1. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam-Bài 7:
Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam thống
nhất nước nhà (1973 - 1975)
I. LỰC LƯỢNG SO SÁNH TA - ĐỊCH SAU HIỆP ĐỊNH PARI VÀ NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ
LẦN THỨ 21 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG (KHOÁ III)
1. Lực lượng so sánh ta - địch sau Hiệp định Pari
Cho đến cuối tháng 3-1973, tất cả các đơn vị quân đội Mỹ và quân đội chư hầu còn lại đã rút hết
về nước. Nhưng chiến tranh xâm lược thực dân mới không hề chấm dứt. Với khối lượng viện trợ
ồ ạt trước ngày 27-1-1973, Mỹ chủ trương hiện đại hoá và tinh nhuệ hoá quân đội nguỵ bằng kế
hoạch quân sự 6 năm (1974-1979). Mỹ cũng chủ trương làm cho kinh tế miền Nam tự lực bằng
kế hoạch kinh tế hậu chiến 8 năm (1973-1980). Năm 1973, quân chính quy nguỵ tăng lên
710.000 tên, cùng 1,5 triệu bảo an dân vệ được Mỹ trang bị đầy đủ. Cũng năm đó, Mỹ lại đưa
thêm vào miền Nam 90 máy bay, 100 pháo và khối lượng lớn phương tiện chiến tranh.
Với khối lượng phương tiện chiến tranh và quân số lớn. Mỹ - nguỵ âm mưu tiêu diệt các lực
lượng vũ trang và lực lượng chính trị cách mạng, xoá bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội
và ba lực lượng hiện có, biến miền Nam Việt Nam thành lãnh thổ chỉ có một chính quyền tay sai
của Mỹ.
Để chỉ huy và điều hành cuộc chiến tranh cho phù hợp với tình hình mới, Mỹ đổi tên cơ quan chỉ
huy quân sự MACV thành Cơ quan tuỳ viên quốc phòng (DAO) (- là cơ quan tuỳ viên quân sự Mỹ
có nhiệm vụ điều khiển các hoạt động quân sự của chính quyền và quân đội Sài Gòn dựa trên
viện trợ Mỹ trong giai đoạn Việt Nam hoá chiến tranh). Các cố vấn quân sự đều khoác áo dân sự,
hoạt động trong các cơ quan đầu não của nguỵ quyền, trong các đơn vị quân đội nguỵ ở địa
phương và một số ngành với chức năng không thay đổi: quyết định các chủ trương về quân sự,
chính trị, kinh tế và quyết định cả những vấn đề nhân sự của nguỵ quyền Sài Gòn.
Để xoá "thế da báo", theo chủ trương của Mỹ, nguỵ quyền Sài Gòn liên tiếp mở hàng loạt chiến
dịch "tràn ngập lãnh thổ". Ngay trong đêm 27-1-1973, Mỹ - nguỵ đưa quân địch chiếm cảng Cửa
Việt (Quảng Trị). Trong năm 1973, với 325.255 vụ hành quân lấn chiếm, địch đã chiếm lại hầu
hết các vùng giải phóng mới và một số vùng giải phóng cũ.
Thực tế chứng tỏ Mỹ - nguỵ không thi hành các điều khoản của Hiệp định Pari, cuộc chiến tranh
xâm lược thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam không hề chấm dứt mà vẫn tiếp tục dưới
hình thức mới. Đó là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ mà không có lính Mỹ.
thất nghiệp vì mất nguồn thu nhập từ khi quân đội Mỹ rút đi. Nạn đào ngũ, rã ngũ trong nguỵ
quân và phong trào chống bắt lính đã đẩy nhanh quân đội Sài Gòn vào tai họa thiếu hụt quân số.
Phong trào chống tham nhũng, chống chính sách độc tài, hiếu chiến của Thiệu, đòi Thiệu từ
chức, đòi thi hành Hiệp định Pari, đòi thả tù chính trị,đòi công ăn việc làm, đòi chấm dứt chiến
tranh lập lại hoà bình,đòi cứu đói ngày càng lan rộng trong nhiều tầng lớp.
Tuy nhiên, những chỗ yếu này của địch phát triển nhanh hay chậm, chủ yếu vẫn là do cách
mạng có đủ sức giáng cho địch những đòn chí mạng hay không.
