Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không
sao chép bất cứ tài liệu nào. Các số liệu và kết quả ngiên cứu trong chuyên
đề này là trung thực. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc. Những quan điểm trình bày trong chuyên đề là quan điểm của
cá nhân người viết.
Tác giả chuyên đề
Bùi Anh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CP : Chính phủ
CT : Chỉ thị
QĐ : Quyết định
NQ : Nghị quyết
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNNN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
CNH : Công nghiệp hoá
HĐH : Hiện đại hoá
HTX : Hợp tác xã
NSNN : Ngân sách nhà nước
VAT : Thuế giá trị gia tăng
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
KH&CN : Khoa học và công nghệ
TƯ : Trung ương
CNTT : Công nghệ thông tin
R&D : Nghiên cứu và triển khai
của sản phẩm, hạ giá thành, cải thiện hiệu quả sản xuất và thúc đẩy tăng
trưởng.
Trong những năm đổi mới vừa qua. Đảng và nhà nước ta đã chú ý tới
vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp phát triển thông qua
việc ban hành và thực hiện những chính sách thúc đẩy và ứng dụng công
nghệ, chuyển giao công nghệ trong sản xuất, dịch vụ, nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên tồn tại hiện nay của nền kinh tế là
đổi mới khoa học và công nghệ chưa trở thành nhu cầu bức thiết để nâng
cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chưa tự
chú ý cải tiến, đổi mới công nghệ cho phù hợp cũng như chưa chú ý đầu tư
để phát triển thương hiệu sản phẩm. Điều này dẫn đến thực trạng là trình độ
công nghệ của nhiều nghành và doanh nghiệp còn lạc hậu; năng lực công
nghệ nhìn chung còn chậm được cải thiện; nhiều sản phẩm kém sức cạnh
tranh cả ở thị trường trong nước và ngoài nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX họp
tháng 7/2002 đã đề ra nhiệm vụ cần " thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp...”.Đổi mới
công nghệ đang trở thành vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế nước nhà. Hiện đầu tư đổi mới công nghệ là một vấn đề hêt sức
nóng bỏng, mới mẻ ma các nhà kinh tế và doanh nghiệp đang hết sức quan
tâm. Trên tinh thần đó em đã chọn nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện cơ chế,
chính sách nhằm thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ tại Việt Nam giai
đoạn 2006-2010".
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích thực trạng đầu
tư đổi mới công nghệ ở nước ta và các cơ chế chính sách được ban hành và
triển khai thực hiện thời gian qua. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ nêu bật những tồn
tại, nguyên nhân của tình hình, qua đó kiến nghị các cơ chế, chính sách và
giải pháp nhằm thúc đẩy các nhà đầu tư tiềm năng cả trong nước và nước
vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, các của cải vật chất khác...), tài
sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật...) và nguồn
nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất lao động cao hơn trong
nền sản xuất xã hội.
Trong các kết quả đã đạt được trên đây những kết quả là tài sản vật
chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong
mọi lúc, mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền
kinh tế. Những kết quả này không chỉ nhà đầu tư mà cả nền kinh tế được thụ
hưởng.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế-xã hội những kết quả trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Như vậy nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử
dụng các hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thuộc phạm trù
đầu tư phát triển.
1
. PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt (2004), giáo trình kinh tế đầu tư, NXB Thống Kê
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
Từ đây ta có thể định nghĩa về đầu tư phát triển như sau: Đầu tư phát
triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,
nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo
nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động
của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn
tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời
sống của mọi thành viên trong xã hội.
2. Phân loại các hoạt động đầu tư
Trong công tác quản lý và kế hoạch hoạt động đầu tư các nhà kinh tế
phân loại hoạt động đầu tư theo các tiêu thức khác nhau. Những tiêu thức
mà chỉ thay đổi quyền sử hữu các cổ phần của doanh ngiệp.
Đầu tư phát triển là loại bỏ vốn đầu tư để tạo nên những năng lực sản
xuất phục vụ mới (cả về lượng và chất). Đây là loại đầu tư để tái sản xuất
mở rộng, là biện pháp chủ yếu để cung cấp việc làm cho người lao động, là
tiền đề để thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch.
