Các biện pháp thâm canh và tăng năng suất pot - Pdf 18

Các biện pháp thâm canh và tăng năng xuất - chất lượng mía.

Để đạt mục tiêu phấn đấu niên vụ mía 2011 - 2012 đạt năng suất bình quân từ 65 - 70 tấn/ha, chữ
đường: 10 CCS. Ban Cải tiến NS-CL mía đề nghị cho áp dụng quy trình KỸ THUẬT THÂM CANH
TĂNG NĂNG SUẤT – CHẤT LƯỢNG MÍA, áp dụng trên mía trồng mới vụ HT và ĐX 2010 và mía
chăm sóc gốc tại các khu vực thuộc diện tích hợp đồng trồng mía trong vùng nguyên liệu công
ty.

A. CHẾ ĐỘ CANH TÁC:

1. THỜI VỤ TRỒNG.

a. Vụ HT 2011
Thời gian trồng từ : 15/04 – 15/05/10
(Tùy theo điều kiện thời tiết có thể trồng sớm hơn so với lịch trên)
b. Vụ ĐX 2011.
Tùy theo điền kiện từng lô đất thời vụ trồng có thể bố trí như sau:
- Vùng đất gò cao: từ 15/10 – 30/11/11
- Vùng đất thấp: từ 01/12 – 31/12/11

2. CHỌN GIỐNG.
Chọn giống có năng suất chữ đường cao, thích nghi với điều kiện canh
tác ở từng dạng đất. Các giống mía đã được chọn lọc, đang được nhân giống
trong vùng nguyên liệu của công ty là: VN84-4137 (phục tráng giống); K93-
219; K95-156; K95- 161; K 95-84; LK 92-11; K 88-200; và phục tráng giống K
84-200 …
Đối với giống VN84-4137 được bố trí ở những vùng đất cao, thuận lợi
giao thông vận chuyển để thu hoạch đầu vụ chế biến.
Hom mía giống được chọn trên những lô mía tơ, có chế độ canh tác
riêng cho mía giống, sạch sâu bệnh và không lẫn giống.
Trong quá trình lột tề ngọn phải loại bỏ hết các hom mía không đạt tiêu

 Trồng vụ Đông xuân đối với đất trảng nhiễm phèn không nên cày quá
tầng sinh phèn
 Yêu cầu kỹ thuật làm đất mía chăm sóc:
Cày không l
ật (ngay sau khi
băm gốc).
Máy kéo công suất 890 HP
trở lên.
01 lần
Giàn cày 02 lưỡi
Khoảng cách giữa 2 lưỡi
100 - 110 cm ( tùy theo khoảng cách
giữa 2 hàng mía)
Phải đạt độ sâu > 40 cm

4. PHÂN BÓN.
a. Trồng mới.
Công thức bón:
Bón NPK theo công thức:200 - 220 kgN , 150 - 160 kgP
2
O
5
, 200 -220 K
2
O
kg/ 01ha.
Gồm các loại sau:
Vôi 1000 kg

Bón sau khi cày

* Công thức bón: Tăng thêm 15% so với mía tơ.

5. TƯỚI NƯỚC.
- Là biện pháp tăng năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tưới
nước có thể tăng năng suất từ 20 - 40 tấn/ha.
- Khoảng cách giữa các lần tưới cách nhau từ 10-20 ngày/lần đối với
tưới phun.
20 - 30 ngày/lần đối với tưới chảy.
- Thời điểm tưới: từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm.
- Tưới vừa đủ ẩm đất, không nên tưới dư nước dễ làm đất bị nén chặt
và lãng phí nước.

6. CHĂM SÓC, LÀM CỎ, BVTV.
- Đối với mía trồng mới nên phun thuốc diệt mầm khi đất còn đủ ẩm,
tiến hành làm cỏ kịp thời khi cỏ mới xuất hiện, không để cỏ trổ bông. Dùng
thuốc diệt cỏ gốc Glyphosate phun xịt các đường ranh không trồng mía.
- Đối với mía gốc, sau khi thu hoạch tiến hành cày không lật giữa hàng,
sau đó cày ra, bón phân và tro ở giữa hàng mía rồi cày lấp lại để hạn chế bốc
hơi và rửa trôi phân bón.
- Các vùng đất thấp triền trảng nên sử dụng thuốc trừ cỏ gốc Ametryn,
Atrazine, Diuron hỗn hợp với 2,4D mang lại hiệu quả cao hơn so với làm thủ
công. (Theo hướng dẫn sử dụng thuốc trừ cỏ cho mía)
- Tiến hành phòng trừ sâu bệnh theo phương pháp phòng trừ dịch hại
tổng hợp (IBM). Khi sử dụng thuốc BVTV phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng:
Đúng lúc; đúng thuốc; đúng liều; đúng cách.

