LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “cán bộ là cái gốc của mọi công
việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Người
luôn quan tâm, chăm lo xây dựng cấp xã, đã tổng kết và rút ra bài học ý nghĩa
cực kỳ quan trọng “ cấp xã là gần gũi nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp
xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Bên cạnh đó, xã hội ngày càng
phát triển đồng nghĩa với việc khoảng cách chênh lệch giữa đồng bằng và
miền núi, thành thị và nông thôn ngày càng tăng cao. Để giải quyết vấn đề
này, Đảng và Nhà nước rất quan tâm và chú trọng tới việc nâng cao chất
lượng cuộc sống cho các xã vùng cao, đặc biệt là các xã có đông đồng bào
dân tộc thiểu số, Yên Bái cũng là một tỉnh miền núi phía Bắc có đông đồng
bào dân tộc thiểu số, việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân
tộc ở các xã vùng cao là nhiệm vụ quan trọng cần được đẩy mạnh. Để làm
được điều đó thì trước hết cần phải phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật và quản lý cho các xã vùng cao, có được một đội ngũ cán bộ cấp xã tốt
thì mới có thể phát triển xã tốt được. Chính vì vậy em đã chọn đề tài nghiên
cứu “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao của tỉnh Yên
Bái”
Bố cục của đề tài bao gồm 3 phần chính:
Chương 1: Sự cần thiết khách quan phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức các xã vùng cao.
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã
vùng cao tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2007
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức cho các xã vùng cao tỉnh Yên Bái đến 2015
1
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Nguyễn Thị Kim Dung và cán
bộ hướng dẫn Trần Thanh Chương – phó trưởng phòng Tổng hợp, quy hoạch
kinh tế và văn hóa xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái đã giúp đỡ
nhiệt tình để em hoàn thành bài viết này. Trong quá trình thực hiện đề tài do
còn hạn chế về kiến thức nên không tránh khỏi những thiếu xót. Em rất mong
thành phường và xã; quận chia thành phường;”
Theo quy định trên, đơn vị hành chính lãnh thổ của nước ta được chia
thành 3 cấp:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gọi chung là cấp tỉnh;
- Huyện, thành phố thuộc tỉnh, quận, thị xã gọi chung là cấp huyện;
- Xã, phường và thị trấn gọi chung là cấp xã. (cấp cơ sở)
Tương ứng với việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ này, mô hình
tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam gồm 3 cấp hành chính: chính
quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp cơ sở (gồm xã,
phường, thị trấn).
Cán bộ, công chức cấp xã được đề cập đến trong đề tài này nằm trong
hệ thống chính quyền cấp xã là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong
hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước; là cấp trực tiếp thực hiện
quản lý nhà nước ở địa phương có chức năng quản lý, điều hành các lĩnh vực
của đời sống xã hội theo Hiến pháp và pháp luật; là nơi trực tiếp thực hiện
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao đời sống
mọi mặt của nhân dân.
1.1.1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã trong hệ thống đơn vị hành chính của nước ta là
cấp có địa giới hành chính nhỏ nhất và là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
quyền (còn gọi là cấp cơ sở).
Theo quy định của pháp luật, tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã bao
gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, không có các cơ quan tổ chức
chuyên môn như phòng, ban. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã
là cơ quan trực tiếp thực hiện công việc quản lý địa phương, là nơi hàng ngày
giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống sinh hoạt của nhân dân như: dân
4
quyền, dân sinh, dân trí. Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà
nước ở địa phương do cử tri trong xã bầu ra, cơ cấu tổ chức gồm: Chủ tịch
Hội đồng nhân dân, Phó chủ tịch hội đồng nhân dân, các... Uỷ ban nhân dân
xã hội, góp phần gìn giữ trật tự, an ninh xã hội ở địa phương.
