Đề cương môn tài chính tiền tệ - chương 1 - Đại cương về tiền tệ, tín dụng và tài chính - Pdf 18

PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ, TÍN DỤNG VÀ TÀI CHÍNH
2. Vai trò và chức năng của tiền tệ.
a. Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở 3 mặt sau:
Thứ nhất:
- Tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh
tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng “ người ta không thể tiến hành sản xuất hàng
hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó”.
- Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu
thông là cho việc đo lường và việc biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản
đơn, thuận lợi và thống nhất làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông
tiến hành một cách chôi chảy. Mặt khác khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh
doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả
sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để tái sản xuất kinh doanh.
- Tiền tệ chở thành công cụ duy nhất và không thể tiếu để thực hiện yêu
cầu quy luật giá trị. Vì vậy nó là công cụ không thể thiếu để mở rộng và phát
triển nền kinh tế hàng hóa.
Thứ hai:
- Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế.
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị
trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã
hội trong phạm vi quốc gia và còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở
rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
- Cùng với ngoại thương, ta quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ
phát huy và trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở
rộng các quan hệ quan hệ quốc tế, nhất là các mối quan hệ nhiều mặt giữ các
quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển cho su thế hội nhập trên các lĩnh
vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa
các nước.
Thứ ba:
- Tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng

được chi phí trong trao đổi do giảm được số giá cần xem xét.
* Là phương tiện cần trao đổi.
- Tiền tệ là phương tiện cần trao đổi khi nó được dùng để mua bán hàng
hóa, dịch vụ, hoặc thanh toán các khản nợ cả trong và ngoài nước. Việc dungf
tiền làm phương tiện trao đổi đa năng cao hiệu quả của nền kinh tế, bởi nó đã
tiết kiệm được các chi phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp (hàng đổi
hàng). Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng, các chi phí giao dịch
thường rất cao. Bởi vì, người mua, bán phải tìm được những người trùng hợp
với mình về nhu cầu trao đổi, thời gian trao đổi, không gian trao đổi. Quá trình
trao đổi chỉ được diễn ra khi có sự phù hợp đó.
- Tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao đổi đã hoàn toàn khắc phục
được hạn chế đó của quá trình trao đổi trực tiếp. Người có hàng bán lấy tiền, sau
đó sẽ mua được hàng hóa mà họ cần. Bởi vậy người ta coi tiền như thứ dầu mỡ
bôi trơn, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên
môn hóa và phân công lao động.
* Là phương tiện dự trữ về mặt giá trị.
- Tiền tệ là nơi chứa sức mua hàng hóa trong một thời gian nhất định. Nhờ
chức năng này của tiền tệ mà người ta có thể tách thời gian từ lúc có thu nhập
đến lúc tiêu dùng nó.
- Chức năng này là quan trọng, vì mọi người đều không muốn chi tiêu hết
thu nhập của mình ngay khi nhận nó, mà dự trữ để sử dụng nó trong tương lai.
- Tất nhiên, tiền không phải duy nhất là nơi chứa đựng giá trị, mà các tài
sản khác cũng là nơi chứa giá trị như cổ phiếu, thương phiếu… Nhưng tiền là tài
sản có tính lỏng cao nhất, bởi nó là phương tiện trao đổi, nó không cần phải
chuyển đổi thành bất cứ cái già khác với mục đích mua hàng hóa hoặc chi trả
tiền dịch vụ.
CHƯƠNG 2:HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