+ Đầu tư gián tiếp: Trong đó người bỏ vốn đang trực tiếp tham gia
điều hành quá trình thực hiện và phân hành các kết quả đầu tư. Đó là việc
các chính phủ thông qua các chương trình tài trợ không hoàn lại, có hoàn lại
với lãi suất thấp cho các chính phủ của các nước khác và để phát triển kinh
tế -xã hội; là việc các cá nhân, các tổ chức mua các chứng chỉ có giá như cổ
phiếu, trái phiếu...để được hưởng tức lợi (gọi là đầu tư tài chính).
Chính sự điều tiết của bản thân thị trường và các chíng sách khuyến
khích đầu tư theo định hướng của nhà nước, từ đó tạo nên một cơ cấu hợp
lý, có nghĩa là người có vốn sẽ không chỉ đầu tư cho lĩnh vực thương mại
mà cả cho lĩnh vực sản xuất, không chỉ đầu tư tài chính, đầu tư chuyển dịch
mà cả đầu tư phát triển.
3. Vai trò của đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công
nghệ của đất nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cường khẳ năng công nghệ của nước ta hiện
nay. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ Việt Nam lạc
hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo VNIDO, nếu chia quá
trình phát triển công nghệ trên thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam hiện ở
vào giai đoạn 2. Viêt Nam đang là một trong 90 nước kém nhất về công
nghệ. Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được một
chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự
xuất trực tiếp( trong các quá trình chuẩn bị sản xuất và trong phân phối, lưu
thông hàng hoá...). Với định nghĩa này, cả hai khái niệm “công nghệ” và “kỹ
thuật” theo nghĩa hẹp đã được liên kết lại với nhau. Người ta xem phương
pháp và quy trình công nghệ là yếu tố "phần mềm" của công nghệ còn thiết
bị, máy móc và công cụ sản xuất là "phần cứng" của công nghệ.
Tiếp đó sau thập kỷ 90, khái niệm công nghệ được mở rộng hơn. Nó
được định nhĩa như tổng thể của các phương pháp, quy trình, máy móc, thiết
bị cần dùng để sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ, các hiểu biết, kỹ
năng, thông tin cũng như phương thức tổ chức mà con người cần áp dụng để
sử dụng những phương pháp, phương tiện đó. Theo định nghĩa này, công
nghệ được chia thành 4 yếu tố: phần cứng (các phương tiện kỹ thuật như
máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất...); phần mềm (các phương pháp, quy
trình sản xuất và cung cấp sản phẩm-dịch vụ); phần tổ chức (kết cấu hệ
thống sản xuất và quản lý sản xuất, cơ chế vận hành của hệ thống đó); và
phần con người (kể cả các kỹ năng, kỹ xảo, kiến thức thông tin mà người lao
động và các cán bộ quản lý các cấp cần có để sử dụng được công nghệ).
Công nghệ là một khái niệm rộng, thay đổi cùng với sự phát triển của
khoa học công nghệ, điều kiện kinh doanh và yêu cầu của quản lý. Hiện nó
đã bao hàm một nội dung rất rộng và sau này có thể tiếp tục được mở rộng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
Công nghệ, với thuật ngữ quốc tế "technology", được coi là phương
tiện, công cụ để biến đổi giới tự nhiên thành thế giới do con người tạo ra; là
tác nhân chủ chốt trong quá trình biến đổi các tài nguyên thiên nhiên thành
các hàng hoá, dịch vụ.
Theo từ điển bách Khoa Việt Nam phát hành 1999 đã tập hợp 5 khái
niệm được coi là tiêu biểu về công nghệ như sau:
1, Công nghệ là môn khoa học ứng dụng, nhằm vận dụng các quy luật
tự nhiên và nguyên lý khoa học, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của
con người.
quát, tổng hợp về công nghệ đang tồn tại chưa được quan tâm nghiên cứu
đúng mức. Phần lớn các nhà nghiên cứu và quản lý công nghệ đều xem đây
như một trong những điểm yếu trong quản lý công nghệ.