7. THU HOẠCH.
- Lịch thu hoạch mía căn cứ trên giống mía, thời gian trồng, ngày thu
hoạch vụ trước. Kiểm tra độ Brix ngoài đồng trước khi thu hoạch. Đối với mía
gốc có thời gian chín sớm hơn mía vụ tơ nên cần bố trí thời gian thu hoạch

với sự phân giải của VSV, sét là thành phần keo của các chất Vô cơ, thì mùn
là thành phần keo của CHC. Do màng điện tích trên bề mặt nên mùn và sét
chính là cầu nối giữa các hạt của đất, cả hai mùn và sét đóng vai trò quan
trọng trong sự hình thành cấu trúc của đất. Điện tích bề mặt của mùn và sét
có khả năng hấp thu và giữ các ion dinh dưỡng, các phân tử nước. Tuy
nhiên, khả năng giữ chất dinh dưỡng và nước của mùn cao hơn rất nhiều so
với sét tính trên một đơn vị trọng lượng. Khác với sét, mùn còn chứa một số
thành phần khác như các chất kích thích sự sinh trưởng của thực vật, tuy với
một hàm lượng rất nhỏ trong đất, nhưng mùn có thể kích thích sự gia tăng
sinh trưởng của thực vật một cách đáng kể.

II. CHẤT LƯỢNG ĐẤT, SỰ THOÁI HOÁ VÀ PHỤC HỒI.
Đất là tài nguyên cơ bản và có giới hạn của tất cả hệ sinh thái. Trong
lịch sử con người chúng ta làm huỷ hoại đất rất nhanh so với sự huỷ hoại của
tự nhiên, một số loại đất bị xói mòn nghiêm trọng, khai thác triệt để…… Hậu
quả trên sẽ gây thoái hoá chất lượng đất dẫn đến sa mạc hoá.
1. CHẤT LƯỢNG ĐẤT.
Chất lượng đất là chỉ số đo khả năng thực hiện các nhiệm vụ sinh thái
học của đất, chất lượng đất phản ảnh tổng hợp các tính chất hoá học, lý học
và sinh học. Trong đó có một số tính chất tương đối không thay đổi. Các tính
chất nầy dùng để xác định các loại đất riêng biệt, như sa cấu đất và thành
phần khoáng học của đất. Các tính chất như: cấu trúc đất, hàm lượng CHC
có thể thay đổi bởi kỷ thuật quản lý đất, kỷ thuật canh tác các tính chất tương
đối dễ thay đổi có thể dùng để đánh giá chất lượng đất so với tìm năng của
chúng, tương tự như độ đục của nước và hàm lượng 0
2
dùng để đánh giá
chất lượng nước của một dòng sông.
2. SỰ THOÁI HOÁ ĐẤT.
Khi chế độ quản lý không thích hợp sẽ làm đất thoái hoá nghiêm trọng

trồng còn cần rất ít nguyên tố vi lượng (TE) như: Fe, Bo, Mo, Mn……
Mía là cây cao sản một năm có thể cho ta từ 100- 200 tấn mía cây.
Thời gian sinh trưởng của cây mía dài từ 10- 15 tháng nên yêu cầu dinh
dưỡng cao hơn các cây trồng khác.
Kỹ thuật bón phân cho mía nhằm đạt 03 mục tiêu:
- Tăng năng suất cây mía.
- Tăng hàm lượng đường.
- Nâng độ phì nhiêu của đất.
Để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế lâu dài và
bền vững.
Thông thường muốn có được 100 tấn mía cây nguyên liệu cây mía cần bón:
N: 200- 220 kg (nguyên chất)
K: 200- 270 kg (nguyên chất)
P
2
O
5
: 80- 170 kg (nguyên chất)