15,Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
2

trong năm 2009 chắc chắn nguồn vốn FDI đổ vào lĩnh vực này sẽ giảm ảnh
hưởng đến tổng nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009. Thực tế rằng làn sóng
nguồn vốn FDI chủ yếu là do việc cấp phép cho một số dự án đại quy mô. Ghi
nhận trong tháng 7 tháng đầu năm 2008,có 8 dự án chiếm đến 75% tổng nguồn
vốn FDI được đăng ký. Trong đó có tới sáu dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động
sản có quy mô lớnđó là:dự án phát triển khu đô thị mới của Brunei ở Phú Yen,
một khu phức hợp dân cư và đại học của Malaysia ở TP.HCM,hai khu nghỉ mát
ở Bà Rịa- Vũng Tàu và một khu nghỉ mát ở kiên Giang. Thực tế là nguồn vốn
FDI được giải ngân của Việt Nam trong năm 2009 phụ thuộc rất nhiều vào việc
thực thi các dự án này. Tuy nhiên thực tiễn trong thời gian qua về tiến trình giải
ngân của các nhà đầu tư bất động sản ở Việt Nam và các nơi khác cho thấy việc
coi toàn bộ số vốn này sẽ dược triển khai là quá lạc quan.Bên cạnh đó với thực
trạng của nền kinh tế toàn cầu hiện nay thì khả năng các dự án trên bị đình hoãn
hoặc giảm bớt quy mô đầu tư là hoàn toàn có thể xảy ra.Do đó Việt Nam không
thể chắc chắn rằng khi các dự án có được triển khai thì có thực sự được giải
ngân nguồn vốn FDI ở quy mô lớn như thế hay không.
3
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
Hơn nữa bất động sản là một lĩnh vực không trực tiếp tạo ra hàng xuất khẩu
vốn là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm gần
đây,mặc dù các khu nghỉ mát và khách sạn sẽ thu hút được du khách nước ngoài
đến Việt Nam và mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể tuy nhiên điều này đòi hỏi
Việt Nam phải có một chiến lược lâu dài và đồng bộ liên quan đến rất nhiều lĩnh
vực khác.Ngoài ra lĩnh vực bất động sản không phải là lĩnh vực tạo ra nhiều việc
làm.Một điều thực sự lo lắng là FDI đầu tư vào ngành chế biến thực phẩm và
công nghiệp nhẹ,hai ngành cung cấp rất nhiều việc làm cũng như tạo tiềm năng
phát triển cho các ngành công nghiệp phụ trợ,chỉ đạt tổng cộng 2 tỷ USD so với
2,7 tỷ trong năm 2007.
Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vón FDI của Việt Nam hiện nay dang
thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các

Các doanh nghiệp FDI vẫn thu hút nhiều lực lượng lao động, với quy mô
khoảng hơn 300 lao động/doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tìm kiếm lao
động có tay nghề của các doanh nghiệp FDI vẫn gặp khó khăn nhất
định, thậm chí việc huy động lao động phổ thông, làm việc có năng suất
trong môi trường công nghiệp cũng không phải là dễ.
Theo các báo cáo nhận được, trong 8 tháng đầu năm 2010, cả nước có
658 dự án đăng ký mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT),
tổng số vốn đăng ký là 10,79 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm
trước. Đây là con số khá cao trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Nó cho
thấy, các doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục quan tâm đến thị trường Việt
Nam. Tuy nhiên, đây phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số
vốn dưới 20 triệu USD.
Tuy nhiên, trong 8 tháng đầu năm 2010, chỉ có 143 dự án tăng vốn đầu
tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 0,787 tỷ USD, bằng 14,2% số vốn
và 53% số dự án so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung cả cấp mới và
tăng vốn, trong 8 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã
đăng ký đầu tư vào Việt Nam 11,577 tỷ USD, bằng 87,7% so với cùng kỳ
2009. Con số khiêm tốn này phản ánh khung cảnh kinh tế thế giới vẫn
5
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
còn trong khó khăn và sự cạnh tranh đầu tư vào Việt Nam vẫn còn là
điều phải suy nghĩ.
Điều đáng lưu ý là, trong khi một số nhà đầu tư còn e dè vì môi trường
đầu tư còn nhiều khó khăn cả về luật pháp và cơ sở hạ tầng, thì một
đánh giá chung của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF 2010/2011 vừa qua
cho thấy, thứ hạng cạnh tranh quốc gia GCI của Việt Nam đã tăng 16
bậc, đạt thứ 59 trong 137 quốc gia được so sánh, tức là xếp ở nửa hạng
trên. Cũng trong luồng thông tin thuận chiều này, Việt Nam chính thức
gia nhập Nhóm các nền kinh tế có thu nhập trung bình với tổng thu nhập
quốc dân GNI bình quân đầu người đạt trên 1000 USD/người.

