ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN 9
Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương
Linh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng
rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn.
Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong
truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau
thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn
diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh?
Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó.
HƯỚNG DẪN
1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những
chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi
theo cách của mình miễn là hợp lí.
2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực
tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ
xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm.
BÀI VIẾT THAM KHẢO
“Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta
thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam.
Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm.
Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương,
chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi.
Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang
thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt tên là Đản.
Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết
nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ
hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi
trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ
Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.”
Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư,
đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan
phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện
đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải
suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những
oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà
những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước
được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã
hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu
óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông
của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một
Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không
nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi
bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công
minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương
mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam
quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ
nói riêng và con người thời đó nói chung.
Đề 2: Phân tích truyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
BÀI VIẾT THAM KHẢO:
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở
thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam.
Truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác
phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam
Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ đoan chính, đảm đang. Nàng giữ
lòng chung thuỷ, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian
chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây thơ của con trẻ,
người chồng nghi ngờ nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân
giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng
trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long
Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan cho
Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời không phương
giải bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng
của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết: “Thiếp nếu
đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương,
xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ. Nhựợc bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng
con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin
chịu khắp mọi người phỉ nhổ ” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót
xa - con người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan
tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng dám.
Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt
khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi
hiện về trên dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con.
Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự
thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người
phụ nữ Việt Nam - một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm
đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt
son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, lẽ ra phải được hạnh
phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.
Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ
hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam
quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của
chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời
những người phụ nữ.
Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình
đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến
lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa nghi, đối với
vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành
động độc đoán của Trương Sinh sau này.
Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng nề:
mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của
oan khiên gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.
Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình của nhân vật
được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần
khắc hoạ diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật ; lời nói của bà mẹ Trương
Sinh nhân hậu, từng trải ; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu
dàng, mềm mỏng, có lí, có tình - lời của người phụ nữ hiền thục, đoan
chính ; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.
Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút” truyện, chàng Trương
Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm
phần Vũ Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng chốc. So với
truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích
để nâng truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới. Điều đó, làm tăng
thêm sức hấp dẫn của truyện và hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương,
thoả mãn ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, ngưởi tốt sẽ được đền
bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở
phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương
được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với kiệu hoa rực rỡ trên sông đó là
những tình tiết kì ảo, không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ thuật
lung linh huyền ảo.
Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay. Yếu tố hoang đường
truyền kì không thể cứu được cuộc đời Vũ nương với số phận bi thảm của
nàng. Vũ Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở về với
chồng con và quê hương mà không thể trở về được.
Truyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị hiện thực tố cáo và ý
nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người phụ
nữ khác trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác phẩm văn học
cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc sống của những người phụ nữ Việt
Nam trong một xã hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc đời,
sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và được đề cao nhân phẩm trong
xã hộ, xã hội của thời đại mới.
vị kỉ ít học như chồng mình.
Nếu lấy sự kiện ngày Trường Sinh đi lính thú thì hạnh động và lời lẽ
đưa tiễn chồng của người vợ hiền, lời thiết tha cầu mong của Vũ Nương:
“Chẳng mong chàng ái gấm trở về quê cũ, chỉ mong được hai chữ bình yên
thế là đủ rồi” , “thư tính, nghìn hàng, áo rét gửi người ải xa ”, “ là chi tiết
cho cái “công-dung-ngôn-hạnh” mà Vũ Nương đã làm được một cách chân
thành.
Thế rồi, nỗi nhớ nhung, sự cô đơn, giữ mình của người vợ trẻ càng
khiến chúng ta phải ca ngợi con người nhân hậu và đảm đang đó. Tính cách
cao đẹp của Vũ Nương còn là lòng hiếu thảo với mẹ chồng, lòng chung thuỷ
son sắt với chồng của nàng.
Khi chồng vào lính, Vũ Nương một mình đảm đang, nuôi dạy con thơ, chăm
sóc thuốc thang cho mẹ chồng đau yếu, làm ma chay tống tang khi mẹ chồng
qua đời. Vũ nương giữ tròn hiếu đạo với mẹ chồng, giữ tròn tình nghĩa với
chồng.