Công nghệ có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau, tuy
nhiên, dù theo tiêu thức nào thì mỗi cách phân loại cũng chỉ đề cập đến một
hoặc một số khía cạnh, phục vụ mục tiêu quản lý có tính chức năng riêng
biệt. Bởi vậy, khi nghiên cứu, quản lý, phát triển công nghệ và năng lực
công nghệ, cần chú ý tới cách phân chia toàn diện và phối hợp đúng với
nhau. Chúng ta phân loại công nghệ dựa theo các căn cứ sau:
- Căn cứ vào tính chất của công nghệ hoặc lĩnh vực khoa học công
nghệ dựa vào đó để thiết kế. Theo đó, công nghệ được chia thành các nhóm
ứng với các lĩnh vực khoa học tự nhiên hoặc khoa học xã hội làm nền tảng
cho nó.
Ví dụ, người ta phân biệt các công nghệ sinh học, công nghệ cơ khí,
công nghệ tin học, công nghệ hoá học... Việc phân chia này có ý nghĩa thực
tiễn ở chỗ: Nếu muốn phát triển những công nghệ thuộc nhóm nào thì cần
phát triển các ngành khoa học tương ứng.
- Căn cứ vào sản phẩm, dịch vụ chủ yếu,đặc trưng sản xuất nhờ
công nghệ được xếp loại. Theo đó, các công nghệ được xếp thành từng
nhóm phục vụ cho việc sản xuất hoàn chỉnh những sản phẩm hoặc cung cấp
các dịch vụ. Ví dụ, người ta phân loại các công nghệ sản xuất ô tô, công
nghệ luyện kim, công nghệ truyền thanh, công nghệ quản lý... Hiện nay
người ta đang sử dụng cách phân loại này khá nhiều để so sánh mức độ đầu
tư cho các công nghệ thuộc các ngành hàng. Nó cũng có ý nghĩa đối với các
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
nhà nghiên cứu, thiết kế công nghệ bởi theo cách phân chia này, có thể dễ
dàng hình dung ra địa chỉ ứng dụng công nghệ.
- Căn cứ vào quá trình tạo ra công nghệ. Theo cách này, các công
nghệ được phân chia thành công nghệ do các tổ chức có nhu cầu về công
Đối với sản xuất kinh doanh trong sản xuất doanh nghiệp, công nghệ
có những vai trò sau đây:
- Công nghệ là một yếu tố cấu thành cơ sở vật chất, tạo nên điều kiện
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt, công nghệ ảnh hưởng trực
tiếp và quyết định tới khả năng sản xuất sản phẩm ngày càng đa dạng,
phong phú để thoả mãn những nhu cầu phát triển của xã hội. Không có sự
phát triển của công nghệ, đặc biệt là những công nghệ mới, công nghệ có
hàm lượng chất xám cao, không thể đa dạng hoá sản xuất và cung cấp cho
thị trường nhiều sản phẩmcó ảnh hưởng quyết định tới nền sản xuất và đời
sống xã hội hiện đại. Nhiều sản sản phẩm mới chỉ có thể được sản xuất nhờ
tiến bộ công nghệ và đổi mới công nghệ, đặc biệt là những công nghệ cao.
Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, những điều kiện sản xuất mới đòi hỏi phải
có những công nghệ phù hợp.
- Công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Tác động này thể hiện trước tiên ở chỗ nhờ công nghệ và
tiến bộ công nghệ mà chất lượng sản phẩm được duy trì và nâng cao, chi phí
được tiết kiệm một cách tương đối để giá thành sản phẩm được giảm bớt,
sản phẩm mới có tính năng, công dụng tốt hơn có thể được thiết kế và đưa
vào sản xuất, tiêu dùng. Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, công nghệ đã
dần trở thành một "yếu tố sản xuất trực tiếp". Chính vì vậy, các doanh
nghiệp đều cố gắng đầu tư với quy mô ngày càng tăng vào công nghệ để tạo
ra sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, việc đổi mới công nghệ chậm
hơn các đối thủ cạnh tranh chính là nguyên nhân tụt hậu của doanh nghiệp.
- Công nghệ tác động mạnh mẽ tới việc tạo lập một hình ảnh cho
doanh nghiệp. Những công nghệ đổi mới công nhệ và sản phẩm một cách
nhanh chóng, liên tục có thể tạo được sự tin tưởng của khách hàng. Nhờ vậy
họ dễ tạo lập, củng cố uy tín cho mình và từ đó tạo lập một hình ảnh thuận
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
lợi trong cạnh tranh. Điều này cũng bắt nguồn từ chỗ người tiêu dùng và
không chỉ làm tăng năng suất, tăng hiệu quả theo cấp số cộng mà là cấp số nhân.