Việt Nam với 1 dự án trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, có
tổng vốn đầu tư đăng ký là 16 triệu USD. Cũng cần nhấn mạnh là, nhiều
đối tác đầu tư quan trọng đã có bước chuyển mạnh mẽ trong thực hiện
dự án, như các đối tác Nhật Bản, Tây Âu, tạo nên sự chuyển biến tích
cực trong nền kinh tế.
Bảng 1: FDI 8 tháng đầu năm 2010

TT

Chỉ tiêu

Đơn vị
tính

8 tháng
năm

8 tháng
năm

So cùng
kỳ
7
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
2009 2010

1

Vốn thực
hiện


3.1. Cấp mới dự án 732 658 89.9%
3.2. Tăng vốn
lượt dự
án 268 143 53.4%

4

Xuất khẩu 4.1.
Kể cả dầu
thô triệu USD 18,930 23,964 126.6%
4.2.
Không kể
dầu thô triệu USD 14,763 20,651 139.9%


Tuy nhiên, đứng ở tầm cao năm 2010, cũng có thể nhận thấy một số
thách thức, khó khăn và yếu kém của khu vực kinh tế FDI trước yêu cầu
phát triển bền vững và tái cấu trúc nền kinh tế trong giai đoạn phát triển
mới.
Thách thức và yếu kém khu vực FDI năm 2010
Chất lượng nguồn vốn FDI chưa cao:
Khi nói vốn FDI, người ta thường nhấn mạnh đó là nguồn bổ sung vốn
quan trọng trong tổng nguồn vốn, nhất là trong giai đoạn khởi động nền
kinh tế. Tuy nhiên, mấy năm gần đây, một mặt tổng nguồn vốn FDI thực
hiện ở Việt Nam đã đạt mức trên 10 tỷ USD (với số vốn bên ngoài
chuyển vào trên 8 tỷ USD) là con số lớn, chiếm khoảng ¼ tổng vốn đầu
tư cả nước. Nếu so sánh tỷ lệ này với các nước trong vùng, hay với
Trung Quốc và các nước khu vực thì đó là tỷ lệ nguồn vốn FDI lớn (chỉ
thua Singapore). Tuy nhiên, các nguồn vốn này thường được dành cho
đầu tư các dự án thuộc loại “gia công”, cho nên dù tạo ra đến 45% giá trị
sản lượng sản phẩm công nghiệp, nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng của khu
9
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
vực FDI trong công nghiệp lại chỉ đạt 40% MVA, chưa tạo nên hiệu quả
vượt trội tương ứng.
Góp phần vào việc tăng nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm:
Các doanh nghiệp FDI đã tạo nên giá trị xuất khẩu lớn (kể hay không kể
dầu khí), chiếm trên dưới 50% giá trị xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, nếu
xét kỹ, các doanh nghiệp FDI mới tạo ra được nhiều bán thành phẩm
(như lắp ráp máy tính, trong mạng lưới sản xuất toàn cầu). Đồng thời,
trong điều kiện Việt Nam tham gia WTO và ký các Hiệp định tự do
thương mại, các doanh nghiệp FDI ngày càng hướng cả vào thị trường
gần 100 dân có thu nhập đang lên của Việt Nam. Chính vì vậy, nhiều
doanh nghiệp FDI cũng góp phần vào việc tăng nhập siêu, do cơ chế
“gia công” còn lớn, tỷ lệ “nội địa hóa” còn thấp, điển hình như công

Trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp FDI đã chú
trọng khai thác nhiều tài nguyên tự nhiên (nhất là tài nguyên không tái
tạo như khai thác mỏ khoáng sản), gây tàn phá môi trường tự nhiên. Bài
học của doanh nghiệp Vedan cũng chỉ là một ví dụ mới nhất, mà hệ quả
chưa nhìn thấy hồi kết. Đó là chưa kể ô nhiễm khí, ô nhiễm tiếng ồn, ô
nhiễm bụi thậm chí phá hoại đa dạng sinh học cũng cần được quản lý
chặt chẽ.
Về đóng góp tài chính cho ngân sách quốc gia:
Các doanh nghiệp FDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho Ngân sách
Nhà nước xét về tổng thể. Tuy nhiên, nếu có tới 50% doanh nghiệp liên
tục khai kinh doanh bị lỗ, và phần lớn các liên doanh đã chuyển sang
hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài cho thấy có điểm gì đó chưa ổn
11
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
cần quản lý chặt chẽ hơn. Tình trạng chuyển dự án dễ dàng sau Luật
Đầu tư 2005 đã tạo ra kẽ hở để có thể “bán” dự án, làm cho quản lý tài
nguyên và đất đai thêm khó khăn. Các dự án địa ốc gần đây cần được
theo dõi sát hơn, vì có dự án 4,1 tỷ USD, nhưng vốn tự có (vốn pháp
định hay vốn điều lệ) chỉ 100 triệu USD. Nhiều dự án đã bị các địa
phương rút giấy đầu tư cũng có nguyên nhân đầu tư “ảo” rất đáng lo
ngại này.
Còn một số dự án kém chất lượng
Do tình trạng phân cấp dẫn đến chia cắt “cát cứ” và trình độ quản lý,
thẩm định dự án chưa tương xứng, nên có địa phương đã thu hút các
dự án chưa được chuẩn bị kỹ, hoặc chưa đáng thu hút. Nói cách khác,
tình trạng sàng lọc kém các dự án là khá phổ biến.
Tất cả những yếu kém này cần được ghi nhận, theo dõi để có thể có
những giải pháp đúng. Điều đó không chỉ lợi cho nước chủ nhà Việt
Nam, mà còn có lợi cho cả các nhà đầu tư FDI chân chính, làm ăn đứng
đắn. Khi phía Việt Nam biết nói không với các dự án chất lượng kém, thì

để nâng cao chất lượng khu vực FDI theo hướng phát triển bền vững,
tạo ra cơ chế kinh tế thông thoáng dễ tiên liệu cho các nhà đầu tư trong
điều kiện xây dựng cộng đồng kinh tế khu vực và hội nhập quốc tế sâu
rộng.
Làm được như trên, khu vực kinh tế FDI chắc chắn tiếp tục là điểm sáng
trong năm 2011, đóng góp tích cực vào quá trình tái cơ cấu kinh tế trong
hội nhập
(nguồn:tạp chí bộ tài chính)
13
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
CHƯƠNG 3: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC(NSNN)
20,Thu NSNN (khái niệm,phân loại thu NSNN)
*Khái niệm:
Xét về mặt nội dung kinh tế,thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối nảy
sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để tập chung một bộ
phận tổng sản phẩm quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ trung của nhà nước.
Nét nổi bật của việc thu NSNN là: Trong bất cứ xã hội nào ,cơ cấu các khoản
thu NSNN đều gắn liền với chức năng ,nhiệm vụ và quyền lực chính trị của nhà
nước. Sự ra đời , tồn tại , phát triển của nhà nước là điều kiện xuất hiện các
khoản thu NSNN . Ngược lại,các khoản thu NSNN là tiền đề vật chất không thể
thiếu được để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà Nước.
Đặc trưng:Thu NSNN là luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và cá
phạm trù chính trị. Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức,phạm vi
,mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ
thống thu NSNN. Nhưng chính hệ thống thu NSNN lại là nhân tố quan trọng có
ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của
các phạm trù giá trị.
*Phân loại thu NSNN
Tùy theo nhu cầu của việc phân tích đánh giá,phục vụ cho công tác quản lý
cũng như cho việc điều chỉnh các chính sách động viên,người ta phân loại thu