1.1.3. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.1.3.1. Khái niệm
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một trong những bộ phận cấu
thành nên đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước. Để hiểu được thế nào là
cán bộ, công chức cấp xã có thể tiếp cận theo hai hướng:
Theo nghĩa rộng thì cán bộ, công chức cấp xã là toàn bộ những người
hiện đảm nhiệm các nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống
chính trị ở cấp xã (tổ chức Đảng, Chính quyền, tổ chức chính trị, xã hội...)
theo đúng luật định của Nhà nước
Theo nghĩa hẹp thì cán bộ, công chức cấp xã là những người đang đảm
đương các nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy chính quyền
cấp xã, bao gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ chuyên môn ( hay còn gọi là
công chức) cấp xã. Cụ thể theo pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ
sung năm 2003 quy định về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã:
Cán bộ chuyên trách là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ
lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn
Đối với công chức xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một
chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, bao gồm 7
chức danh cụ thể: Chỉ huy trưởng quân sự; Trưởng công an; Văn phòng -
6
Thống kê; Tài chính - Kế toán; Địa chính; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xã
hội.
Nội dung nghiên cứu của đề tài cũng dựa trên nghĩa hẹp về khái niệm
cán bộ, công chức cấp xã, chủ yếu đi sâu vào đánh giá số lượng cũng như chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc cho bộ máy chính quyền cấp xã để
từ đó đưa ra được những giải pháp cụ thể để khắc phục những nhược điểm
còn tồn tại và phát huy những điểm mạnh sẵn có.
Cán bộ, công chức cấp xã là người thay mặt chính quyền trực tiếp tiếp
xúc với nhân dân, vì vậy đây là đội ngũ gần gũi và gắn bó mật thiết với người
dân nhất. Đội ngũ cán bộ, công chức xã sinh sống và công tác tại địa phương,
tiếp nhận công việc của cấp trên giao cho đồng thời trực tiếp chỉ đạo và
hướng dẫn cho nhân dân làm. Chính vì vậy, cán bộ, công chức xã là người
nắm rõ những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, biết được những lợi thế
cũng như khó khăn của xã mình đang hoạt động nên phải có trách nhiệm đề
đạt những yêu cầu của người dân đến các cơ quan có thẩm quyền, gần gũi
nhân dân hơn để có thể xây dựng xã thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động tại các xã là người dân
tại địa phương nên có mối quan hệ mật thiết với người dân, không thoát ly
hẳn với những hoạt động sản xuất kinh doanh của địa phương. Cán bộ, công
chức bên cạnh những nhiệm vụ thực hiện cho các cơ quan, tổ chức nhà nước
thì cũng có những hoạt động khác như kinh doanh, buôn bán, sản xuất,... trên
địa bàn của xã. Những hoạt động này góp phần tăng lượng thu nhập và liên
quan đến quyền lợi sát sườn của bản thân cũng như gia đình các cán bộ, công
chức, chính vì vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới cách thức làm việc cũng như
đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ này. Để có thể có một đội ngũ cán bộ, công
8
chức cấp xã trong sạch, vững mạnh và có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao
thì chính những cán bộ, công chức ở xã phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức,
lý luận chính trị, tránh tình trạng tham ô, tham nhũng, cửa quyền gây khó
khăn cho nhân dân.
Một đặc điểm đáng quan tâm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là
trình độ học vấn thấp và không đồng đều, có ít cơ hội và điều kiện được học
tập, đào tạo nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn. Lực lượng cung cấp cho
đội ngũ cán bộ, công chức ở các xã rất dồi dào nhưng thường xuyên biến
động, không ổn định. Nguồn cung cấp cán bộ, công chức cho các xã bao gồm:
thanh niên không thoát ly ở địa phương; bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ
quân sự; các cán bộ hưu trí tại địa phương; cán bộ được tăng cường từ cấp
chức được hình thành từ công tác thi tuyển, xét tuyển. Đối với cán bộ, công
chức xã được hình thành từ nguồn bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm
kỳ sẽ là các cán bộ chuyên trách giữ chức vụ lãnh đạo trong Hội đồng nhân
dân; Ủy ban nhân dân; Đảng ủy; các tổ chức chính trị - xã hội của xã. Đối với
cán bộ, công chức hình thành từ việc thi tuyển, xét tuyển thì sẽ được giữ
những chức danh chuyên môn nghiệp vụ nhất định theo quy định của pháp
luật.