2.2. Vai trò của công nghệ và tiến bộ công nghệ trong việc tạo lập môi
trường kinh doanh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
Đối với việc tạo lập môi trường kinh doanh, công nghệ và tiến bộ
công nghệ vừa có vai trò, ảnh hưởng trực tiếp, vừa có ảnh hưởng gián tiếp.
Vai trò này thể hiện trên các mặt sau:
- Công nghệ cho phép mở rộng và nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất-
kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội. Hệ thống này là những điều kiện
không thể thiếu cho các hoạt động chung của cộng đồng. Việc mở rộng và
nâng cấp chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh cũng như
cho toàn xã hội nói chung.
- Công nghệ cho phép khai thác được những lợi thế, những loại tài
nguyên mà trước đó chưa thể khai thác được. Điều này có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với các loại tài nguyên có trữ lượng nhỏ, có điều bất lợi cho
việc thăm dò, khai thác hoặc chế biến. Chẳng hạn, với những công nghệ và
phương tiện kỹ thuật truyền thống, không thể đặt vấn đề khai thác những mỏ
than, chuyển hoá than thành khí mônô oxyt cacbon, người ta có thể khai
thác dễ dàng và có hiệu quả những mỏ than ở độ sâu vài trăm mét, thậm chí
chỉ với trữ lượng rất thấp. Hoặc nhờ công nghệ chụp ảnh đa phổ diện rộng,
người ta có thể tiến hành điều tra tài nguyên đã với tất cả các vùng lãnh thổ,
bất kể địa hình phức tạp, khó khăn như thế nào.
- Tiến bộ công nghệ cho phép các nhà kinh doanh có thể tiếp cận và
xử lý thông tin một cách nhanh chóng, kiểm tra các thông tin một cách dễ
dầng. Đặc biệt quan trọng là các lĩnh vực công nghệ thông tin, từ điện tử,
điện thoại, mạng internet. Nhờ chúng mà các thông tin về kinh doanh cũng
như môi trường kinh doanh mới được hình thành. Chính nhờ những sáng
chế và phát minh trong lĩnh vực điện tử và các công nghệ dựa trên các phát
minh này mà công nghiệp điện tử được hình thành và phát triển, cũng nhờ
xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Từ đó làm thay đổi cơ
cấu kinh tế theo hướng tích cực, thể hiện:
+ Tỷ trọng trong GDP cuả ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng
tăng dần, còn của ngành nông nghiệp thì càng giảm.
+ Cơ cấu kinh thế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng
ngày càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng kỹ thuật,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
công nghệ cao. Lao động tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô
thị hoá cũng ngày càng nhanh. Tất cả trở thành đặc trưng của sự phát triển
công nghệ
- Tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, thúc đẩy phát triển kinh tế thị
trường. Mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Muốn
vậy các doanh nghiệp phải sản xuất mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hoá
chi phí các yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã,
hình thứ hàng hoá…cho phù hợp. Những yêu cầu đó chỉ được thực hiện khi
áp dụng công nghệ vào trong sản xuất kinh doanh. Việc áp dụng công nghệ
vào sản xuất, kinh doanh không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh, mà còn tạo ra
nhiều loại sản phẩm mới, tăng quy mô sản xuât doanh nhiệp, nâng cao vị thế
doanh nghiệp trên thị trường.
3. Các hướng phát triển công nghệ.
3.1. Những xu hướng chủ yếu trong phát triển ứng dụng công nghệ và sản
xuất kinh doanh
a.Các hướng phát triển và đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
Công nghệ và sự phát triển, đổi mới chúng sẽ trở thành động lực trực
tiếp thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất-kinh doanh. Việc lựa chọn
hướng phát triển, ứng dụng chúng sẽ quyết định trực tiếp và mạnh tới hướng
cũng như khả năng phát triển của doanh nghiệp. Theo những dự báo gần đây
của các chuyên gia kinh tế và công nghệ, có thể hình dung sự đổi mới và
phát triển công nghệ trong vài thập kỷ tới như sau:
hoá, công nghệ vật liệu mới và công nghệ hàng không vũ trụ.