thường có chi phí thấp hơn,nhưng mức danh lợi thi được lại rất cao.Vì vậy,trong
công tác quản lý tài chinhsvieecj nghiên cứu và áp dụng các hình thức thu thích
hợp vơi đặc điểm các hoạt động dịch vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Nó
không đơn thuần góp phần vào việc tăng nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần
quan trọng vào việc kiểm soát và hướng dẫn các hoạt động dịch vụ,đảm bảo
phát triển cân đối giữa các nghành sản xuất với các hoạt động dịch vụ.
+ Nguồn thu ngoài nước: bao gồm các khoản thu về vay nợ và viện trợ của
nước ngoài.
Đặc điểm là gắn chặt với tình hình kinh tế,chính trị,xã hội và ngoại giao của đất
nước.Nguồn thu này thường không ổn định và có tính chất bù đắp một phần
trong quá trình cân đối ngân sách.
2, Xét theo tác dụng của các khoản thu với quá trình cân đối ngân sách,thu
NSNN bao gồm các khoản.
- Thu trong cân đối NSNN:gồm các hình thức chủ yếu sau:
+ Thuế,phí và lệ phí
+ Thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước
+ Thu lợi tức cổ phần của nhà nước
+ Các khoản thu khác theo luật định
Trong các khoản trên thuế là khoản thu quan trọng nhất.Thuế không chỉ chiếm 1
tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách nhà nước hàng năm mà còn là công cụ
của nhà nước để quản lý vĩ mô nên kinh tế quốc dân.Để phát huy tác dụng điều
tiết vĩ mô của các chính sách thuế,nhìn chung ở nước ta cũng như ở các nước
khác trên thế giới ,nội dung của chính sách thuế thường xuyên có sự thay đổi
cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống kinh tế- xã hội và phù hợp với
yêu cầu của quản lý kinh tế,tài chính.Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp
dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng,thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế
thu nhập doanh nghiệp,thuế xuất nhập khẩu,thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao,thuế tài nguyên,thuế sử dụng đất…
Mỗi sắc thuế khác nhau ,xét trên giác độ luật,đều được cấu tạo bởi các yếu tố
sau:

mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các
công ty,các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngan
hàng thương mại cung cấp,trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng.
Không có một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không vay vốn ngân hàng
hoặc tín dụng thương mại nếu công ty đó muốn tồn tại vững chắc trên thương
trường.Trong quá trình hoạt động,các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để
bảo đảm nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh,đảm bảo đủ vốn
cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Về mặt thời hạn,vốn vay NH được phân loại theo thời hạn vay gồm:vay dài
hạn ( 5 năm trở lên),trung hạn ( 1 đến 5 năm) , ngắn hạn (dưới 1 năm) .cần lưu
ý,tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân loại trong thực tế không hoàn
toàn giống nhau giữa các nước,và có thể khác nhau giữa các NHTM.
Tùy theo tính chất và mục đích sử dụng,NH cũng có thể phân loại vay như
sau:vay đầu tư tài sản cố định,vay vốn lưu động,vay để phục vụ dự án. Cũng có
những cách phân chia khác nhau như: theo nghành kinh tế,theo lĩnh vực phục vụ
hoặc theo hình thức bảo đảm của khoản vay.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm,song cũng có nhiều hạn
chế: điều kiện tín dụng,kiểm soát của ngân hàng,chi phí sử dụng vốn(lãi suất)
Điêu kiện tín dụng:Các NHTM khi cho doanh nghiệp vay vốn luôn luôn phải
đảm bảo an toàn tín dụng,hạn chế các rủi ro tín dụng thông qua một hệ thống các
biện pháp bảo đảm tín dụng.Trước tiên ,NH phải phân tích hồ sơ xin vay vốn,
đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh
16
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
doanh của doanh nghiệp vay vốn.DN phải cung cấp những báo cáo tài chính và
những thông tin cần thiết khác theeo yêu cầu của NH.
Các điều kiện đảm bảo tiền vay:Khi doanh nghiệp xin vay vốn,Các NH thường
yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tín dụng,phổ biến nhất là bằng
tài sản thế chấp.Việc yêu cầu người vay coa tài sản thế chấp trong nhiều trường
hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay ,kể cả những

34,Cấu trúc của thị trường tài chính
- Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần
+ Thị trường nợ:
Phương pháp chung nhất mà các công ty sử dụng để vay vốn trên thị trường tài
chính là đưa ra một công cụ vay nợ,ví dụ như trái khoán hay một món vay thế
chấp. Công cụ vay nợ là sự thỏa thuận có tính chất hợp đồng,trong đó người vay
17
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
thanh toán con người nắm giữ công cụ nợ một khoản tiền lãi cố định,và hoàn trả
tiền vốn vào cuối kỳ hạn.Nếu kỳ hạn thanh toán của công cụ nợ dưới 1
năm,người ta gọi đó là công cụ nợ ngắn hạn,nếu từ 1 năm trở lên gọi là công cụ
nợ chung và dài hạn.
Thị trường nợ là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ kể trên.
+ Thị trường vốn cổ phần
Phương pháp thứ hai để thu hút vốn là các công ty phát hành cổ phiếu . Người
nắm giữ cổ phiếu sở hữu một phần tài sản của công ty và có quyền được ch
Ia lợi nhuận từ thu nhập ròng của công ty(sau khi trừ chi phí và thuế).
Việc sở hữu cổ phiếu khác với sở hữu công cụ nợ(trái phiếu công ty) là ở chỗ
người sở hữu cổ phiếu chỉ nhận được tiền lãi sau khi công ty đã thanh toán cho
chủ nợ ( người sở hữu công cụ nợ ).Nhưng lợi ích của việc nắm giữ các cổ phần
vốn là ở chỗ,cổ đông được hưởng lợi trực tiếp do lợi nhuận hoặc do giá trị tài
sản của công ty tăng lên. Trong khi đó ,người nắm giữ công cụ nợ lại không
nhận được gì từ khoản lợi nhuận này.
Như vậy,thị trường vốn cổ phần là nơi diễn ra việc mua bán cổ phiếu kể trên.
CHƯƠNG 6: CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN
42,Hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam
A.LÝ THUYẾT
Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán (TTCK)là thu hút vốn
đầu tư dài hanjcho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại
chứng khoán.Do vậy,để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động một cách

thời.
- Khắc phục trạng thái cảm xúc quá mức,để giúp khách hàng có những quyết
định tỉnh táo.
- Đề xuất thời điểm bán hàng.
* Đặc trưng:
- Lao động cật lực,trả thù lao xứng đáng.
- Những phẩm chất cần có:kiên nhẫn,giỏi phân tích tâm lý và ứng xử.
- Nỗ lực cá nhân làm quyết định đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ của công ty
trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực hiện các
lệnh của khách hàng.
a.2,Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán:
* Khái niệm:
Tự doanh là việc công ty chứng khoán ,tự tiến hành các giao dịch mua bán các
chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có
thể được thực hiện trên các thị trường giao dịch tập chung hoặc thị trường OTC.
* Mục đích:
Nhằm thu lợi cho chính mình.Tuy nhiên để đảm bảo sự ổn định và tính minh
bạch của thị trường và pháp luật các nước yêu cầu,các công ty chứng khoán khi
thực hiện nghiệp vụ tự doanh,phải đáp ứng 2 yêu cầu cơ bản:vốn và con người.
* Yêu cầu:
Tách biệt quản lý ,các công ty chứng khoán Pahir có sự tách biệt giữa nghiệp
vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới. Để đảm bảo tính minh bạch ro ràng trong
hoạt động tách biệt này bao gồm cả 2 yếu tố con người và các quy trình nghiệp
vụ.
Ưu tiên khách hàng:Pháp luật của hầu hết các nước đều yêu cầu công ty
chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiên
nghiệp vụ tự doanh.
Bình ổn thị trường:Do tính đặc thù của TTCK ,đặc biệt là các thị trường
chưng khoán mới nổi,bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ thì tính
chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư không cao , điều này dẫn đến những biến