Theo loại hình đơn vị hành chính thì cán bộ, công chức cấp xã được
chia làm ba loại khác nhau, đó là: cán bộ, công chức xã; cán bộ, công chức
phường; cán bộ, công chức thị trấn. Tuy cùng là cấp cơ sở nhưng do đặc điểm
khác nhau về kết cấu hạ tầng, cơ sở kinh tế, xã hội, kết cấu dân cư, trình độ
dân cư của xã, phường, thị trấn nên cán bộ, công chức ở mỗi nơi sẽ có những
chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Đối với cán bộ, công chức ở phường thì sẽ
không quản lý toàn diện các hoạt động sản xuất, đời sống dân cư trên địa bàn
10
như cán bộ, công chức ở xã và thị trấn, song có nhiệm vụ quan trọng trong
quản lý đô thị, đặc biệt là trong việc quản lý đô thị, đất đai, quy hoạch, hộ
tịch, vệ sinh môi trường và trật tự đô thị.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển về số lượng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã
Đánh giá sự phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức cần được xét dựa
trên cả hai mặt số lượng và chất lượng. Tiêu chí đánh giá về số lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã nhằm thể hiện quy mô và tốc độ tăng trưởng theo
thời gian. Có hai tiêu chuẩn thường xuyên được sử dụng để đánh giá số lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã như sau:
- Quy mô đội ngũ cán bộ, công chức của xã.
- Tốc độ tăng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển về chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã
1.2.3.1. Chỉ tiêu biểu hiện trình độ học vấn
vai trò quan trọng trong công tác tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã,
bao gồm các chỉ tiêu:
- Số lượng cán bộ, công chức đã qua bồi dưỡng về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ sơ cấp về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ trung cấp về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ đại học về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ sau đại học về quản lý nhà
nước
Bên cạnh những chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu về trình độ tin học, ngoại ngữ
12
góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
để có thể theo kịp với nhịp độ phát triển của xã hội và của toàn thế giới.
1.2.3.3. Chỉ tiêu phản ánh phẩm chất đạo đức đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã
Đây là chỉ tiêu phản ánh mặt định tính nên rất khó có thể đo lường hay
định lượng được, do đó nội dung của chỉ tiêu này sẽ được xem xét thông qua
những quy định cụ thể về những việc không được làm của đội ngũ cán bộ,
công chức (theo pháp lệnh cán bộ, công chức đã sửa đổi năm 2003):
“- Cán bộ, công chức không được chây lười trong công tác, trốn tránh
trách nhiệm hoặc thoái thác nhiệm vụ, công vụ; không được gây bè phái, mất
đoàn kết, cục bộ hoặc tự ý bỏ việc.
- Cán bộ, công chức không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây
khó khăn, phiền hà đối với cơ quan tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết công
việc.
- Cán bộ, công chức không được thành lập, tham gia thành lập hoặc
tham gia quản lý, điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường
học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư.
- Người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức
không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ
chức xã cũng phải được phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng sao cho
phù hợp với yêu cầu của xã hội. Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các xã
vùng cao, đặc biệt là các xã có đông dân tộc thiểu số và giải quyết vấn đề bất
bình đẳng giữa các vùng, miền cần phải có những chính sách và những giải
pháp thiết thực. Một trong những yêu cầu cấp thiết để giải quyết tình trạng đó
14
là thu hút và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng
cao. Khi đã thu hút được một đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ và năng
lực lên phục vụ các xã vùng cao thì việc phát triển kinh tế xã hội cho các
vùng, miền núi sẽ dễ dàng và sớm bắt kịp với nhịp độ phát triển ở khu vực
thành thị.