+ Công nghệ sinh học: hướng áp dụng công nghệ sinh học được tăng
cường trên hai mặt. Chúng sẽ được sử dụng để tạo ra ngày càng nhiều
những sản phẩm mới, có nguồn gốc sinh học tự nhiên để thay thế các sản
phẩm hoá học đã được sử dụng quá nhiều. Sản phẩm của công nghệ sinh
học sẽ được áp dụng phục vụ cho sản xuất và đời sống, đặc biệt là việc đảm
bảo và tăng cường sức khoẻ và năng lực của con ngưòi. Các phương pháp
sinh học sẽ được áp dụng độc lập hoặc kết hợp đan xen với các phương
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
pháp cơ-lý-hoá truyền thống. Công nghệ gen sẽ là một trong những hướng
được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ.
+ Công nghệ điện tử-tin học. Tin học hoá, tự động hoá sẽ được áp
dụng trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Bên cạnh việc
hoàn thiện và tạo ra các thiết bị tự động mới có tính năng, tác dụng hoàn
hảo, tiết kiệm và thuận tiện trong sản xuất sử dụng nhiều hệ thống tự động
hoá toàn bộ các quy trình, dây chuyền công nghệ tự động hoá toàn bộ, các
xưởng sản xuất và các nhà máy tự động hoá hoàn toàn cũng sẽ được đưa vào
sản xuất với số lượng và tỷ trọng ngày càng nhiều. Công nghệ thông tin và
những tiến bộ mạnh mẽ trong lĩnh vực này sẽ cho phép tìm kiếm, trao đổi,
khai thác các thông tin công nghệ một cách nhanh chóng trên phạm vi rộng.
Nhờ vậy nó đã trở thành một nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ công nghệ trên các
lĩnh vực khai khác. Tuy nhiên, bản thân công nghệ thông tin cũng là ngành
cần luôn được đổi mới, và trở thành ngành có độ rủi ro cao.
+ Công nghệ vật liệu mới. Nhóm công nghệ này bao gồm các công
nghệ và kỹ thuật cụ thể liên quan tới việc sản xuất ra các loại nguyên, vật
liệu mới trên cơ sở những nguyên lý khoa học đã biết, nhưng chưa được ứng
dụng trong công nghệ hoặc chưa được biết tới. Nó cũng bao gồm cả việc
khai thác các công dụng mới của các nguyên, vật liệu đã được sử dụng. Đặc
biệt các loại "vật liệu thông minh" với các tính năng rất đa dạng sẽ được
chóng hơn với những thay đổi trong môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự
thay đổi trong nhu cầu người tiêu dùng bản thân việc quản lý và thay đổi các
phương án bố trí công nghệ như thế này cũng sẽ được tự động hoá.
- Tốc độ mới công nghệ cũng như tốc độ nghiên cứu, triển khai và
ứng dụng công nghệ mới sẽ nhanh chóng hơn. Chu kỳ đổi mới công nghệ sẽ
được được rút ngắn. Mức độ mới của các công nghệ mới cũng sẽ rất khác
nhau. Bên cạnh những công nghệ hoàn toàn mới sẽ có những công nghệ chỉ
có các yếu tố mới bộ phận. Việc đánh giá công nghệ để lựa chọn đầu tư cho
chúng sẽ được ưu tiên xem xét trên cơ sở mức độ phổ biến của nó và hiêu
quả do nó đưa lại.