lĩnh vực của tổ chức phát hành đi tới các thị trường quan trọng dự kiến bán
chứng khoán để giới thiệu về đợt phát hành cho các nhà đầu tư có tổ chức và
các nhà môi giới địa phương.
Việc lập sổ:Trong quá trình thành lập sổ tổ chức bảo lãnh chính cố gắng cân
bằng giữa các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà đầu tư riêng lẻ.Mối quan tâm
của các nhà tổ chúc lớn có thể hỗ trợ giá chứng khoán trong và sau thời gian
phân phối ,song việc phân phối rộng rãi thường có lợi cho tổ chức phát hành.
Cam kết bảo lãnh và phân chia chứng khoán AAV quy định cho các tổ chức
bảo lãnh thẩm quyền rộng rãi trong việc phân phối nỗ lực bán chứng khoán
bằng việc xác định cam kết của từng tổ chức bảo lãnh.Các chứng khoán giành
bán cho định chế đầu tư,số chứng khoán được đại lý phân phối và số chứng
khoán mỗi tổ chức bảo lãnh giữ lại để bán trực tiếp cho khách hàng của mình.
Định giá đợt chào bán được tiến hành tại cuộc họp giữa tổ chức phát hành và
tổ chức bảo lãnh.Khi trị giá của tổ chức phát hành được xác định,giá của chứng
khoán chào bán được tính toán bằng cách lấy giá trị của công ty chia cho giá cổ
phiếu chào bán ra công chúng.Đối với chứng khoán đã có thị trường công
khai,giá POP thường được tính dựa trên cơ sở sản phẩm gía bán đóng cửa
trước ngày định giá.
Ổn định thị trường để giảm thiểu khó khăn này tổ chức bảo lãnh chính có thể
ổn định giá POP bằng cách mua chứng khoán vào tài khoản của tổ hợp.Việc ổn
định của thị trường được thực hiện theo quy định 10B_7 của luật chứng
khoán.Việc ổn định có thể được thực hiện trên bất kỳ thị trường nào mà chứng
khoán chào bán được giao dịch thì do các chuyên gia lập giá thực hiện.
20
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
Phân bổ vượt mức : việc phân bổ vượt mức là việc chấp nhận các đơn đặt
mua nhiều chứng khoán hơn số được chào bán .Mục đích của việc phân bổ
vượt mức là đảm bảo toàn bộ đợt phát hành sẽ được bán hết ,thậm chí là việc
khóa sổ .
Khóa sổ : việc khóa sổ bán chứng khoán của các nhà tổ chức bảo lãnh thường

Đây là một dạng nghiệp vụ tư vấn của công ty chứng khoán nhưng ở mức độ cao
hơn vì trong hoạt động này khách hàng ủy thác cho công ty chứng khoán thay
mặt mình quyết định.Đầu tư thêm một chiến lược hay những nguyên tắc đã được
khách hàng chấp nhận có thể nêu một số bước mà công ty chứng khoán phải làm
khi thực hiện nghiệp vụ này như sau:
Bước 1:Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc tìm hiểu khả năng của
nhau.
Bước 2:Công ty chứng khoán và khách hàng tiến hành ký hợp đồng quản lý.
Bước 3:Thực hiện hợp đồng quản lý
21
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
Bước 4:Khi đến hạn kết thúc hợp đồng hay một số trường hợp công ty giải thể
phá sản ngừng hoạt động…
a.6,Các nghiệp vụ khác
* Nghiệp vụ tín dụng:
Đây là hoạt động thông dụng tại các thị trường chứng khoán phát triển,còn ở các
thị trường mới nổi hoạt dộng này bị hạn chế chỉ các định chế tài chính đặt biệt
mới được cấp vốn vay.Thậm chí một số nước còn không cho phép thực hiện cho
vay ký quỹ.
* Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty:
Dịch vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính có thể do bất kỳ công ty chứng khoán
hay cá nhân nào tham gia thông qua khuyến cáo ,lập báo cáo ,tư vấn trực
tiếp,thông qua ấn phẩm về chứng khoán để thu phí.
* Nghiệp vụ quản lý thu nhập chứng khoán ( quản lý cổ tức)
Nghiệp vụ quản lý này của công ty chứng khoán xuất phát từ nghiệp vụ quản lý
hộ chứng khoán cho khách hàng.
3:Hoạt động tài chính
a.Vốn của công ty chứng khoán :
Số vốn cần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằng việc
cân đối giữa yêu cầu về vốn xác định và các nhu cầu vốn kinh doanh của công