Cách mạng miền Nam đang đứng trước tình thế mới: nguỵ quyền Sài Gòn có nguy cơ sụp đổ,
nhân dân ta có khả năng đập tan chính quyền nguỵ trên toàn miền Nam.
Nhu cầu bức thiết của lịch sử lúc đó đòi hỏi Đảng ta phải tìm ra lời giải cho các bài toán chiến
lược. Một là, Hiệp định Pari được thực hiện hay chiến tranh lại tiếp diễn?Hai là, đây là giai đoạn
quá độ hay là giai đoạn cuối của sự nghiệp giải phóng miền Nam? Ba là, trước mắt phải bắt đầu
từ giải pháp gì để phá âm mưu gây chiến của địch đưa cách mạng miền Nam tiến lên hoà bình,
hoà hợp dân tộc hay phản công, tiến công chống lấn chiếm?
2. Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III)
Ngày 28-1-1973, Ban Chấp hành Trung ương đã khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước đã giành được thắng lợi rất vẻ vang, song Mỹ - nguỵ vẫn chưa từ bỏ âm mưu phá hoại hoà
bình, ngăn trở con đường độc lập, thống nhất của nhân dân ta.
Trong tháng 1-1973, Bộ Chính trị thông qua nghị quyết của Quân uỷ Trung ương về trường hợp
địch vi phạm Hiệp định Pari, các lực lượng vũ trang cần chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các cuộc
tiến công quân sự của địch, trước mắt đòi nguỵ quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp
định.
Tuy nhiên, trong nhân dân ta lúc đó xuất hiện hiện tượng mệt mỏi, khuynh hướng ảo tưởng hoà
bình, mất cảnh giác. Sau này, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974 nhận định rằng đã có khuynh
hướng "ảo tưởng, chờ đợi, thụ động, thậm chí có nơi rút lui".
Trước tình hình mới, Bộ Chính trị thấy cần tập trung nghiên cứu, phân tích âm mưu hành động
của Mỹ - nguỵ. Ngày 24-5-1973, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng với đại diện các chiến trường
để nghiên cứu, thảo luận những vấn đề chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung
ương khoá III. Hội nghị đánh giá ưu, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm của 18 năm kháng
chiến chống Mỹ (1954 - 1972). Hội nghị nhất trí cho rằng, miền Nam chưa có hoà bình. Hội nghị
biệt, một quốc gia thân Mỹ. Sau khi quân Mỹ rút đi, quân nguỵ có mạnh về phương tiện vật chất
nhưng thực chất đang xuống dốc. Thế và lực của cách mạng miền Nam lúc đó mạnh hơn bất cứ
thời kỳ nào kể từ năm 1954. Lực lượng vũ trang nhân dân đứng vững trên các địa bàn chiến
lược. Nhân dân vùng tạm bị chiếm bị kìm kẹp vẫn hướng về cách mạng. Miền Bắc đang phục hồi
kinh tế, là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam. Chỗ yếu của cách mạng miền Nam là
phong trào đấu tranh chính trị, bộ đội địa phương và dân quân du kích, cơ sở cách mạng ở đô thị
và nông thôn chưa ngang tầm nhiệm vụ.
Cách mạng miền Nam có thể phát triển theo hai khả năng:
Một là: Ta có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pari.
Hai là: Ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn.
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là:
Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ và tập
đoàn thống trị tư sản mại bản quan liêu, quân phiệt, phát xít - tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ
đang thống trị trong vùng địch kiểm soát - đẩy lùi và thắng địch từng bước, đi đến xoá bỏ chế độ
thực dân mới, thiết lập một chính quyền dân tộc dân chủ thực sự, thực hiện hoà hợp dân tộc,
thoát ly hẳn sự lệ thuộc vào Mỹ, thực hiện một miền Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập,
phồn vinh, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.
Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương khoá III vạch rõ nhiệm vụ trước mắt của cách
mạng miền Nam: 1- Trong bất cứ tình huống nào, phải nắm vững lực lượng vũ trang, 2- Nhiệm
vụ hàng đầu của cách mạng miền Nam hiện nay là giành dân và giành quyền làm chủ của nhân
dân, 3- Binh vận là mũi tiến công rất quan trọng làm tan rã chính quyền địch. 4- Đẩy mạnh
phong trào đấu tranh đô thị đòi hoà bình, dân chủ, dân sinh, đòi thi hành Hiệp định Pari. 5- Củng
cố vùng giải phóng. 6- Tăng cường công tác Mặt trận và công tác chính quyền. 7- Công tác ngoại
giao phải nắm vững pháp lý Hiệp định Pari, kiên quyết và kịp thời vạch trần âm mưu và hành
động vi phạm hiệp định của địch.
Điều kiện chủ yếu để giành thắng lợi trong giai đoạn mới là Đảng bộ miền Nam phải nắm vững
tư tưởng chiến lược tiến công, nắm vững bạo lực cách mạng.
Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III có ý nghĩa lịch sử quan trọng, mở
đường đưa cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi. Nhưng hạn chế của Hội nghị là, trong
lúc trên thực tế chiến trường, khả năng buộc địch thi hành Hiệp định Pari đã không còn nữa, Hội
Chiến tranh chuyển lên quy mô lớn, yêu cầu mở rộng lực lượng vũ trang và bổ sung tổn thất đặt
ra hết sức khẩn trương. Yêu cầu đó chủ yếu đặt lên vai hậu phương miền Bắc.
Tháng 12-1973, Hội nghị thứ 22 Ban Chấp hành Trung ương khoá III họp bàn về khôi phục kinh
tế ở miền Bắc.
Hội nghị xác định nhiệm vụ của miền Bắc trong giai đoạn mới là nâng cao cảnh giác, sẵn sàng
đánh bại mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và tay sai; ra sức làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối
với miền Nam và nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia.
Hội nghị thông qua phương hướng, kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế trong 2 năm 1973 -
1974 nhằm đưa mức sản xuất lên bằng hoặc cao hơn mức đã đạt được năm 1965 và năm 1971.
Năm 1974, hai vụ lúa được mùa,sản xuất hoa màu phát triển mạnh khắp các địa phương. Nông
dân tập thể nộp và bán đủ nghĩa vụ cho Nhà nước. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp vượt kế
hoạch 4%. Sản xuất đã đạt và vượt mức năm 1965 và năm 1971. Năm học 1974 - 1975 có
6.630.900 người đi học (so với số dân miền Bắc lúc ấy là 21.700.000 người). Tính bình quân cứ 1
vạn dân có 11,7 bác sĩ, y sĩ (năm 1965: 5,2).
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trước mắt, Đảng ta không quên chuẩn bị cho kế hoạch lâu
dài. Tháng 2 -1973, Bộ Chính trị ra nghị quyết về công tác cán bộ trong giai đoạn mới. Nghị
quyết nêu 5 tiêu chuẩn cán bộ: 1- Trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội; 2- Nhất trí với
đường lối, quan điểm của Đảng; 3- Có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ; 4- Tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; 5- Có ý thức tổ chức và kỷ luật.
Tháng 12-1974, Ban Chấp hành Trung ương khoá III họp Hội nghị lần thứ 23 bàn về : Tăng
cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng.
Đúc kết kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng giai đoạn đã qua, Hội nghị nêu ra 3 phương châm:
1- Xây dựng Đảng phải gắn liền với việc nâng cao năng lực quản lý, kiện toàn tổ chức của Nhà
nước và việc xây dựng, củng cố các đoàn thể quần chúng; 2- Nâng cao chất lượng đảng viên
phải kết hợp với nâng cao chất lượng cán bộ, với kiện toàn cơ quan lãnh đạo từng cấp, từng
ngành; 3- Phát triển Đảng phải coi trọng chất lượng, phát triển phải đi đôi với củng cố.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương khoá III tháng 10-1973,
Bộ Chính trị phê chuẩn kế hoạch của Quân uỷ trung ương và Bộ Quốc phòng xây dựng các quân
đoàn chủ lực. Từ tháng 10 -1973 đến tháng 3 -1975, bốn quân đoàn lần lượt ra đời. Song song
với việc hình thành và bố trí các quân đoàn trên các địa bàn chiến lược, các sư đoàn, trung đoàn
Trên toàn miền Nam, vùng giải phóng có gần 5 triệu người dân, vùng tranh chấp trên 5 triệu
dân. Địch chỉ còn kiểm soát được 9,5 triệu dân.
