ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ PHÂN BỐ NGUYÊN LIỆU GỐM SỨ, THỦY TINH Ở VIỆT NAM
I. Khái quát chung:
Đối với mỗi người Việt Nam nói chung thì việc tìm hiểu về tự nhiên Việt Nam cũng như
nguồn tài nguyên khoáng sản là rất cần thiết. Nó giúp ta nắm vững các quy luật tự nhiên, sự
phân bố và hướng sử dụng các nguồn tài nguyên ñể mỗi người chúng ta có những hành ñộng
hợp lý, ñúng ñắn nhất ñối với tự nhiên về nguồn tài nguyên thiên nhiên của ñất nước. Đặc biệt
ñối với giáo viên Địa lý thì việc này không chỉ ñơn thuần là tự mình nắm vững kiến thức mà ñây
chính là nguồn tài liệu chúng ta sẽ sử dụng ñể giảng dạy cho học sinh sau này.
Tài nguyên khoáng sản là nguồn lực vô cùng quan trọng ñối với việc phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia ñặc biệt là ñối với ñất nước có nền kinh tế tài nguyên, ñang ở giai ñoạn ñầu của
quá trình công nghiệp hoá, hiện ñại hoá như nước ta hiện nay.
Nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú, ña dạng, ñáp ứng cho nhu cầu phát
triển nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Cùng với quá trình phát triển của mình thì người dân
Việt Nam từ xưa cũng ñã biết khai thác và sử dụng một số khoáng sản trong ñời sống hàng
ngày. Với khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa cũng vậy. Từ xa xưa cha ông ta
cũng ñã biết sử dụng các nguyên liệu này tạo ra các vật dụng ñể phục vụ cuộc sống của mình mà
dấu vết còn lại ñến ngày nay các làng nghề truyền thống (gốm Bát Tràng, Chu Đậu) các công
trình kiến trúc cổ (chùa Dâu, tháp Chàm) Ngày nay với trình ñộ khoa học kỹ thuật phát triển
nhiều sản phẩm mới với những tính năng ưu việt ñược tạo ra từ các nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh,
chịu lửa.
Khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ñược ứng dụng rộng rãi trong
công nghiệp sản xuất sứ gốm, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng cao cấp, chất ñộn trong nhiều ngành
công nghiệp khác nhau… Do ñó việc nghiên cứu thành công về ñặc ñiểm, sự phân bố và ứng
dụng thực tiễn của nguồn nguyên liệu này trong sản xuất cũng như trong ñời sống là rất quan
trọng. Nó giúp ta ñánh giá ñúng thực trạng, tiềm năng, tìm ra hướng khai thác thích hợp ñể có
hiệu quả kinh tế cao nhất và có tác dụng lâu dài.
Qua việc nghiên cứu, thực hiện ñề tài này giúp ta hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn khoáng sản
nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ñể phụ vụ cho việc giảng dạy phần ñịa lý các
ngành kinh tế của ñất nước. Ngoài ra sự có mặt của một số khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ
ngoại khoá, bổ sung một cách tốt nhất, cụ thể nhất kiến thức cho học sinh về những ñiều kiện tự
nhiên xung quanh, tạo cho học sinh có sự hứng thú, say mê học tập bộ môn Địa lý trong nhà
trường. Từ ñó giúp cho học sinh có cái nhìn thích hợp, ñúng ñắn và sự ứng xử hợp lý với tài
nguyên thiên nhiên nói riêng, môi trường xung quanh nói chung.
Qua ñề tài này cần phải làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, ñịa chất tới sự
hình thành nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta. Đồng thời ñề tài
cũng phải nêu lên ñược những ñặc trưng về công dụng, phân bố và hướng phát triển của nguồn
khoáng sản này trong ñời sống và trong nền kinh tế.
Lập sơ ñồ phân bố các tụ khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
theo nguồn gốc và trữ lượng ñể qua sơ ñồ ta có thể thấy ñược ñặc ñiểm hình thành và phân bố
của các tụ khoáng nói trên trên ñất nước ta.
Thực hiện ñề tài tức là mỗi sinh viên phải biết vận dụng những kiến thức ñã học với những
tài liệu thu ñược ñể tạo ra những kiến thức của riêng mình. Do vậy ñể hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp thì mỗi sinh viên không những phải có những kiến thức nhất ñịnh mà phải luôn có sự cố
gắng, nỗ lực phấn ñấu hoàn thành công việc với tinh thần, ý thức trách nhiệm cao nhất. Tuy
nhiên do trình ñộ, thời gian và kinh nghiệm có hạn nên trong quá trình thực hiện hẳn sẽ không
tránh khỏi những thiêú sót.
