MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC HÌNH ii
MỞ ĐẦU 1
KHÁI QUÁT CHUNG 5 CHƯƠNG 1:
1.1. Khái quát chung về đầu tư quốc tế 5
1.1.1. Khái niệm và phân loại 5
1.1.2. Môi trường đầu tư quốc tế 7
1.2. Khái quát tình hình thu hút FDI của Việt Nam và Thái Lan 8
1.2.1. Tình hình thu hút FDI của Việt Nam 8
1.2.2. Tình hình thu hút FDI của Thái Lan 11
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 CHƯƠNG 2:
2.1. Khái quát chung về mô hình PEST 14
2.2. Phân tích các yếu tố trong mô hình PEST 14
2.2.1. Political: các yếu tố thể chế- luật pháp 17
2.2.2. Economic: các yếu tố Kinh tế 17
2.2.3. Social: các yếu tố văn hóa xã hội 18
2.2.4. Technological: yếu tố công nghệ 19
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21 CHƯƠNG 3:
3.1. So sánh môi trường đầu tư Thái Lan – Việt Nam theo mô hình PEST 21
3.1.1. Political/Chính trị: 21
3.1.1.1. Chính sách thuế, pháp luật của Việt Nam và Thái Lan 21
3.1.1.2. Cơ cấu, tổ chức Nhà nước và chính sách ngoại giao và tình hình chính
trị 24
3.1.1.3. Phương hướng thu hút FDI 27
3.1.1.4. Thủ tục hành chính 28
3.1.1.5. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư 28
3.1.2. Economic/Kinh tế 30
3.1.2.1. Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng 30
3.1.2.2. Tăng trưởng kinh tế 33
Bảng 3.7: Chính sách tỷ giá Việt Nam – Thái Lan giai đoạn 2003-2012 36
Bảng 3.8: Hiệu quả của các thị trường của Việt Nam và Thái Lan 37
Bảng 3.9: Các tiêu chí về y tế, giáo dục của Việt Nam và Thái Lan 39
Bảng 3.10: Chính sách R&D của Thái Lan và Việt Nam 41
Bảng 3.11: Số bằng phát minh sáng chế của Việt Nam, Thái Lan và các khu vực trên thế
giới 42
Bảng 3.12: Tính sẵn sàng tiếp nhận công nghệ và tính tiên phong của Việt Nam – Thái
Lan 44
Bảng 3.13: Mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh Việt Nam – Thái Lan (2013-
2014) 46 ii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Môi trường đầu tư quốc tế 8
Hình 1.1: Tình hình thu hút FDI của Việt Nam và Thái Lan (1997-2012) 13
Hình 3.1: Xếp hạng Chỉ số hòa bình Việt Nam – Thái Lan giai đoạn 2007-2013 26
Hình 3.2: Chỉ số tham nhũng Việt Nam – Thái Lan (2007-2013) 27
Hình 3.3: Tốc độ phát triển GDP Việt Nam – Thái Lan (2007-2013) 33
Hình 3.4: Chu kỳ kinh doanh của các quốc gia trên thế giới năm 2012 34
Hình 3.5: Tỷ giá của các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong khủng hoảng Châu Á
1997 35
Hình 3.6: Tỷ lệ lạm phát Việt Nam – Thái Lan (2007-2012) 37
Hình 3.7: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam – Thái Lan (2007-2012) 38
Hình 3.8: So sánh các tiêu chí ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của Việt Nam – Thái
Lan 45
1
MỞ ĐẦU
Nghiên cứu tiến hành xem xét tác động tổng thể của FDI, nghiên cứu môi trường vĩ mô
của Thái Lan. Từ đó, tác giả tổng hợp và rút ra các bài học kinh nghiệm của Thái Lan,
đưa ra khuyến nghị về chiến lược thu hút FDI cho các quốc gia khác.
Mashida Ishida trong nghiên cứu “Attracting FDI: Experience of East Asian
Countries” (2012) đã tìm hiểu về tình hình thu hút FDI của các quốc gia trong khối
ASEAN và Trung Quốc, từ đó rút ra kinh nghiệm của từng nước. Đầu tiên, tác giả tiến
hành tìm hiểu, đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của FDI, sự khác nhau trong chính
sách thu hút FDI trước và sau những năm 80 ở trong khu vực ASEAN. Trước những năm
80, chính phủ các nước này chưa có nhiều chính sách thu hút FDI, thậm chí sự lo ngại
trước sự ảnh hưởng của hàng hóa do các công ty nước ngoài sản xuất gây sức ép khiến
chính phủ các nước này tiến hành bảo hộ cho thị trường nội địa. Tuy nhiên, sau những tác
động tích cực mà FDI mang lại cho nước nhận đầu tư, các quốc gia này đã có những thay
đổi về tầm nhìn, định hướng và tiến hành bãi bỏ các hạn chế và xây dựng các chính sách
thu hút FDI phù hợp cho quốc gia mình. Nghiên cứu đã chỉ ra bài học của các nước như
Malaysia, Thái Lan, Indonesia trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI, những
tác động tích cực, tiêu cực mà FDI mang lại cho các quốc gia này.