c. Về việc tổ chức phát triển và ứng dụng công nghệ
Việc tổ chức phát triển và ứng dụng công nghệ có ảnh hưởng to lớn
không chỉ hiệu quả của các hoạt động khoa học-công nghệ, mà tới chính bản
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
thân việc tiếp tục duy trì và phát triển các hoạt động đó. Những xu hướng
chủ yếu là rất chặt chẽ giữa các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ với
các cơ sở sản xuất kinh doanh, biến chúng trở thành một bộ phận trong hệ
thống kinh doanh của các cơ sử sản xuất kinh doanh, biến chúng trở thành
một bộ phận trong hệ thống kinh doanh của các cơ sở sản xuất. Theo xu
hướng này, tỷ trọng của các cơ sở nghiên cứu độc lập sẽ giảm mạnh. Ngay
các cơ sở này cũng dành một phần năng lực ngày càng lớn của mình nghiên
cứu các chương trình phục vụ các doanh nghiêp hoặc thực hiện các dự án,
kế hoạch nhiên cứu, sự liên kết giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng
dụng sẽ được tổ chức chặt chẽ hơn. Số lượng các chương trình, dự án, đề tài
nghiên cưú có địa chỉ ứng dụng hoặc định hướng theo các dịa chỉ ứng dụng
cụ thể sẽ chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối. Ngược lai các cơ sử nghiên cứu thuần
tuý trước đây và hiện nay cũng sẽ tham gia vào việc nghên cứ cơ bản ngày
càng nhiều hơn. Sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cưú, ứng dụng sẽ có quy
mô ngày càng tăng và tính chất ngày càng đa dạng. Sự trao đổi cán bộ và
những tiến bộ công nghệ được tổ chức ở nhiều nơi, việc nghiên cứu trùng sẽ
có xác xuất cao hơn, làm giảm sác xuất ứng dụng kết quả của một dự án nghiên
cứu cụ thể.
III. ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ
1. Khái niệm và các điều kiện đổi mới công nghệ.
1.1. Khái niệm đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ (technological innovation) là hoạt động nghiên
cứu nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ đã có, góp phần cải thiện chất
lượng, hạ giá thành, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh
3
. Đổi
mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: hoạt động
nghiên cưú và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt
hơn, có sức hấp dẫn hơn và khẳ năng cạnh tranh hơn; hoạt động nghiên cứu
và triển khai để cải tiến, đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí
thấp hơn, năng suất, hiệu quả cao hơn; nhiên cứu để hoàn thiện công nghệ
sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sán xuất nhập ngoại cho phù hợp với
điều kiện trong nước. Hoạt động đổi mới công nghệ không chỉ dừng lại ở
3
. TS. Nguyễn Văn Phúc, (2002), giáo trình quản lý đổi mới công nghệ, NXB Thống Kê
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Anh Dũng Phát triển 44B
khâu nghiên cứu đổi mới đó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Toàn bộ quá trình đổi mới công nghệ bao gồm việc tạo ra và triển
khai ứng dụng tiến bộ công nghệ vào thực tiễn được cấu thành bởi ba giai
đoạn có tính kế tiếp nhau: phát minh, đổi mới và truyền bá.
Phát minh và sáng chế là ba giai đoạn đầu tiên tạo tiến bộ công nghệ.
Đó là quá trình tìm tòi các ý tưởng mới và biến chúng thành các giải pháp
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động công nghệ và đổi mới công nghệ
Hoạt động của tiến bộ công nghệ không chỉ được đánh giá bằng các
chỉ tiêu tuyệt đối như công ty IBM đã chi 5201 triệu USD cho nghiên cứu
và phát triển, trong khi công ty Andant chi hơn 277 triệu USD. Tuy nhiên từ
thông tin trên chưa thể nói rằng IBM là hãng có hoạt động công nghệ tốt
hơn. Tính theo doanh số đã Amdaht đã chi 13.2% trong khi đó IBM chỉ chi
8.3%. Tính theo lợi nhuận Amdaht chi 109%, IBM chi 78%.Rõ ràng ở đây
phải tính theo các chỉ tiêu tương đối nhằm dựa vào một mặt bằng thống nhất
để có thể so sánh được hoạt động của các đơn vị khác nhau. Một số chỉ tiêu
sau thường được dùng để đánh giá hoạt động đổi mới công nghệ và tiến bộ
công nghệ.
-Tỷ lệ (%) doanh thu dành cho nghiên cứu và phát triển
-Tỷ lệ (%) chi phí dành cho nghiên cứu và phát triển trong tổng chi
phí sản xuất kinh doanh.
-Tỷ lệ (%) chi phí nghiên cứu và phát triển so với lợi nhuận.
Do đặc điểm kỹ thuật-công nghệ của mỗi ngành mà tỷ suất đầu tư
cũng như nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ của mỗi ngành hoàn toàn khác
nhau, làm cho sự so sánh các chỉ tiêu cho nghiên cưú đầu tư giữa các ngành
không phải lúc nào cũng có ý nghĩa. Chính vì thế, các chỉ tiêu trên thường
được so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành hơn là giữa các ngành với
nhau.
2. Các hình thức đổi mới công nghệ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp