dân tộc ta sau Nam quốc sơn hà. Nhưng
nó là bản Tuyên ngôn độc lập hùng tráng nhất thời kì
trung đại. Nguyễn Trãi viết Bình ngô đại cáo vào giữa lúc
niềm vui của cá nhân hoà chung niềm vui lớn của dân tộc.
Tất cả đều mặc nhiên "vốn có" : từ núi sông vốn đã phân
định rạch ròi đến "phong tục Bắc Nam cũng khác". Rõ
ràng ta có đủ chủ quyền đất nước bởi từ cương vực lãnh
thổ, phong tục tập quán đến nền văn hoá, rồi lịch sử, rồi
chế độ ta đều độc lập đứng trên một cái thế đối vững vàng
cùng với nền văn minh phương Bắc. So với Nam quốc
sơn hà thì Bình Ngô đại cáo thực sự là một bước tiến dài
của Nguyễn Trãi trong việc hoàn chỉnh khái niệm về quốc
gia, về dân tộc. Không có minh chứng nào thuyết phục
hơn cho nguyên lí nhân nghĩa bằng chính "chứng cứ còn
ghi" trong lịch sử. Sự thất bại của Triệu Tiết, Toa Đô, Ô
Mã làm tiêu vong những thế lực phi nghĩa. Cũng đồng thời
khẳng định chiến thắng luôn đứng về những người đấu
tranh cho chính nghĩa. Cách lập luận của Nguyễn Trãi thật
hoàn thiện và cũng đầy sắc sảo.
4.2. Lòng căm thù lũ giặc bất lương, tàn bạo
Cũng như đoạn văn trên, đoạn kể tội quân thù cũng ngắn
nhưng sắc sảo. Một bản cáo trạng đanh thép được viết
lên từ một lòng căm thù sục sôi.
Đoạn văn mở đầu, tác giả chỉ rõ :
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Nguyễn Trãi đã vạch trần âm mưu xâm lược của giặc. Lợi
dụng việc Hồ Quý Li cướp ngôi nhà Trần, giặc Minh đã
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được ?
Tội ác của giặc Minh đã vượt qua cái giới hạn của lẽ trời.
Hành động nhơ bẩn của chúng khiến cả thần và người
đều không thể tha thứ.
Đứng trên lập trường nhân nghĩa, đoạn văn là máu, là
nước mắt, thể hiện sự căm hận sục sôi của Nguyễn Trãi
đối với kẻ thù.
4.3. Âm điệu hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc
trong cuộc kháng chiến chống quân Minh
Tác giả tái hiện hình tượng người anh hùng Lê Lợi và
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu gian khó :
Ta đây :
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình
Nhưng cái lớn ở Lê Lợi chính là lòng căm thù giặc sâu
sắc. Từ đó mà cái chí của người anh hùng là "tấm lòng
cứu nước" như con thuyền lúc nào cũng "đăm đăm muốn
tiến về Đông". Cái chí khí ấy lại được rèn đúc qua những
tháng ngày "quên ăn vì giận" để rồi ngay cả trong cơn
mộng mị vẫn băn khoăn một nỗi niềm cứu nước. Hình ảnh
Lê Lợi vì thế mà đã trở thành biểu tượng tập trung của
lòng yêu nước, căm thù giặc "thề không cùng sống".
mà thay vào cường bạo). Câu văn trong nguyên tác thật
sâu xa. Cái ác phải bị đổi thay và cái thiện, cái chính
nghĩa phải làm cho cái ác phải đổi thay tận gốc.
Đoạn văn được viết sau nguyên lí nhân nghĩa là một đoạn
hả hê, sảng khoái. Tiết tấu, âm điệu câu văn dồn dập, ồn
ào như tiếng thác. Sự thay đổi đột ngột đó phù hợp với cái
khí thế của quân ta đang lên như gió bão. Đoạn văn gợi
hình dung toàn cảnh về những ngày tháng cả dân tộc
sống trong không khí của sử thi. Những chiến thắng của
nghĩa quân liên tiếp như "sấm vang chớp giật", như "trúc
chẻ tro bay" Theo đó thì sự thất bại của quân thù là tất
yếu : "máu chảy thành sông tanh trôi vạn dặm", "thây chất
đầy nội ; nhơ để ngàn năm". Hàng loạt những động từ
mạnh kết hợp với nhạc điệu dồn dập, nhịp văn gấp gáp,
hối hả gợi đầy đủ cái khí thế ào ào như vũ bão. Chính
nghĩa lướt qua gian tà để cuốn phăng ra bể tất cả những
tàn bạo, nhuốc nhơ.
Những mốc thời gian :
Ngày mười tám
Ngày hai mươi
Ngày hăm lăm
Ngày hăm tám
những cái "danh" không thể giấu nổi sự hèn nhát và nhục
nhã : Trần Trí, Sơn Thọ, Lí An, Phương Chính, Vương
Thông, Mã Anh Tất cả làm nên một khung cảnh chiến
trường tuy hỗn độn nhưng thế chủ động hoàn toàn đã
Một áng "thiên cổ hùng văn" kết hợp hài hoà cái tinh tuý
cá nhân và thời đại. Bằng một bút lực tuyệt vời, Nguyễn
Trãi đã tự bất tử hoá tác phẩm của mình, biến nó thành
một tác phẩm "vô tiền mãi mãi là bài ca giáo dục truyền
thống yêu nước của dânkhoáng hậu" tộc Việt Nam.
* Liên hệ
1. Cáo là hình thức văn chính luận, nên phải phản ánh
được nội dung chính trị quy định một cách chặt chẽ,
nhưng bài đại cáo này lại được Nguyễn Trãi viết theo thể
tứ lục biến cách với đặc tính gợi tả qua nhiều hình tượng
sinh động, và âm thanh phong phú, khiến cho bài văn có
đoạn trầm hùng của khí thế xung trận, lại có đoạn lắng
đọng trong niềm xúc cảm của tâm can Nếu nói rằng tư
tưởng chủ đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là tư tưởng
"đánh vào lòng người" (tư tưởng "tâm công"), thì nghệ
thuật bài đại cáo này cũng đạt đến trình độ "đi vào lòng
người", đi vào tình cảm cao quý nhất của con người đất
Việt, tình cảm yêu nhân nghĩa, yêu hoà bình qua sắc thái
của ngôn từ. Đúng như Võ Khâm Lân, một nhân sĩ ở thế
kỉ XVII, đã nhận xét, bài đại cáo này quả là "một áng thiên
cổ hùng văn" (một bài văn có lời sắc bén vốn có xưa nay),
nó là sự kết tinh của bút pháp anh hùng ca với bút pháp
trữ tình, là sự nhuần nhuyễn giữa yếu tố chính trị với yếu
tố nghệ thuật.
Tất nhiên, trong áng hùng văn này, chúng ta cũng phải
loại trừ một vài chi tiết mà ngày nay, có thể coi là chưa
tập thể của toàn thể nhân dân ta dưới sự chỉ đạo tuyệt vời
của lãnh tụ Lê Lợi. Nói như thế không có nghĩa là làm
giảm giá trị của Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô mà
chính là đặt ông vào vị trí cao nhất trong lịch sử văn học
Việt Nam.
Nhà thơ chân chính của dân tộc không bao giờ chỉ là một
con người ấp ủ và thổ lộ những tâm tư thầm kín của riêng
mình. Nhà thơ chân chính phải là người ngày đêm sống
với những lo âu, hoài bão và ý chí của dân tộc, để từ đó
kết tinh lại trong tâm hồn và tác phẩm của mình những gì
đẹp nhất, lớn nhất, sâu nhất của dân tộc. Nguyễn Trãi là
nhà thơ như thế và chính ông là người đã nêu cao truyền
thống ấy của những nhà thơ chân chính ở Việt Nam.
Đại cáo bình Ngô là một tác phẩm vừa văn học vừa khoa
học. Nó phân tích ta là ai, địch là ai, vì sao ta kiên cường
chiến đấu, vì sao dân tộc ta luôn luôn chiến thắng và
muôn đời bất diệt.
Đại cáo bình Ngô là tấm gương soi của đất nước Việt
Nam, của con người Việt Nam. Nó là bản anh hùng ca về
ý nghĩ, thái độ và việc làm của toàn thể nhân dân ta suốt
đời này qua đời khác. Nó là tiếng vọng của ngàn xưa cho
đến mai sau, mãi mãi nói lên rằng chúng ta, những người
Việt Nam, chúng ta đã sống như thế, đang sống như thế
và sẽ sống như thế.
Đại cáo bình Ngô chính là bản tuyên ngôn về lẽ sống của
chúng ta.