động công ty chứng khoán là rất cần thiết để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
B.HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN:
Về vấn đề nhân lực ,trên cơ sở theo dõi hoạt động của các công ty chứng
khoán , quan quản lý thị trường nên ban hành quy chế người hành nghề chứng
khoán ,tạo điều kiện để các công ty chứng khoán có số người hành nghề đảm
bảo theo quy định pháp luật hiện hành.
Năm 2007,tẳng trưởng giá trị giao dịch cao hơn tăng trưởng số lượng công ty
chứng khoán ,bởi vậy giá trị giao dịch trên một công ty chứng khoán tăng cao
hơn,giúp các công ty chứng khoán có lãi hơn trong môi giới giao dịch.Năm
2008,tăng trưởng giá trị giao dịch không theo kịp với tăng trưởng số lượng các
công ty chứng khoán ,bởi vậy giá trị giao dịch trung bình trên một công ty
chứng khoán đang có xu thế giảm.
Chỉ những công ty chứng khoán nằm trong TOP 20 về quy mô,hiệu quả hoạt
động mới có thể tồn tại được trong bối cảnh thị trường ảm đạm như hiện
nay.Đó là nhận định vừa được phòng phân tích đầu tư của công ty chứng khoán
APEC đưa ra mới đây.
Một báo cáo của hiệp hội chứng khoán Việt Nam mới đây đưa ra cũng cho
thấy ,có đến 70-80% trong tổng số gần 100 công ty chứng khoán hiên nay dang
phải hoạt động cầm cự.
*Đối mặt với khó khăn:
Nếu như năm 2007 ,các công ty chứng khoán lớn trên thị trường Việt Nam đều
đạt được lợi nhuận lớn như:Lơi nhuận sau thuế của SSI cán đích 864 tỷ đồng
,ACBS là 332 tỷ đồng ,BVSC 214 tỷ đồng…Bước sang 2008,sự sút giảm của
thị trường đã khiến những khó khăn của công ty chứng khoán bộc lộ.Báo cáo
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 9 tháng đầu năm 2008 của các công ty
chứng khoán cho thấy,trong số những công ty đạt lãi lớn vừa kể trên thì chỉ có
SSI hoàn thành 49,36 % kế hoạch năm với lợi nhuận sau thuế đạt 3,6 tỷ đồng
,BVSC lỗ khoảng 300 tỷ đồng và HPC lỗ 85 tỷ đồng.
Công ty cổ phần chứng khoán Đại Việt- DVSC
Thông tin vĩ mô đang diễn biến theo chiều hướng tích cực ,lãi suất liên ngân

+ Ngân hàng liên doanh:Ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay
nhiều bên ,ở Việt Nam loại hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng
trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng các ưu thế của nhau.
- Dựa vào chiến lược kinh doanh:
+ Ngân hàng bán buôn:Ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối
tượng khách hàng tập đoàn ,công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá
nhân.
+ Ngân hàng bán lẻ:Loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối
tượng khách hàng là cá nhân.+Ngân hàng vừa buôn vừa lẻ: Loại ngân hàng giao
dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty và khách hàng cá nhân,ở
Việt Nam có NHTM thuộc loại này.
* Cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mạiĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

Hội đồng quản lý tài sản_nợ
Hội đồng xử lý rủi ro
Hội đồng lương thưởng
Hội đồng tín dụng

Ban kiểm soát24
PHÙNG THỊ HƯƠNG HUẾ LỚP K50_ĐẠI HỌC KẾ TOÁN
Hội đồng quản trịTổng giám đốc

nội bộ
(cơ cấu tổ chức của ngân hàng NaViBank)
CHƯƠNG 8:NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
QUỐC GIA
49, Chức năng,nhiệm vụ của NHTW
Khái niệm:
Ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan
hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của
quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành
chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn
định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các
ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ.
*) chức năng của ngân hàng trung ương
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status