Năm 1974, tình thế mới xuất hiện trên chiến trường miền Nam. Quân, dân ta đã giải phóng và
giữ được hàng chục chi khu, quận lỵ, nguỵ quyền Sài Gòn đành chịu bó tay, không còn khả năng
lấy lại được. Tình thế này chứng tỏ quân chủ lực cơ động của ta đã mạnh hơn hẳn quân chủ lực
cơ động của địch, khả năng giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi.
Trong khi lực lượng mọi mặt của nhân dân ta lớn mạnh, thì lực lượng mọi mặt của Mỹ - nguỵ ở
miền Nam đang suy sụp, tan rã. Tiếp theo việc cắt bỏ kinh phí ném bom Campuchia, tháng 6 -
1994, Quốc hội Mỹ lại bác bỏ yêu sách của Níchxơn đòi viện trợ bổ sung 216 triệu đôla cho chính
quyền Sài Gòn.
Ngày 9-8-1974, Tổng thống Níchxơn buộc phải tuyên bố từ chức, điều này chứng tỏ chính sách
kéo dài chiến tranh của Mỹ đã hoàn toàn phá sản. Xu thế chung của nhân dân Mỹ là chấm dứt
chiến tranh. Ghêron Pho (Gerald Ford) lên thay Níchxơn làm Tổng thống cũng không cưỡng nổi
xu thế này. G.Pho tuyên bố rằng, cần theo đuổi chính sách kiềm chế tương đối ở Đông Nam Á và
Thái Bình Dương. Thực tế hành động của G.Pho đã chứng minh chính sách đó có nghĩa là bỏ rơi
ngụy quyền Sài Gòn.
Ngày 13-8-1974, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra thông báo nhận định: Trước
tình cảnh khốn cùng, giai cấp thống trị Mỹ đã dùng Níchxơn làm vật hy sinh, hòng làm dịu mâu
thuẫn của Chính phủ Mỹ và nhân dân Mỹ. Thông báo vạch rõ: Ta không có ảo tưởng về sự thay
đổi tổng thống ở Mỹ, đây chỉ là một thủ đoạn thay ngựa giữa dòng của tập đoàn tư bản lũng
đoạn Mỹ để cứu vãn tình thế.
Việc Níchxơn từ chức có ảnh hưởng trực tiếp tới nguỵ quyền Sài Gòn. Trong ngày Níchxơn từ
chức, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh báo động toàn miền.
Ngày 28-8-1974, giáo hội Thiên chúa thành lập "Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu
nước và kiến tạo hoà bình". Trong tháng 9 và tháng 10, các tổ chức "Lực lượng hoà bình và hoà
hợp dân tộc", "Mặt trận nhân dân cứu đói", "Uỷ ban đấu tranh đòi thả tù chính trị" ra đời. Ngày 8
và 15-9-1974, hàng vạn đồng bào Huế xuống đường biểu tình chống khủng bố báo chí, bóp
nghẹt tự do dân chủ, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức.
Trước cuộc khủng hoảng sâu sắc của nguỵ quyền Sài Gòn, đại sứ Mỹ G.Matin- trùm cố vấn Mỹ,
buộc Nguyễn Văn Thiệu phải làm dịu tình hình bằng cách cách chức 4 thành viên trong chính
Mỹ chấm dứt mọi can thiệp, đòi đánh đổ Nguyễn Văn Thiệu và phe cánh - trở ngại chính cho việc
giải quyết các vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam.
Đợt 2 của Hội nghị Bộ Chính trị họp từ ngày 8-12-1974 đến ngày 7-1-1975. Hội nghị cho rằng,
thế và lực mới của cách mạng đã thể hiện trên các mặt sau đây:một là, ta đã giành quyền chủ
động tiến công địch trên khắp các chiến trường;hai là, những binh đoàn chủ lực cơ động và
những nguồn dự trữ chiến lược của ta đã được xây dựng đủ; ba là, phong trào đấu tranh chính
trị đòi hoà bình, độc lập, hoà hợp dân tộc đã được phát động; bốn là, thế giới đồng tình, ủng hộ
ta trừng trị bọn lấn chiếm.