Về vấn đề chính trị của Thái Lan, tác giả Jean Dautrey đã đề cập sâu đến vấn đề
này trong nghiên cứu “Foreign Direct Investment and Thailand’s Color-coded Politics:
The Thai Paradox - Will it Endure?” Tác giả tập trung phân tích tình hình chính trị ở
Thái Lan, xem xét tác động từ những bất ổn chính trị của Thái Lan đối với kinh tế của
nước này, trong đó có ảnh hưởng đến việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI của Thái
Lan trong bối cảnh cạnh tranh nguồn vốn gay gắt với các quốc gia khác như thế nào.
Tác giả Abdullah Kaid Al-Swidi của School of Quantitative Science, College of
Arts and Sciences, University Utara Malaysia trong nghiên cứu “Some Reflections on
Foreign Direct Investment Flows and the Viet Nam’s Economy” đã xem xét các xu
hướng, mô hình đầu tư trực tiếp FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2011 trong bối
3
cảnh ASEAN. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã phân tích các thông số và đánh giá môi
trường kinh doanh ở Việt Nam, đưa các chính sách thu hút FDI tương lai.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu gồm các nội dung chính:
Chương 1: Khái quát chung: chương này đề cập đến các khái niệm chung nhất
về đầu tư quốc tế, đầu tư trực tiếp quốc tế và các hình thức của nó, môi trường đầu tư
quốc tế và đề cập đến thực trạng thu hút FDI của Thái Lan và Việt Nam.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu: chương này đề cập đến phương pháp được
đề tài sử dụng để phân tích môi trường đầu tư của Thái Lan và Việt Nam là mô hình
PEST.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu: dựa trên mô hình PEST, chương này xây dựng
hệ thống các chỉ sổ để phân tích cụ thể các yếu tố trong mô hình, đưa ra các nhận định và
so sánh về môi trường đầu tư của hai nước Thái Lan - Việt Nam.
5
KHÁI QUÁT CHUNG CHƯƠNG 1:
1.1. Khái quát chung về đầu tư quốc tế
1.1.1. Khái niệm và phân loại
“Đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai…
vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu
lợi nhuận” (Phùng Xuân Nhạ, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam lý luận và thực
tiễn, tr18). Trong đó, người bỏ tài sản được gọi là nhà đầu tư/chủ đầu tư. Chủ đầu tư có
thể là cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước.
Đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di
chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư
nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia. Về bản chất, đầu tư quốc tế là hình thức xuất
nhập khẩu vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đầu tư nước ngoài mang đầy đủ đặc trưng của
đầu tư nói chung song có một số điểm khác biệt: chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài,
Ban Nha.
- Mua lại và sáp nhập (M&A): Mua lại (acquisitions) là việc đầu tư hay mua trực
tiếp một công ty đang hoạt động hay cơ sở sản xuất kinh doanh. Sáp nhập (merge) là một
dạng đặc biệt của mua lại mà trong đó hai công ty sẽ cùng góp vốn chung để thành lập
một công ty mới và lớn hơn. Sáp nhập là hình thức phổ biến hơn giữa các công ty có
cùng quy mô bởi vì họ có khả năng hợp nhất các hoạt động của mình trên cơ sở cân bằng
tương đối. Giống như liên doanh, sáp nhập có thể tạo ra rất nhiều kết quả tích cực, bao
gồm sự học hỏi và chia sẻ nguồn lực giữa các đối tác với nhau, tăng tính lợi ích kinh tế
của quy mô, giảm chi phí bằng cách loại bỏ những hoạt động thừa, các chủng loại sản
phẩm, dịch vụ bán hàng rộng hơn và sức mạnh thị trường lớn hơn. Sự sáp nhập qua biên
giới cũng đối mặt với nhiều thách thức do những sự khác biệt về văn hóa, chính sách
7
cạnh tranh, giá trị doanh nghiệp và phương thức hoạt động giữa các quốc gia. Sự thành
công đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, lập kế hoạch và những cam kết trước chắc chắn
Theo tính chất chủ sở hữu thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được chia ra các hình
thức: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác
kinh doanh, hợp đồng BOT (xây dựng - khai thác - chuyển giao), công ty cổ phần có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, công ty mẹ - con, M&A, chi nhánh công ty nước ngoài.