1.3.2. Một số hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao
Địa hình của các xã vùng cao chủ yếu là đồi núi, đất đai và khí hậu
không được thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy hiện nay đã có hầu
hết đường giao thông lên các xã vùng cao nhưng chưa thực sự hoàn thiện, vẫn
còn khó khăn trong việc giao thông liên lạc. Bên cạnh đó, người dân sống tại
các xã này chiếm phần lớn là đồng bào dân tộc, có phong tục tập quán, lối
sống và lối canh tác còn lạc hậu, chưa bắt kịp với nhịp độ phát triển của cả
nước.
Hiện tại, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các xã vùng cao chiếm
phần lớn là người dân sở tại, lớn lên và sinh sống tại chính các xã này. Đây là
đội ngũ cán bộ, công chức có ưu thế trong năng lực hoạt động (bản thân họ là
người địa phương, hiểu được phong tục tập quán cũng như lối sống của đồng
bào tại đây) tuy nhiên họ lại hạn chế về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ.
Tuy vậy nhưng tâm lý của cán bộ, công chức là người dân tộc lại có xu hướng
không thích đi xa nhà, ngại đi học tập, bồi dưỡng thêm kiến thức. Vì vậy đây
cũng là một trong số những hạn chế về vấn đề khuyến khích đội ngũ cán bộ,
công chức đi đào tạo, và đào tạo lại cần được giải quyết kịp thời.
Nếu cán bộ, công chức cấp xã đã và đang làm việc tại xã là người sinh
sống tại các xã này thì không muốn đi học nâng cao trình độ, thì ngược lại các
phương thực hiện xong nghĩa vụ quân sự; sinh viên các trường đại học ra
16
trường có nguyện vọng tham gia công tác tại các xã vùng cao; cán bộ được bổ
nhiệm từ trên xuống công tác theo nhiệm kỳ...
Đối với cán bộ, công chức cấp xã là người địa phương đang hoạt động
tích cực trong các phong trào kinh tế xã hội của xã, họ có những ràng buộc về
phong tục tập quán, lối sống cũng như mối quan hệ dòng tộc, họ hàng tại xã.
Với phong tục tập quán còn lạc hậu nên nữ giới ở các xã vùng cao ít khi được
tham gia vào công tác xã hội, còn nam giới lại là trụ cột của gia đình, do đời
sống thấp kém, cuộc sống của họ phụ thuộc vào nông nghiệp nên thời gian
chủ yếu là lên nương làm rẫy. Vì thế các xã vùng cao còn thiếu rất nhiều cán
bộ, công chức có trình độ chuyên môn và trách nhiệm đối với công việc.
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức đang đi học, đào tạo lại; những
người tại địa phương hết nghĩa vụ quân sự và học sinh được cử đi học sau khi
đã được đào tạo, bồi dưỡng tại các trường đại học, cao đẳng,.. lại thường có
tâm lý thích làm việc tại những nơi có điều kiện vật chất tốt, kinh tế xã hội
phát triển, nhất là tại các đô thị lớn, ít có ai mong muốn trở về làm việc tại
những vùng cao còn nhiều khó khăn. Để thay đổi được tâm lý của đội ngũ cán
bộ, công chức có trình độ này cần phải tăng cường những chính sách đãi ngộ
phù hợp.