Cái thói đời xưa nay thường không thể hoà hợp giữa mẹ chồng nàng
dâu, nhất là trong gia đình phong kiến. Thế nhưng, dù chỉ có hai mẹ con
sống với nhau (Vũ Nương với mẹ chồng) nhưng nàng xem mẹ chồng như
mẹ đẻ, điều đó còn được thể hiện qua lời trăng trối của mẹ chồng nàng trước
khi bà qua đời: “xanh kia sẽ chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ
mẹ “
Rồi sự chu đáo của Vũ Nương trong việc ma chay, cúng lễ đã thể hiện tấm
lòng thơm thảo của người con dâu đáng quý như Vũ Nương. Lòng chung
thuỷ của Vũ Nương còn được thể hiện ở hành động nuôi con, chờ chồng
suốt những tháng ngày Trương Sinh đi lính mà chưa rõ mặt con. Chỉ có hai
mẹ con côi cút đùm bọc, gắn bó. Cậu Bé Đản thơ ngây, đêm đến được mẹ
chỉ vào cái bóng của mình trên tường gọi là cha (đó là một cách dỗ dành con
ngủ thật hồn nhiên nhưng sau đó lại là nguyên nhân gây ra cái tội thậtt vô
tình).
Nôi hàm oan không được quyền nói, suy xét cho ra là bởi con người
nghi oan, đã làm mất đi người vợ quý trên đời. Nguyên nhân sâu xa của bi
kịch nát lòng này chính là do chiến tranh loạn lạc và lễ giáo phong kiến
trọng nam quyền trong xã hội ngày trước.
Đề 4: Phân tích bài thơ “Đồng chí” của chính Hữu ( Ngữ văn 9 - Tập
1).
HƯỚNG DẪN CÁCH VIẾT:
Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào đầu năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc
của quân và dân ta đánh thắng cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp
cuối năm 1947 lên khu căn cứ địa Việt Bắc. Nhà thơ Chính Hữu lúc đó là
chính trị viên đại đội thuộc trung đoàn Thủ đô, cùng đơn vị của mình tham
gia chiến đấu suốt chiến dịch. Đầu năm 1948 Chính Hữu viết bài thơ này.
Bài thơ là kết quả của những trãi nghiệm thực va những cảm xúc sâu xa của
tác giả với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc. Bài thơ nói về tình đồng đội,
đồng chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng mà phần lớn
họ xuất thân từ nông dân. Đồng thời bài thơ cũng thể hện lên hình ảnh chân
thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội trong thời kì đầu của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp còn rất khó khăn thiếu thốn.
Bài thơ” Đồng Chí” viết theo thể thơ tự do, với hai mươi dòng thơ,
chia làm ba đoạn. Cả bài thơ đều tập trung vào thể hiện chủ đề về
tình”Đồng Chí”.
Cái bắt gặp đầu tiên của những người lính là từ những ngày đầu gặp
mặt. Họ đều có sự tương đồng về cảnh ngộ nghèo khó ”quê hương anh
nước mặn đồng chua, lành tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Những người lính
là những người của làng quê nghèo lam lũ, vất vả với cày cấy, ruộng đồng
với những làng quê khác nhau. Họ từ các phương trời không hề quen nhau
”từ muôn phương về tụ hội trong hàng ngũ của những người lính cách
mạng”. Đó chính là cơ sở của tình đồng chí sự đồng cảm giai cấp của những
người lính cùng chung nhiệm vụ chiến đấu để giải phóng quê hương, đất
nước. Diễn đạt ý nghĩa đó, tác giả đã diễn tả bằng hình ảnh:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”.
khó quên. Hậu phương, tiền tuyến (người ở lại nơi giếng nứơc, gốc
đa)không nguôi nhớ thương người thân của mình là những người lính nơi
tiền tuyến. Tuy dứt khoát, mạnh mẻ ra đi nhưng những người lính không
chút vô tình. Trong chiến đấu gian khổ, hay trên đường hành quân họ đều
nhớ đến hậu phương- những người thân yêu nhất của mình:
“ Ôi! Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồi hồi nhớ mắt người yêu”
(Nguyễn Đình Thi)
“Đồng chí”-đó là cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc
đời người lính với những hình ảnh chân thực, xúc động, gợi tả và gợi hình
(từng cơn ốm lạnh sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi,áo rách vai, quần
vài mãnh vá, miệng cười buốt giá, chân không giày) những ngày tháng ở
rừng.