Ngoài các hình thức trên, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tham gia các hình
thức thâm nhập thị trường không nắm vốn chủ sở hữu như: nhượng quyền (Franchising),
cấp phép (Licensing), thuê ngoài (Outsourcing).
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (thường được viết tắt là FPI - Foreign Portfolio
Investment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài
sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham
gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp như trong hình thức đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện qua nhiều hình thức
như: Quỹ vốn đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư cổ phần quốc tế, biên lai người gửi của Mỹ
hoặc quốc tế, trái khoán chuyển đổi hoặc có đảm bảo bằng cổ phiếu.
1.1.2. Môi trường đầu tư quốc tế
thuận lợi của nước đầu tư; ảnh hưởng của thuế đến hoạt động kinh doanh; những điều
kiện để được miễn giảm thuế; chất lượng nguồn nhân lực và chi phí lương.
Việc nghiên cứu môi trường đầu tư phải phản ánh được các khía cạnh khác nhau
của môi trường gồm: chính trị - xã hội, môi trường văn hóa, môi trường pháp lý và hành
chính, môi trường kinh tế, môi trường lao động, môi trường quốc tế.
1.2. Khái quát tình hình thu hút FDI của Việt Nam và Thái Lan
Theo báo cáo của Cơ quan Liên hợp quốc về đầu tư và thương mại (UNCTAD,
2012) cho biết năm 2012 có khoảng 1.300 tỷ USD vốn FDI được luân chuyển trên toàn
cầu và dự báo năm 2013 đạt khoảng 1.400 tỷ USD và 1.600 tỷ USD trong năm 2014.
Điều đó cho thấy rõ sự phát triển ngày càng mạnh của nguồn vốn FDI và vai trò của nó
trong quá trình đầu tư của các nước trên thế giới. Trong những năm qua, các nước đang
phát triển coi thu hút FDI là một trong những chiến lược ưu tiên hàng đầu trong phát triển
kinh tế.
1.2.1. Tình hình thu hút FDI của Việt Nam
9
Ở Việt Nam, trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng FDI vào Việt Nam còn
nhỏ. Đến năm 1991, tổng vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô la Mỹ. Tuy nhiên,
con số FDI đăng kí đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh vào năm 1996 với tổng số vốn đăng
kí lên đến 8,6 tỷ đô la mỹ. Có sự tăng mạnh mẽ của FDI là do trong thời kì đổi mới, Việt
Nam thực sự là một thị trường tiềm năng với lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công
rẻ… Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hơn một thập kỷ qua có thể được nhìn nhận qua 2
giai đoạn với hai xu hướng phát triển khác biệt với mốc là năm 1996. Giai đoạn trước
năm 1996, đầu tư trực tiếp nước ngoài liên tục gia tăng cả về số dự án và vốn đầu tư, đạt
mức kỷ lục là 8,6 tỷ USD về tổng số vốn đăng ký vào năm 1996. Trong giai đoạn này tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng
50%/năm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng đáng kể từ mức 37 dự án với tổng số vốn
đầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1998 lên 326 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký
8640 triệu USD năm 1996.
Kể từ năm 1997 đến nay và đặc biệt là kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền
công nghiệp mới ở Đông Á và ASEAN thường tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ,
chế biến thực phẩm và xây dựng khách sạn.
Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả vốn đăng ký và vốn thực hiện) vào
nước ta đã giảm đáng kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực mà lớn nhất
là từ các nước châu Á như: Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Malaixia, Thái
Lan và Đài Loan – đây là những nước chiếm tỉ trọng lớn về đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam. Tổng số vốn đầu tư giải thể giai đoạn 1997 - 2000 khoảng 5,26 tỷ USD so với 2,69
tỷ USD của 8 năm trước đó cộng lại. Tuy nhiên, kể từ năm 2000, vốn đầu tư trực tiếp của
Đài Loan và Nhật Bản đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Bù vào sự giảm sút về vốn đầu tư
trực tiếp của các nước châu Á, những năm qua các nước châu Âu như: Anh, Hà Lan, Liên
bang Nga đã tăng vốn đầu tư trực tiếp ở Việt Nam.
Đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành như ngành công nghiệp chế
tạo, dầu khí, xây dựng khách sạn, văn phòng và nhà cho thuê, phát triển cơ sở hạ tầng.