1.3.3.1.2. Nhân tố ảnh hưởng tới phía cầu
Về phía cầu chính là các cơ quan tổ chức tại các xã vùng cao. Tại mỗi
xã vùng cao lại có những điều kiện địa hình, lãnh thổ và khí hậu khác nhau,
ngoài ra còn có định hướng phát triển đã được đặt ra cho từng xã là khác nhau
vì vậy mỗi xã sẽ có những yêu cầu cụ thể về chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức khác nhau, tuỳ theo những lĩnh vực hoạt động và mục tiêu phát triển cụ
thể của từng xã. Các xã vùng cao hoạt động kinh tế chủ yếu của đồng bào dân
tộc ở đây là ngành nông lâm nghiệp, do đó đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
ít nhất cũng phải biết qua về những lĩnh vực hoạt động của xã. Nếu đội ngũ
17
chỉ riêng khu vực thành thị mà cả khu vực miền núi thì điều kiện làm việc
ngày càng có xu hướng hiện đại hóa. Sự phối hợp trong công việc giữa các cá
nhân trong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướng gia
tăng và đặt ra yêu cầu cao (tính nhịp nhàng, tính hiệu quả...) đòi hỏi đội ngũ
cán bộ, công chức phải có tác phong công nghiệp, tinh thần tự giác, thái độ
hợp tác và tính kỷ luật chặt chẽ. Đánh giá một tổ chức hoạt động có tốt hay
không thì trước hết phải nhìn vào tác phong làm việc, tính kỷ luật và trách
nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong tổ chức đó. Đạo đức
nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao đóng vai trò vô
cùng quan trọng, bởi phẩm chất của người cán bộ có tốt thì họ mới có thể làm
việc tốt và có tinh thần trách nhiệm với những gì mình làm được. Do đó rèn
luyện tính kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tại
các xã vùng cao lại là điều vô cùng cần thiết nhất là khi điều kiện quản lý cán
bộ tại đây chưa thực sự chặt chẽ.
1.3.3.3. Các nhân tố về cơ chế chính sách
Cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị bốn cấp của Nhà nước,
là nơi có nhiều dân cư sinh sống nhất, là cấp gần dân nhất, là hình ảnh thu nhỏ
của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, có tầm quan trọng đặc
biệt đối với sự sống còn, thành bại của chế độ. Phần lớn chủ trương, đường
lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hội tụ ở cơ
sở (xã) và được tổ chức thực hiện. Trong đó, chính sách về phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng. Những
chính sách khuyến khích, ưu đãi cho các xã vùng cao có tác động rất lớn đến
việc thu hút và nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, công chức tới làm
việc tại đây. Nếu Đảng và nhà nước có những chính sách thu hút tốt thì các
19
cán bộ, công chức có trình độ và năng lực sẽ sẵn sàng lên làm việc tại các xã
vùng cao còn nhiều khó khăn và thách thức. Ngược lại thì cán bộ, công chức
sẽ có tâm lý ngại làm việc và công tác tại các xã vùng cao, vùng sâu vùng xa.
Do đó có được những chính sách hợp lý và phù hợp đối với đội ngũ cán bộ
trung bình so với mặt biển từ 600m trở lên) chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh
và vùng thấp (độ cao trung bình so với mặt biển từ 600m trở xuống) chiếm
32,44% diện tích toàn tỉnh. Diện tích tự nhiên là 6.822,922 km2 chiếm 2,1%
diện tích cả nước, trong đó 76% là đồi núi, 10% là đất nông nghiệp. Tỉnh có 9
đơn vị hành chính gồm 7 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã với 180 xã, phường,
thị trấn, riêng vùng cao có 70 xã và 2 thị trấn, chiếm 67% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh.
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cộng thêm địa hình
có nhiều núi cao và bị chia cắt mạnh nên đã tạo ra các tiểu vùng khí hậu khác
nhau tạo ra sự đa dạng trong việc phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.
Thêm vào đó tài nguyên khoáng sản của Yên Bái rất đa dạng nhưng đều thuộc
loại mỏ nhỏ, chỉ phù hợp với sản xuất công nghiệp địa phương, nhưng cũng là
một lợi thế so với các tỉnh lân cận. Tổng số hiện nay tỉnh có 257 mỏ và điểm
mỏ thuộc các nhóm năng lượng, vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp,
21
kim loại và nước khoáng.