Để diển tả được sự gắn bó, chia sẻ, sự giống nhau vế cảnh ngộ người
lính tác giả đã xây dựng những câu thơ sóng đôi, đối ứng với nhau trong
từng cặp, từng câu:
“ Anh với tôi biết từng cơn ốm lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”
Miệng cười buốt giá
Chân không giày”
Sức mạnh nào đã giúp họ vượt qua tất cả?
Hình ảnh” thương nhau tay nắm lấy bàn tay” biểu hiện thật giản đị và
xúc động của tình cảm đồnh chí, đồng đội thiêng liêng của những người
lính. Tình cảm đó là nguồn sức mạnh và niềm vui để họ vượt qua. Cái “bắt
tay”(như bàn tay biết nói) chính là tình cảm của người lính truyền cho nhau
sức mạnh và niềm tin để họ vượt qua tất cả những gian lao, thiếu thốn, thử
thách trong chiến đấu.
Tình đồng chí, đồng đội còn biểu hiện ở sự thử thách. Đoạn thơ cuối
thật cô đọng bằng hình ảnh khi nhà thơ viết:
dân chống Mỹ.
Tiếng thơ Phạm Tiến Duật hình thành và lớn lên với những bài thơ “
Trường Sơn đông-Trường Sơn tây, lửa đèn, giửi em cô thanh niên xung
phong, nhớ ”đã góp phần trẻ hoá thơ Việt Nam thời chống Mỹ. Bài thơ
“bài thơ về tiểu đội xe không kính” được rút ra trong tập thơ “vầng trăng-
quầng lửa” của tác giả. Trong bài thơ tác giả đã xây dựng một hìng tượng
độc đáo những “chiếc xe không kính” chắn gió vẫn băng băng trên đường ra
trận vì chiến trường miền Nam ruột thịt.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã giải thích vì sao tất cả xe trong tiểu đội đều
“không có kính” vì bom đạn giặc Mỹ làm “kính vỡ đi rồi”. Chỉ một chi tiết
nhỏ “không có kính vì xe không có kính-bom giật, bom rung kính vỡ mất
rồi” tác giả đã làm cho người đọc hiểu được sự ác liệt, tàn bạo của cuộc
chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra. Những chiếc xe này đã làm nổi bật hình
ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm
chống Mỹ cứu nước.
Thế mà, những người lính trên những chiếc “xe không kính” vẫn
“ung dung buồng lái ta ngồi nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng!”
Thái dộ ung dung và “cái nhìn” của anh lái xe như bất chấp, coi
thường tất cả nguy hiểm ở phía trước mác dù “bụi phun tóc trắng như người
già”, cho dù “mưa tuôn mưa xối như ngoài trời” các anh vẫn “nhìn nhau
mặt lấm cười ha ha” hoặc tếu táo “phì phèo châm điếu thuốc” hay “bắt tay
qua cửa kính vỡ rồi.”
Hình ảnh trong các câu thơ trên đã làm nổi rõ cái hiên ngang, dũng
cảm, bất chấp mọi nguy hiểm của các chiến sĩ lái xe, để lái những chiếc xe
không kính ra mặt trận với một niềm tin niềm vui của tuổi trẻ.
Khung kính đã bị vỡ, không có gì để chắn gió trời ùa vào, đập thẳng
vào mắt. Thế mà, tác giả lại viết: “ nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng”.
“ Xoa” là cử chỉ nhẹ nhàng vuốt ve âu yếm. Qua cách diễn đạt của
câu thơ thì ở đây, gió không làm đau, làm rát mắt của người lái xe mà ngược
lại gió còn vỗ về nhè nhẹ vào đôi mắt “đắng”. Và, con đường trước mặt-
Nhưng điều kì lạ là những chiếc xe trụi trần ấy vẫn chạy, vẫn băng ra tiền
tuyến. Tác giả lại một làn nữa lí giải bất ngờ và rất chí lí: “chỉ cần trong xe
có một trái tim” Trái tim người lính cách mạng- trái tim của lòng quả cảm.
Với lời thơ tự nhiên như lời nói bình thường, giọng điệu thơ gần gủi,
vui tươi, dí dỏm, bài thơ đã nêu bật hình ảnh người lái xe trên tuyến đường
Trường Sơn: dũng cảm hiên ngang, với niềm vui sôi nổi, lạc quan yêu đời
bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm để ra trận vì Miền Nam ruột thịt thân yêu.
Họ luôn đối diện với khó khăn thử thách, mà vẫn cười đùa, tếu táo, hồn
nhiên, tự tin. Đó là nét đặc sắc của bài thơ cũng như ngôn ngữ, giọng điệu
riêng của thơ Phạm Tiến Duật. Hôm nay đất nước dã hoà bình sau hơn 30
năm giải phóng Miền Nam con đường Trường Sơn đã đi vào lịch sử, đọc lại
bài thơ này, chúng ta càng tự hào và khâm phục biết bao các chiến sĩ lái xe ở
Trường Sơn ngày trước cùng bộ đội Trường Sơn đã góp phần vào chiến
thắng huy hoàng của dân tộc.
Đề 6: Cảm nhận của em về chân dung người lính lái xe trong “ Bài
thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật là nhà thơ nổi lên từ phong trào chống Mỹ cứu nước.
Năm 1964, tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Ông vào
bộ đội và xung phong vào tuyến lửa khu Bốn.
Từng là lính lái xe nên ông có những bài thơ viết rất hay về binh
chủng này. “ Tiểu đội xe không kính” là một bài thơ tiêu biểu.
Bài thơ là khúc hát ca ngợi những người lính lái xe đã đã vượt lên
hiện thực dữ dội, ác liệt của khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ để hoàn
thành nhiệm vụ.
Bài thơ đã xây dựng một hình tượng độc đáo đó là những chiếc xe,
nói cho đúng là cả một tiểu đội xe không có kính chắn gió, chắn bụi băng
băng ra trận. Mà độc đáo thật, vì chỉ gặp ở Việt Nam, ở những chiến sĩ lái xe
quân sự thời chống Mỹ. Có thể nói “chất” độc đáo này được lên men từ
chiến trường ác liệt:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
đã ý thức được mà còn rất quen với những gian khổ đó.
Chính vì thế:
“Chưa cần lửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”
Và cao hơn:
”Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.”
Đây là những câu thơ đậm chất người lính, nói rất đúng tinh thần và
cuộc sống của người lính Các động tác “phì phèo châm điếu thuốc” tuy có
vụng về nhưng sao đáng yêu thế?. Cái cười “ha ha” nở ra trên khuôn mặt
lấm lem của mọi người sao mà rạng ngời đến thế? Bởi vậy, đọc những câu
thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến
trường những năm tháng đánh Mỹ. Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn
ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, yêu đời và tinh thần hoàn thành
nhiệm vụ cao.
Hai khổ thơ tiếp nói về cảnh sinh hoạt và sự họp mặt sau những
chuyến vận tải trên những chặng “đường đi tới”. Vẫn những câu thơ có
giọng điệu riêng, đậm chất văn xuôi rất riêng của Phạm Tiến Duật đã thể
hiện được tình đồng chí, đồng đội trong kháng chiến. Ở hai khổ thơ này, tác
giả vẫn tô đậm cái hình tượng thơ “xe không kính”, nhưng lại có cách nói
khác rất lính:
“Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”
Khổ thơ cuối cùng, kết thúc bài thơ, tác giả muốn nói với chúng ta
một điều như một điều dự báo: đâu chỉ là tiểu đội xe không kính mà tương
lai còn là tiểu đội xe không đèn, không mui xe, Hiện thực của cuộc chiến
tranh diễn ra còn hết sức ác liệt, người lính lái xe còn phải đối mặt với bao
nhiêu nghiệt ngã, thử thách: “ Không có kính rồi xe không đèn, không có
mui, thùng xe có xước” nhưng nhất định họ sẽ hoàn thành nhiệm vụ, sẽ chiến
thắng bởi vì phía trước họ là miến Nam thân yêu và vì họ sẵn có một nhiệt
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Từ “lại” nói lên rằng hằng ngày vào cái thời điểm ấy, khi trời yên biển
lặng, đoàn thuyền ra khơi đã thành một cảnh quen thuộc.
Hình ảnh thơ “Câu hát căng buồn cùng gió khơi” là một hình ảnh
được xây dựng nhờ một trí tưởng tượng phong phú. Huy Cận đã miêu tả, đã
cụ thể hoá tiếng hát của những người lao động. Những người lao động đánh
cá ra khơi cùng với tiếng hát khoẻ khoắn đến mức tạo nên một sức mạnh
(cùng với gió khơi) làm căng những cánh buồm. Họ ra khơi với một niềm
phấn khởi, niềm tin vào thành quả lao động.
Bốn câu thơ mở đầu miêu tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”. Cảnh
ngày tàn mà vẫn ấm áp, vẫn tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan của người lao
động. Không khí chung của bốn câu thơ mở đầu này chi phối không khí
chung của cả bài thơ.
Đề 8: Phân tích bài thơ ” Đoàn thuyền đánh cá”của Huy Cận:
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào
năm 1958, nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả -
Quảng Ninh. Thông qua một đêm đánh cá của một đoàn thyền trên biển, nhà
thơ ca ngợi không khí lao động mới, tràn đầy niềm lạc quan, làm chủ thiên
nhiên, biển cả bao la.
Bài thơ đã dựng được không khí lao động khẩn trương, hăng say,
nhộn nhịp của miền Bắc những năm đầu bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bài thơ mở đầu bằng cảnh “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” và kết
thúc bằng hình ảnh “Mặt trời đội biển như màu nước-mắt cá huy hoàng
muôn dặm khơi”. Như vậy là cảnh lao động của đoàn thuyền đánh cá diển ra
trong một đêm ròng. Thế nhưng, bài thơ là một bức tranh với những đường
nét khoẻ khoắn, màu sắc tươi sáng lạ thường. Đánh cá trên biển mênh mông
thực chất là một công việc lao động nặng nhọc, đầy nguy hiểm. Vậy mà cả
bài thơ là một khúc ca sảng khoái, tràn đầy niềm vui, phối hợp nhạc điệu với
những động tác khoẻ mạnh, dồn dập. Bài thơ lặp lại nhiều lần chữ “hát”, và
của con người sau một đêm lao động khẩn trương và đạt sản lượng mong
muốn. Thiên nhiên như chia sẻ niềm vui đó: ”Câu hát căng buốm cùng gió
khơi” và cảnh trở nên vô cung sinh động. Trên mặt biển mênh mông, đoàn
thuyền lao vùn vụt: ”Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Đoàn thuyền
như chạy đua cùng với thời gian với niềm vui háo hức để trở về với bến bờ
đang nhộn nhịp đón chờ
Bài thơ là khúc ca sảng khoái của người lao động đánh cá, thể hiện
niềm phấn khởi trước những thành quả lao động của mình. Hình ảnh con
người hiện lên trong bài thơ là hình ảnh conngười mới làm chủ thiên nhiên,
nhiệt tình lao động sản xuất để làm giàu cho tổ quốc, gắn với biển cả quê
hương.
Đề 9: Phân tích hình ảnh người mẹ Tà -ôi trong bài thơ “Khúc
hát ru những em bé trên lưng mẹ” (của Nguyễn Khoa Điềm)
Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm đời giữa những năm tháng quyết liệt của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước trên cả hai miền Bắc-Nam. Thời kì này, cuộc
sống của cán bộ, nhân dân ta trên các chiến khu (phần lớn là những vùng
miền núi) rất gian nan, thiếu thốn. Cán bộ, nhân dân ta phải bám rẫy, bám
đất để tăng gia sản xuất, vừa sẳn sàng chiến đấu bảo vệ căn cứ. Bài thơ là lời
hát ru những em bé dân tộc Tà-ôi lớn trên lưng mẹ ở vùng chiến khu Trị-
Thiên trong thời kì chiến tranh chống Mỹ.
Hình ảnh người mẹ Tà-ôi trong bài thơ, qua từng đoạn thơ với từng
khúc hát ru được gắn với hoàn cảnh, công việc cụ thể.
Ơ khúc thứ nhất, người mẹ hiện lên với dáng tần tảo, lam lũ, vất vả
với công việc giả gạo nuôi bộ đội. Mẹ giã gao, con vẫn trên lưng mẹ. Câu
thơ: “Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối” thật cảm động. Mẹ gầy vì công việc
giúp nuôi bộ đội đánh giặc. Mẹ gầy vì nuôi cho con nhanh lớn. Nhưng trái
tim của mẹ vẫn hát về ước mơ:
“Mai sau con lớn vung chày lún sân”
Trong khúc ru thứ hai, diễn tả công việc mẹ lên núi trỉa bắp. Câu thơ:
chày, nhịp thở. Hai mẹ con cùng chung một nhịp, mẹ làm việc, con ngủ
ngon “Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng”. Hai từ “Nghiêng” đứng
trong một câu thơ thể hiện niềm say mê của mẹ hoà cùng giấc ngủ của bé.