Tính đến hết năm 2000, tổng số vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt khoảng 20 tỉ USD,
11
trong đó ngành công nghiệp đạt gần 11 tỷ USD (chiếm 54,8% tổng số vốn thực hiện),
ngành xây dựng đạt 2,1 tỷ USD (chiếm 10,7%), ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt
1,3 tỷ USD (chiếm 6,5%) và ngành dịch vụ đạt 5,6 tỷ USD (chiếm 28%). Các ngành có tỷ
lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký đạt trên 50% như: tài chính - ngân hàng, nông - lâm
nghiệp, dầu khí, công nghiệp nặng và công nghiệp chế biến. Các ngành khác có tỷ lệ vốn
thực hiện đạt từ 30- 40% .
Giai đoạn 2000-2007: Nhìn chung, trong giai đoạn này lượng FDI vào Việt Nam
tăng mạnh và đạt kỉ lục vào năm 2007 với tổng số vốn đầu tư đăng kí là 21,3 tỷ USD, vốn
thực hiện đạt 8,03 tỷ USD. Năm 2006 cả nước có 797 dự án được cấp giấy phép với tổng
vốn đầu đăng ký hơn 7,6 tỷ USD, tăng 60,8% về vốn đầu tư đăng ký so với cùng kì năm
trước. Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án đạt 9,4 triệu USD/dự án, cao hơn quy
mô bình quân của năm 2005 (4,6 triệu USD/dự án). Xuất hiện hàng loạt các dự án có quy
mô đầu tư lớn do các tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư công ty thép 1,126 tỷ USD, công ty
TNHH Intel Products Việt Nam: 1 tỷ USD; công ty công ty TNHH thép Tycoon Steel
FDI, tương đương 18 tỷ USD. Đây là con số kỷ lục về lượng vốn FDI mà nước này đạt
được từ trước đến nay. Cao hơn rất nhiều so với con số 8.5 tỷ USD năm 2011 tức là năm
2012 vốn FDI đã tăng 116% so với năm trước đó.
Năm 2012, đã có thêm 336 công ty nước ngoài được phép đầu tư vào Thái Lan.
Các công ty này đã tạo ra thêm được 9000 lao động Thái và tăng 168% so với cùng kỳ
năm 2011. Xét về giá trị đầu tư cũng tăng lên 55% so với cùng kỳ của năm trước.
Trong ba quý của năm 2013, BOI (Ủy ban đầu tư Thái Lan) đã cấp phép cho 351
dự án của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, với giá trị lên tới hơn 19 tỷ Baht. Tổng số vốn
FDI thu hút trong ba quý đầu năm 2013 đạt 757 tỷ Baht. Dịch vụ và tiện ích công cộng
vẫn là những ngành công nghiệp có giá trị đầu tư cao nhất trong năm 2013, sau đó là sắt
thép, máy móc, thiết bị vận tải. Nhật Bản vẫn là nước có đầu tư lớn nhất đầu tư vào Thái
Lan.
13 Đơn vị: tỷ USD (Nguồn: Worldbank)
Hình 1.1: Tình hình thu hút FDI của Việt Nam và Thái Lan (1997-2012)
Có thể thấy, mức độ thu hút FDI của Thái Lan luôn cao hơn so với Việt Nam trong
những năm qua. Tuy có những năm bị sụt giảm nhưng Thái Lan nhanh chóng lấy lại
phong độ và trở thành một điểm sáng đầu tư ở ASEAN theo nhận định của các chuyên
gia kinh tế.
0
2
4
6
8
10
12
1997199819992000200120022003200420052006200720082009201020112012
15
Political/Thể chế - luật pháp
Economic/Kinh tế
- Environmental regulations
- Tax Policies/ Chính sách thuế
- International trade regulations/ chính sách thương mại
quốc tế
- Contract enforcement laws/ mức độ thực hiện hợp đồng
- Employment laws/ luật lao động
- Government organization, attitude/Thể chế, chính sách
đối ngoại
- Competition regulation/ Quy định về cạnh tranh
- Political stability/ổn định chính trị
- Investor protection/ bảo vệ nhà đầu tư
- Economic growth/tăng trưởng kinh tế
- Interest rates and monetary policies/lãi suất và chính
sách tiền tệ
- Government spending/chi tiêu chính phủ
- Unemployment policy/chính sách thất nghiệp
- Taxation/mức thuế ưu đãi cho nhà đầu tư
- Exchange rates/tỷ giá hối đoái
- Inflation rates/tỷ lệ lạm phát
- Stage of the business cycle/ chu kỳ kinh tế
- Investor confidence/niềm tin của nhà đầu tư
- Infrastructure/ Cơ sở hạ tầng
- Natural Condition/Điều kiện tự nhiên
- Market size/Quy mô thị trường
- Số thuê bao (Changes in) Mobile Technology
- Innovation/Tính tiên phong
- Technological readiness/Mức độ sẵn sàng tiếp nhận
công nghệ
17
2.2.1. Political: các yếu tố thể chế- luật pháp
Yếu tố về thể chế và luật pháp là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành
kinh doanh trên một lãnh thổ. Các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả
năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị hành
chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu
vực đó.