Ngày 6-1-1975, tin giải phóng thị xã Phước Long làm cho Hội nghị càng thêm tin chắc rằng quân
Mỹ không thể trở lại miền Nam và việc giải phóng miền Nam có thể tiến hành với nhịp độ nhanh
hơn.Tiếp tục quán triệt Nghị quyết của Hội nghị đợt 1, Hội nghị đợt 2 vạch rõ:Nắm vững thời cơ
lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận đánh quyết định, kết thúc cuộc
kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, tiến tới tổng tiến
công và nổi dậy, thắng địch tại sào huyệt quan trọng nhất của chúng là Sài Gòn.
III. BA ĐÒN CHIẾN LƯỢC, TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN
MIỀN NAM
1. Chiến dịch Tây Nguyên
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy bắt đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên, với trận mở màn đánh vào
thị xã Buôn Ma Thuột. Đánh chiếm Buôn Ma Thuột, làm chủ Nam Tây Nguyên, ta có ba hướng
phát triển: lên phía Bắc, giải phóng Plâycu, Kon Tum; tiến xuống đồng bằng ven biển Trung bộ;
thọc thẳng vào miền Đông Nam bộ và Sài Gòn. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi sẽ tạo ra bất
ngờ lớn, làm đảo lộn thế phòng thủ của địch trên toàn chiến trường.
Bộ Chính trị quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu
trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến trường Tây Nguyên thành lập cơ quan đại diện
của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây
Nguyên được thành lập. Các đoàn xe vận tải, xe chở quân xuất phát từ hậu phương lớn miền Bắc
bí mật và hối hả hướng về chiến trường Nam Tây Nguyên. Cán bộ chiến sĩ ra trận phấn khởi, tự
tin, sung sức.
Ngày 17-2-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên bàn kế hoạch đánh chiếm thị xã Buôn Ma
Thuột theo đúng tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị là tranh thủ bất ngờ cao độ, bảo đảm thắng
cánh quân địch rút khỏi Tây Nguyên bị tiêu diệt.
Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị chủ trươnggiải phóng miền Nam trong năm 1975, trước mắt diệt
ngay Quân đoàn 1 ngụy, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn.
Ngày 25-3-1975, Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng. Chế độ Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ
hoàn toàn.
2. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng.
Từ đầu tháng 3-1975, theo chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, khi chiến dịch Tây
Nguyên mở màn, các tỉnh miền Trung Trung bộ cũng triển khai cuộc tiến công, chuẩn bị giải
phóng các thành phố, thị xã khi có thời cơ.
Ngày 18-3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho quân dân Trị Thiên phải đánh mạnh,
tích cực tiêu diệt địch, không cho chúng rút lui an toàn khỏi Quảng Trị, Huế; đồng thời gấp rút
chuẩn bị đánh vào Đã Nẵng.
Đêm 18-3-1975, địch bỏ Quảng Trị chạy về Huế và Đà Nẵng. Quân và dân ta nhanh chóng
chuyển sang tấn công. Chiều ngày 19-3, Quảng Trị hoàn toàn giải phóng.
Ngày 20-3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị tiếp cho quân khu Trị Thiên: Sau khi bỏ
Quảng Trị, địch có thể bỏ cả Thừa Thiên và Huế, ta phải táo bạo, khẩn trương, tích cực chuẩn bị
mọi mặt để giải phóng toàn bộ đồng bằng, giải phóng Huế và Đà Nẵng.
Quân ta tiến công từ ba phía: Bắc, Tây và Nam. Ngày 20-3, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân
khỏi thành phố Huế, Quân đoàn 1 ngụy lập tức bỏ Huế chạy về Đà Nẵng bằng đường không. 10
giờ 30 phút ngày 25-3, hai mũi tiến công của bộ đội địa phương Quảng Trị và Quân đoàn 2 gặp
nhau trong Thành Nội, làm chủ Toà Khâm cũ, khách sạn Thuận Hoá, trại Phan Sào Nam, các
công sở nhà máy điện, nước Lá cờ cách mạng tung bay trên đỉnh Phú Văn Lâu. Thành phố Huế
hoàn toàn giải phóng. Ngày 24-3, quân và dân ta giải phóng thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam).