1. PHÂN ĐẠM VÀ CÁCH BÓN:
- CO(NH
2
) Urê. 46%
- (NH
4
)
2
S0
4
(SA) Sulfate amon chứa 21% N và 24%S

lượng mía.
Đạm tham gia vào thành phần các Acil Amin và các chất Proterin trong cây
mía, phần lớn N chứa trong các tế bào sinh trưởng.
Cây mía có thể hút đạm để dự trữ trong cây rồi dùng dần. Thông
thường bón 1 kg đạm nguyên chất có thể cho 1 tấn mía nguyên liệu.
Tuỳ đất, giống và mục tiêu năng suất người ta có thể bón từ 200- 220 kg đạm
nguyên chất cho 1 ha mía.
Có thể bón đạm cho mía dười nhiều dạng phân khác nhau như sumfat
a môn (SA) (NH
4
)
2
SO
4
Nitratamon (NH2)CO phân Urê, phân DAP, phân tổng
hợp NPK
Thiếu đạm lá mía có màu vàng nhạt, mía thường đẻ ít, cây hữu hiệu thấp,
sớm bước vào giai đoạn tích luỹ đường. Đủ đạm mía sẽ đẻ nhiều cây to cao,
bộ lá xanh tươi số lá xanh tồn tại nhiều.
Thừa đạm lá sẽ có màu xanh thẫm, cây yếu ớt dễ đỗ ngã, lóng dài,
nhiễm sâu bệnh, hàm lượng đường thấp chín chậm hơn bình thường.
Cách bón N có thể bón: 2- 3lần/vụ. (1 lần lót, 1 lần thúc, hoặc 1 lần lót 2
lần thúc)
Bón N phải nắm vững các nguyên tắc sau:
+ Bón ngầm và bón sâu để hạn chế lượng đạm mất đi do ánh
nắng bốc hơi và do mưa rửa trôi, chảy tràn.
Không nên bón đạm rải láng trên mặt đất. Nếu bón 2- 3 lần thì
các lần bón thúc phải cày ra, xong bón phân vào rãnh rồi lắp lại. Hoặc dùng
cuốc bón phân vào đất và lấp đất lại. Hoặc kết hợp bón phân với vun gốc
(bón xong vun gốc ngay)

CaCO
3
(CaOH)
3

- DAP (NH
4
)
2
+ HPO
4
(Diamononium) Phosphate (46% P
2
O
5
) và 18% N
- MAP NH
4
H
2
PO
4
(13- 48- 0) Monoammonium Phosphate (48% P
2
O
5
)
và (13% N)
- Lân giúp cho việc tạo thành Protein có trong nhân Tế bào và gần như
kiểm soát phần lớn các hoạt động của tế bào giúp cho tế bào phân chia và

1. KCl chức 60- 63% K
2
O màu đỏ, nâu, hung, trắng tuỳ thuộc vào mỏ
khai thác và qui trình chế biến
2. K
2
SO
4
chức 50- 53% K
2
O và 17 % S
3. KNO
3
chứa 13 % N 44% K
2

- Cây mía cần một lượng kali rất lớn, lớn hơn cả N và P, cây mía cần
nhiều Kali nhưng Kali không phải là thành phần tham gia cấu trúc tế bào, kali
chỉ tham gia vào thành phần các men, làm nhiệm vụ xúc tác trong các hoạt
động sinh lý, sinh hoá của cây mía.
- Kali không tham gia vào cấu trúc tế bào, nhưng lại rất cần trong quá
tình hình thành tế bào, cấn thiết trong quá trình đồng hoá Carbon, khi quang
hợp, trong quá trình tổng hợp Proterin.
- Kali giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển Proterin và đường,
giữ sự cân bằng nước trong cây. Làm giảm xu hướng héo rủ, tăng khả năng
chịu hạn và chống đỗ ngã của cây mía.
- Bón Kali đầy đủ và cân đối với N, P sẽ làm cho cây mía sinh trưởng
mạnh đẻ nhiều, bộ rễ phát triển tốt, năng suất mía cây cao. Tích luỹ đường
tốt và tích luỹ đường sớm hơn, phẩm chất nước mía tốt, độ thuần khiết cao
dễ chế biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status