Đề cập đến thể chế và luật pháp có thể xem xét các yếu tố sau:
Sự bình ổn: sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao của thể
chế luật pháp là yếu tố quan trọng khi đánh giá môi trường đầu tư của một quốc gia.
Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh
doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt
động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế
thu nhập sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật chống
độc quyền, chống bán phá giá
Chính sách vĩ mô: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh
nghiệp, nó có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp: chính sách thương
mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh
tranh, bảo vệ người tiêu dùng
2.2.2. Economic: các yếu tố Kinh tế
Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và
sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế. Thông thường, các doanh nghiệp sẽ dựa trên
yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực.
sống nhất là giới trẻ.
19
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan
tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm
khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập khác nhau: tuổi thọ
trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống; thu nhập trung bình, phân
phối thu nhập; lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống; điều kiện
sống.
2.2.4. Technological: yếu tố công nghệ
Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các công
nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Nếu cách đây 30
năm máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày nay nó đã có đủ chức
năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập. Trước đây, chúng ta sử dụng
các máy ảnh chụp bằng phim thì hiện nay không còn hãng nào sản xuất phim cho máy
ảnh. Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông hiện đại đã
giúp rút ngắn các khoảng cách về địa lý, phương tiện truyền tải.
Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D (nghiên cứu và phát
triển): Trong thập niên 60 - 70 của thế kỷ trước, Nhật Bản đã khiến các nước trên thế
giới phải thán phục với bước nhảy vọt về kinh tế trong đó chủ yếu là nhân tố con người
và công nghệ mới. Hiện nay, Nhật vẫn là một nước có đầu tư vào nghiên cứu trên GDP
lớn nhất thế giới. Việc kết hợp giữa các doanh nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu
đưa ra các công nghệ mới, vật liệu mới sẽ có tác dụng tích cực đến nền kinh tế.
Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu: nếu trước đây các hãng
sản xuất phải mất rất nhiều thời gian để tăng tốc độ bộ vi xử lý lên gấp đôi thì hiện nay
tốc độ này chỉ mất khoảng 2-4 năm. Xuất phát từ các máy tính Pen II, Pen III, chưa đầy
10 năm hiện nay tốc độ bộ vi xử lý đã tăng với chip set thông dụng hiện nay là Core
Dual tốc độ 2.8 GB/s. Một bộ máy tính mới tinh chỉ sau nửa năm đã trở nên lạc hậu với
công nghệ và các phần mềm ứng dụng.
Ngoài các yếu tố cơ bản trên, hiện nay khi nghiên cứu thị trường, các doanh
Thái Lan
- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:
20% áp dụng trong 10 năm từ khi dự án
bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh cho
các doanh nghiệp khu công nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực dịch vụ và các dự án
đươc quy định trong luật.
- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:
15% áp dụng trong 12 năm kể từ khi dự
án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh
cho những dự án thuộc danh mục dự án
khuyến khích đầu tư, hoặc đầu tư vào các
địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó
khăn, các doanh nghiệp dịch vụ trong khu
chế xuất, doanh nghiệp khu công nghiệp
xuất khẩu trẽn 50% hoặc dự án chuyển
giao không bồi hoàn tài sản cho nhà nước
- Thái Lan có cơ quan chuyên trách về ưu
đãi đầu tư là Cục Đầu tư Thái Lan (BOI)
chuyên xem xét ưu đãi cho từng dự án và
phân loại dự án đầu tư theo tác động của
dự án đó đến nền kinh tế cả nước, chứ
không phải chỉ một vùng miền nào đó.
- Việc ưu đãi đầu tư được phân thành 2
nhóm: nhóm A (các lĩnh vực được hưởng
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp) và
nhóm B (các lĩnh vực không được hưởng
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng
có thể được hưởng các ưu đãi khác).
- Nhóm A bao gồm các danh mục A1 (các