Tiếp sau Tây Nguyên, hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế được giải phóng là một
đòn mới đánh vào nguỵ quân, ngụy quyền các cấp, làm cho ngụy quyền ở Đà Nẵng rệu rã,
hoảng loạn. Ngày 25-3, Tổng thống G.Pho cấp tốc cử tướng Uâyen sang Sài Gòn nắm tình hình
và tìm kế hoạch cứu vãn.
Sau 5 ngày đêm tiến công và nổi dậy, quân và dân Quân khu V đã tiêu diệt và làm tan rã một
nửa chủ lực cơ động của địch trên địa bàn. Đà Nẵng bị bao vây, chia cắt hoàn toàn với ngụy
quyền trung ương Sài Gòn.
nhà máy nước, bệnh viện, trường học, truy quét tàn binh, kêu gọi binh sĩ ngụy đầu hàng. Nhiều
xe ca, xe lam chở dân di tản ra khỏi nội thành, khi gặp bộ đội ta đã quay trở lại, nhanh chóng
đưa bộ đội vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố.
15 giờ ngày 29-3-1975, Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Ngày 1-4-1975, quân và dân 3 tỉnh Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hoà kết hợp tiến công với nổi dậy giải phóng toàn tỉnh. Ngày 2-4, quân ta
giải phóng Nha Trang. Ngày 3-4, giải phóng Cam Ranh và toàn tỉnh Khánh Hoà, Đà Lạt và toàn
tỉnh Lâm Đồng.
Trong vòng một tháng, quân dân ta giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên và miền Trung Trung bộ
gồm 16 tỉnh với 8 triệu dân. Lực lượng so sánh giữa ta và địch đã thay đổi tận gốc.
3. Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn
Sự thất bại nặng nề và đổ vỡ nhanh chóng của ngụy quyền Sài Gòn trong tháng 3-1975 làm cho
đế quốc Mỹ vô cùng bối rối, nội bộ chia rẽ sâu sắc. Ngày 4-4, tướng Uâyen về Caliphoócnia báo
cáo với Tổng thống G.Pho: Tình hình miền Nam Việt Nam đang ở bên bờ thất bại hoàn toàn về
quân sự. Tổng thống Mỹ xin Quốc hội chấp thuận viện trợ vũ khí cho ngụy quyền Sài Gòn, song
nhiều nghị sĩ Mỹ cho rằng đã quá muộn để làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thế ở miền
Nam Việt Nam.
Chiến lược dùng quân ngụy Sài Gòn độc chiếm miền Nam của Mỹ - ngụy đến đây hoàn toàn thất
bại. Mỹ âm mưu trở lại Hiệp định Pari, "cải tổ chính phủ", hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu, lập một chính
phủ Sài Gòn mới có khả năng nói chuyện với cách mạng, gửi công hàm cho Liên Xô, Trung Quốc
đề nghị họp lại Hội nghị quốc tế ở Giơnevơ bàn việc thực hiện ngừng bắn.
Để có thêm lực lượng phòng thủ, ngụy quyền Sài Gòn cố sức thu thập tàn quân, điều chỉnh thế
bố trí lực lượng, lập tuyến phòng ngự từ xa ở Phan Rang nhằm ngăn chặn quân ta.
Sau chiến thắng miền Trung, Hội nghị Bộ Chính trị ngày 31-3-1975 đánh giá: "Về chiến lược, về
lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và
diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn được tình thế của
ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển
nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi". "Hiện
nay ta có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn
hơn dự kiến rất nhiều".
Bộ Chính trị nhấn mạnh: Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cần nắm vững thời cơ chiến lược
Ngày 20-4, G.Pho và Kitxinhgiơ chính thức thông báo cho đại sứ Matin biết chủ trương của Chính
phủ Mỹ là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Ngày 21-4, Nguyễn Văn Thiệu lên đài truyền hình chỉ
trích Mỹ bỏ rơi đồng minh và tuyên bố từ chức.
Ngày 23-4, Tổng thống Mỹ tuyên bố cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đã kết thúc đối với
Mỹ. Cùng ngày, Tổng thống ngụy quyền mới Trần Văn Hương cử đại diện đến sân bay Tân Sơn
Nhất xin gặp phái đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời.