Hiện nay, dân số của tỉnh có 72 vạn người, mật độ bình quân 105
người/km2, với 30 dân tộc cùng chung sống, dân tộc thiểu số chiếm 50,4%,
trong đó dân tộc Tày 18,6%; dân tộc Dao 10,3%; dân tộc Mông 8,9%; dân tộc
Thái 6,7%; dân tộc Mường 2,7%; dân tộc Nùng 1,9% và các dân tộc khác
1,3%. Yên Bái là tỉnh có địa hình đa dạng từ đồi núi cho tới đồng bằng cộng
thêm nguồn lao động dồi dào giúp cho nền kinh tế của tỉnh có khá nhiều tiềm
năng phát triển cả về tài nguyên và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, tỉnh có nhiều
dân tộc nhưng phần lớn sống rải rác, mật độ dân cư thưa thớt nên công tác
xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng cao gặp nhiều khó khăn, phức tạp; trình độ
dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu nên việc áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống rất khó khăn, năng suất lao động thấp,
kinh tế chậm phát triển, đời sống văn hóa tinh thần khó có điều kiện phát
triển.
Riêng đối với đội ngũ cán bộ, công chức xã nói chung đều là người địa
lao động qua đào tạo đạt 28,7% năm 2007 tăng 1,73% so với năm 2006. Cơ
cấu lao động đã có hướng chuyển biến tích cực, lao động trong lĩnh vực nông
lâm nghiệp giảm còn trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ thì tăng cao. Bên
cạnh đó, công tác xóa đói giảm nghèo được các cấp, các ngành quan tâm chỉ
đạo và thực hiện có hiệu quả. Toàn tỉnh đã hoàn thành chương trình xóa nhà
dột nát cho các hộ nghèo và hộ chính sách, cùng việc thực hiện chương trình
135 có hiệu quả nên tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn dưới 5% (theo chuẩn
cũ).
Tỉnh còn ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế vùng cao và các xã
đặc biệt khó khăn, tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng, định canh định cư,
23
chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Tỉnh đã thực hiện tốt
các chính sách trợ giá, trợ cước và các mặt hàng chính sách phục vụ sản xuất
và đời sống cho đồng bào vùng cao… Tập trung vào việc khai hoang ruộng
ruộng nước, thâm canh đưa vào sản xuất lương thực 1 vụ lên 2 vụ; phát triển
sản xuất cây màu như khoai tây, đậu tương, lạc… thực hiện trồng mới chè
vùng cao; bảo vệ và trồng mới rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh rừng, phát
triển chăn nuôi đại gia súc, ổn định cuộc sống cho đồng bào vùng cao. Sự
nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa của vùng cao được quan tâm phát triển, trình
độ dân trí được nâng lên, đời sống của nhân dân được cải thiện, số hộ đói
nghèo giảm. Tuy nhiên, phát triển kinh tế vùng cao còn hạn chế như việc sử
dụng các công trình thủy lợi đã đầu tư hiệu quả chưa cao, chất lượng trồng
chè vùng cao thấp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển.
Tuy nhiên tỉnh vẫn còn những hạn chế như tăng trưởng kinh tế cao,
nhưng chưa vững chắc,chưa tương xứng với mức đầu tư và tiềm năng, chưa
chủ động và sáng tạo trong khai thác thế mạnh của địa phương để tạo ra sự
phát triển. Việc khai thác tiềm năng thế mạnh, nhất là huy động sức mạnh của
các địa phương, các thành phần kinh tế và trong dân còn hạn chế. Tư tưởng
bao cấp, trông chờ vào nguồn lực đầu tư từ ngân sách còn nặng nề và phổ
biến trong đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh. Công tác quản lý Nhà nước về
bộ, công chức cấp xã trong toàn tỉnh thông qua bảng số liệu sau:
25