Mẹ làm việc khổ cực trong hiện tại, nhưng lời ru của mẹ cao vút đến ngày
mai. “Mai sau con lớn vung chày lún sân!!
Lời ru trên nương khi trỉa bắp ở trên núi Ka-lưi, vẫn theo nhịp “chọc
lỗ” trỉa bắp nhưng hình ảnh lúc này thiên về đối lập “Lưng núi to- lưng mẹ
nhỏ” và đối xứng “Mặt trời của bắp- mặt trời của mẹ”, tất cả toát lên tình
thương vô hạn của người mẹ nghèo vẫn thương con, thương cách mạng,
“mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”- người mẹ vừa chịu đựng cái nóng vừa
tha thiết yêu thương.
Lời ru của mẹ không chỉ hướng vào thực tại mà còn hướng về tương
lai:
“Ngủ ngoan A-kay ơi, ngủ ngoan A-kay hỡi
Mẹ thương A-kay, mẹ thương làng đói
Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka-Lưi”
Khi chuyển lán, trong lời ru thứ ba, nhịp thơ vẫn ngắt đôi, mỗi dòng
theo bước chân đi nhưng lời thơ xếp theo lối hùn điệp, đuổi nhau giục giã,
khẩn trương:
“Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Thằng Mỹ đuổi ta phải rời con suối
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn”.
Cũng như đoạn thơ trên, lời ru của mẹ hướng vào đất nước, hướng
vào tương lai chiến thắng”
“ Ngủ ngoan A-kay ơi, ngủ ngoan A-kay hỡi
Mẹ thương A-kay, mẹ thương đất nước
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ
Mai sau con lớn làm người tự do”.
người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lý, khát vọng
tình yêu hạnh phúc
Tiếng nói nhân đạo ấy toát lên từ hình tượng nhân vật Thuý Kiều
trong truyện Thuý Kiều. Thuý Kiều là hiện thân của nổi đau và bất hạnh.
Nàng là một người con gái tài sắc, giàu tình cảm nhưng bị xã hội phong kiến
vùi dập, đoạ đày.
Nhân vật Thuý Kiều là hiện thân những bi kịch của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến trước đây. Đời Kiều là một tấm gương oan khổ. Số
phận Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ. Tuy nhiên hai bi kịch lớn
nhất ở Kiều là bi kịch tình yêu tan vỡ và bi kịch bị chà đạp nhân phẩm.
Tình yêu Kim Trọng- Thuý Kiều là một tình yêu lí tưởng với “Người
quốc sắc,kẻ thiên tài”, nhưng cuối cùng “giữa đường đứt gánh tương tư”,
“nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tình yêu tan vỡ và không bao giờ hàn gắn
được-tuy “màn đoàn viên” có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió
thảm mưa sầu”.Hạnh phúc nàng toan được nắm trong tay thì cuộc đời cướp
mất.
Kiều là người luôn có ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng lại bị chà
đạp về nhân phẩm. Nàng trở thành “món hàng” để kẻ buôn người họ Mã
“cò kè bớt một thêm hai”. Rồi nàng phải thất thân với những kẻ như Mã
Giám Sinh, phải “Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”- Nổi đau nhất của
cuộc đời Kiều chính là: “Thân lươn bao quản lần đầu- chút lòng trinh bạch
từ sau xin chừa”. Có nổi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm,
luôn có ý thức về nhân phẩm mà cuối cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm?
Đời Kiều không phải chỉ là một tấm bi kịch, mà là những chuổi dài
những bi kịch nối tiếp nhau, mỗi lần nàng cố cất đầu ra khỏi bùn nhơ là một
lần bị dúi xuống, bị đạp xuống sâu thêm một tầng nữa.
Thuý Kiều là hiện thân của một vẻ đẹp nhan sắc, tài hoa. Sắc và tài
của Kiều đã đạt tới mức lí tưởng. Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của Kiều Ng.Du
đã sử dụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lí tưởng hoá để trân
trọng một vẽ đẹp. “ Một hai nghiêng nước nghiêng thành-sắc đành đồi một
diện cho con người bị áp bức vùng lên làm chủ số phận của mình trong tư
thế chiến tháng, tư thế chính nghĩa:
“Nàng rằng: Lồng lộn trời cao
Hại nhân nhân hại sự nào tại ta”.