Bộ Chính trị nhận định: Đây là một âm mưu mới của Mỹ nhằm tìm cách trì hoãn cuộc tiến công
của ta vào Sài Gòn.
Từ đầu tháng 3-1975, khi bước vào chuẩn bị trực tiếp cho kế hoạch giải phóng thành phố Sài
Gòn - Gia Định, Thành uỷ Sài Gòn - Gia Định đã điều động 1.700 cán bộ quân sự, chính trị vào
các quận nội thành và các xã vùng ven đô cùng với các cấp uỷ địa phương vận động tổ chức
quần chúng sẵn sàng nổi dậy, phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực.
Ngày 14-4-1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tênChiến dịch Hồ Chí Minh được
Bộ Chính trị phê chuẩn với 5 mục tiêu quan trọng nhất là: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu,
Sân bay Tân Sơn Nhất, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát.
Bảy lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi quân và dân ta mở cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu
Thân năm 1968 được quán triệt sâu sắc đến từng chiến sĩ: 1-Ý chí phải thật kiên quyết; 2- Kế
hoạch phải thật tỷ mỷ; 3- Kiểm tra phải thật kỹ càng; 4- Phối hợp phải thật ăn khớp; 5- Chấp
hành phải thật chu đáo; 6- Cán bộ phải thật gương mẫu; 7- Bí mật phải giữ triệt để.
17 giờ ngày 26-4-1975, cuộc tổng công kích đánh chiếm thành phố Sài Gòn - Gia Định bắt đầu.
Bộ đội pháo binh đã phát huy uy lực của các loại pháo tầm xa, bắn tập trung mãnh liệt vào sân
bay Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, kiềm chế và tiêu diệt các trận địa pháo binh địch. Bộ đội đặc công
"luồn sâu đánh hiểm", phối hợp với lực lượng biệt động thành phố đánh chiếm tất cả các cầu lớn
trên các con đường tiến vào Sài Gòn. Từ các hướng Đông, Đông Nam, Bắc, Tây Bắc và Tây Nam,
các binh đoàn thọc sâu có xe tăng dẫn đầu đập tan các khu vực phòng thủ vòng ngoài của địch,
nhiều trận đánh ác liệt diễn ra ở Nước Trong, Đồng Dù, Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hoà Phía
Nam, quân ta cắt đứt đường số 4, các sư đoàn chủ lực ngụy bị tiêu diệt và tan rã, không kịp rút
lực lượng về nội thành.
Ngày 26-4, do sức ép của Mỹ, Tổng thống ngụy Trần Văn Hương từ chức, Dương Văn Minh được
cử lên thay. Ngày 28-4, "phi đội quyết thắng" của không quân ta sử dụng máy bay A.37 vừa thu
chân Quân đoàn 4 ngụy.
Ngày 30-4, hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long được giải phóng. Một số tỉnh còn lại được
giải phóng vào ngày 1-5.
Đồng thời với việc giải phóng các tỉnh, thành phố trong đất liền, Bộ Chính trị đã chỉ đạo từ rất
sớm việc giải phóng các đảo trong hải phận Tổ quốc. Từ Quảng Trị đến Hà Tiên, tất cả các đảo
dọc theo bờ biển đều được giải phóng cùng với các vùng đất của mình.
Tại Côn Đảo, ngày 1-5-1975, những người tù được thả tự do tổ chức lực lượng vũ trang giải
phóng, tổ chức chính quyền tự quản và đánh chiếm các công sở của ngụy quyền, giải phóng
toàn bộ tù nhân, làm chủ toàn bộ Côn Đảo. Ngày 5-5, tàu hải quân ta ra đón 4.000 tù chính trị
và tiếp quản Côn Đảo.
Ở đảo Phú Quốc, ngày 30-4, nhân dân phối hợp với lực lượng vũ trang giải phóng thị trấn Dương
Đông và toàn đảo.
Ở các đảo thuộc vùng biển phía Nam, các Đảng bộ đã kịp thời lãnh đạo nhân dân và lực lượng
vũ trang nổi dậy, tiến công giành quyền làm chủ trong các ngày 30-4 và 1-5-1975. Ở Trường Sa,
từ ngày10-4 đến ngày 29-4-1975, quân ta đã giải phóng các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm
giữ.
Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Ngày 30-4-1975 trở thành ngày hội lớn của dân tộc Việt
Nam. Ngày 7-5-1975, hơn một triệu đồng bào Sài Gòn và các tỉnh lân cận đã tham dự cuộc mít
tinh lớn mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng và chào đón Uỷ ban quân quản Thành phố Sài
Gòn.
Trải qua 50 ngày đêm chiến đấu thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, quân và dân ta đã tiêu
diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng ngụy quân đông hơn 1 triệu tên, thu toàn bộ vũ khí,
phương tiện chiến tranh và căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền từ trung
ương đến cơ sở, xoá bỏ ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền
Nam, thống nhất nước nhà.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam
đã biến lời tiên đoán sáng suốt và điều mong ước thiết tha của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành sự
thật:
"Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa,
song nhất định thắng lợi hoàn toàn".
chủ nghĩa xã hội.
Trong toàn bộ lịch sử 200 năm của Hoa Kỳ, đây là thất bại lớn nhất. Đế quốc Mỹ bị suy yếu
nghiêm trọng về quân sự, chính trị, kinh tế và còn phải tiếp tục gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề
và lâu dài. Vết thương nhức nhối mà đế quốc Mỹ gọi là "hội chứng Việt Nam" đã dằn vặt giai cấp
thống trị và cả nhân dân Mỹ trong nhiều năm cho đến nay vẫn chưa lành. Chiến tranh Việt Nam
làm cho nhân dân Mỹ hiểu thêm những bệnh hoạn và mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản.
Thời kỳ sau Việt Nam, đế quốc Mỹ buộc phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu, chuyển sang chiến
lược "diễn biến hoà bình" gây đủ mọi sức ép nhằm phá hoại phong trào giải phóng dân tộc, phá
hoại Liên Xô, Đông Âu, hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản quốc tế từ trong lòng các
phong trào và các nước đó.
Tất cả những điều đó nói lên tầm quan trọng quốc tế và tính thời đại của cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược mà cả loài người tiến bộ, những ai có lương tri đều thừa nhận, dù
Nhà Trắng và Lầu Năm Góc có tìm trăm phương nghìn kế để xoá bỏ cũng uổng công, dù năm
tháng đã trôi qua nhưng sự thật lịch sử vẫn là sự thật.
Sau khi chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam thất bại, đã có hàng nghìn ấn phẩm của các nhà
quân sự, các nhà chính trị, các nhà nghiên cứu Mỹ viết về cuộc chiến tranh này. Các tác phẩm đó
đã nói lên ít nhiều sự thất bại, nhất là của các tổng thống và các tổng chỉ huy quân đội xâm lược
Mỹ. Nhưng chưa có ấn phẩm nào nói rõ thực chất cuộc chiến tranh này, càng chưa nói rõvì sao
đế quốc Mỹ thua, vì sao nhân dân Việt Nam thắng. Đối với Mỹ, đến nay câu hỏi ấy vẫn còn và
đòi hỏi được trả lời. Với cách nhìn nhận và vì lợi ích của họ, Mỹ khó có thể nhận ra những sự thật
hiển nhiên, mà nhân dân ta và cả loài người tiến bộ đều nhận thấy. Đó là:Cuộc chiến tranh xâm
lược của Mỹ là phi nghĩa, cuộc kháng chiến của nhân dân ta là chính nghĩa, vì thế toàn thể dân
tộc Việt Nam đều tham gia kháng chiến. Nhân dân ta đánh xâm lược Mỹ trong điều kiện nhân
dân ta đã làm chủ đất nước trải qua Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp. Chế độ nhân dân làm chủ đất nước đã nâng cao lên trình độ mới truyền thống yêu nước,
kiên cường, bất khuất, cả nước chung lòng đánh giặc trong hàng nghìn năm của dân tộc Việt
Nam. Toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ dựa trên nòng cốt quân đội nhân dân gan dạ, mưu
trí, biết sử dụng những vũ khí hiện đại. Toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ dựa vào hậu
phương miền Bắc hùng hậu và các hậu phương tại chỗ của từng chiến trường, được Liên Xô,
Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa chi viện, nhân loại tiến bộ đồng tình, có sự phối hợp