Ở đây, Thuý Kiều đẫ gặp gở bao nhiêu người phụ nữ bị áp bức khác
vùng lên đòi quyền sống, đòi lẽ công bằng, trừng trị kẻ ác. “Cái thế giằng
co giữa sự sống và sự chết ở trong Tấm Cám, Thạch Sanh, trong nhiều
truyện nôm khuyết danh khác cũng như trong truyện Kiều, về căn bản nào
có khác gì nhau, chỉ khác Một bên nhiều khi con người mượn yếu tố thần
linh phụ trợ, một bên đã vươn tới tư tưởng trị nhân dân và con người quyết
định theo công lí của mình”- (Cao Huy Đỉnh)
Với nhân vật Thuý Kiều Ng.Du là nhà nhân đạo chủ nghĩa rất mực
yêu thương rất mực đề cao con người, đề cao những khát vọng chân chính
của con người- đặc biệt là thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến
đầy rẫy bất công, tàn bạo và lễ giáo phong kiến.
Đề 11: Phân tích đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” để thấy rỏ “Với bút
pháp tinh diệu, Nguyển Du không những xây dựng lên hai chân dung “Mỗi
người một vẻ mười phân vẹn mười” mà dường như còn nói được cả tính
cách, thân phận toát ra từ diện mạo của mỗi vẻ đẹp riêng”.
Đoạn trích “Hai chị em Thuý Kiều” nằm ở phần đàu của câu chuyện.
Trong đoạn trích này, Nguyễn Du tập trung miêu tả hai chân dung tuyệt mỹ
của chị em Thuý Kiều. Đằng sau những nét bút miêu tả tinh tế và độc đáo,
người đọc có thể nhận thấy tấm lòng ưu ái, trân trọng đặc biệt của Nguyễn
Du đối với nhân vật của mình. Qua ngòi bút của Nguyễn Du, hai chị em
Thuý Kiều đều xinh đẹp, nhưng “mỗi người (tài tình) mỗi vẻ” với dự báo
trước số phận, tính cách, cuộc đời của mỗi nhân vật, đặc biệt là Thuý Kiều,
nhân vật của truyện.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu vẻ đẹp chung về hai chị em
với bốn câu thơ:
“Đầu lòng hai ả tố nga
nhân vật trung tâm của tác phẩm.
Khác với Thuý Vân, Th Kiều có một vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” cả tài
lẫn sắc đạt tới mức tuyệt vời.Cũng những từ ngữ, hình ảnh ước lệ tượng
trưng, qua ngòi bút miêu tả tài hoa của Ng Du, hình ảnh nàng Kiều hiện lên
lộng lẫy, sắc nước hương trời đến hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”.
Đôi mắt đẹp của nàng trong như nước mùa thu, lông mày xin xắn,
tươi non như sắc núi mùa xuân “làn thu thuỷ, nét xuân sơn”. Nếu như vẻ
đẹp của Thuý Vân trời xanh còn có thể nhường nhịn, thì trước sắc đẹp của
Thuý Kiều, thiên nhiên tạo hoá cũng trở nên đố kị ghen ghét
“ Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
Thiên nhiên đố kị, ghen ghét với nàng. Hồng nhan bạc mệnh, cái sắc
đẹp “sắc sảo mặn mà” khiến thiên nhiên cũng phải đố kị, ghen ghét ấy đã
dự báo trước một cuộc đời đầy sóng gió sẽ ập đến với nàng. Ng Du đã không
tiếc lời ca ngợi sắc đẹp và tài nghệ của nàng Kiều. Khác hẳn Thuý Vân, Th
Kiều thông minh, đa tài, đa cảm, một con người nhất mực tài hoa: Tài thơ,
tài hoạ, tài đàn của Th Kiều đạt tới mức tuyệt diệu:
“ Thông minh vốn sẳn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”.
Cả diện mạo bên ngoài và diên mạo tâm hồn cũng hé mở dần tính
cách số phận của nàng Kiều.
Rõ ràng, Ng.Du khi miêu tả sắc đẹp của nàng Kiều đã gửi gắm quan
niệm “Tài hoa bạc mệnh” vào đấy - dự báo trước cuộc đời, số phận long
đong, lận đận, đầy bất hạnh của nàng.
Sử dụng bút pháp miêu tả ước lệ tượng trưng của văn học cổ điển, với
ngòi bút tài hoa, chắt lọc, trau chuốt ngôn từ, Ng.Du đã khắc hoạ thật sinh