II. Phương pháp nghiên cứu.
1. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu:
Đây là phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu, bản biểu có liên quan tới ñề tài từ ñó
tổng hợp và khái quát hoá, ñưa ra những ñặc ñiểm chính, quan trọng và phục vụ trực tiếp cho ñề
tài.
Phương pháp này là rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng phải dùng
ñến. Đây là bước rất quan trọng vì thu thập ñược nguồn tài liệu càng phong phú, chi tiết bao
nhiêu thì ñề tài càng có ñiều kiện hoàn thiện dễ dàng hơn trong thời gian ngắn hơn mà lại có
chất lượng cao nhất.
2. Phương pháp thành lập sơ ñồ phân bố và các biểu bảng:
Khi sử dụng phương pháp này ta phải xác ñịnh ñược ñịa ñiểm phân bố và trữ lượng của từng
tụ khoáng. Trên bản ñồ hành chính ta tiến hành lập sơ ñồ phân bố các tụ khoáng nguyên liệu sứ
phẩm. Cùng với sự phát triển của các thương cảng lớn như Vân Đồn, phố Hiến, Hội An các
sản phẩm sứ gốm của ta không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn ñược ñem trao ñổi, buôn bán với
các nước khác trên thế giới nhất là các nước trong khu vực. Đỉnh cao của ngành sản xuất gốm
sứ ở nước ta thời phong kiến là vào thời Trần, Hồ, Mạc Gốm Bát Tràng nổi tiếng từ thời Lý,
Trần với ñồ gốm sứ cổ truyền. Trước làng có tên là Bạch Thổ (ñất trắng) sau ñó sản xuất bát nổi
tiếng nên có tên là Bát Tràng và tồn tại cho tới ngày nay là một minh chứng cụ thể.
Ngoài việc sản xuất các ñồ gốm sứ phục vụ cho cuộc sống con người thì ngành sản xuất vật
liệu chịu lửa nói riêng, vật liệu xây dựng nói chung ñã ñược người dân ta sử dụng từ rất sớm ñáp
ứng các nhu cầu của cuộc sống. Nền văn minh lâu ñời cùng các di tích, thành quách, lâu ñài,
lăng tẩm còn bảo tồn ñược nhất là các kinh ñô nước ta từ Phong Châu, Cổ Loa, Hoa Lư ñến
Thăng Long, Huế ñã chứng tỏ sự có mặt hàng ngàn năm của ngành sản xuất này. Từ thế kỷ
thứ IV người Chăm xây dựng các tháp Chàm, với kỹ thuật nung ñỉnh cao và việc lựa chọn các
loại sét phù hợp ñã tạo ra loại gạch rất cứng trải qua hàng ngàn năm vẫn không bị ăn mòn theo
thời gian. Gạch nung nhà Lý khắc chữ “Đại Việt quốc quân thành” thế kỷ X - XI tìm thấy ở
Trường Yên (Ninh Bình) hay gạch “Lý gia ñệ tam ñế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo” (1057)
xây dựng chùa Phật Tích chứng tỏ sự phát triển của ngành sản xuất vật liệu chịu lửa ở nước ta.
Tuy nhiên các sản phẩm làm từ khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa trong thời
phong kiến còn rất ñơn giản các sản phẩm chủ yếu là ñồ gia dụng (chậu, vại, vò, bình, bát, ñĩa)
và vật liệu xây dựng. Các sản phẩm cao cấp chưa có vì nền công nghiệp nước ta ở thời kì ñó nói
chung ñang phát triển ở trình ñộ rất thấp.
Các tài liệu nghiên cứu về nguồn khoáng sản này từ thời phong kiến trở về trước hầu như
không có gì. Việc khai thác chúng chủ yếu là tự phát, dựa trên các kinh nghiệm dân gian là
chính. Do ñó ta chưa phát huy ñược hết ưu ñiểm của từng loại khoáng sản ñể sử dụng cho hợp
lý, hiệu quả cao nhất.
3. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược ñến năm 1954.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta các mỏ khoáng sản ñều thuộc quyền sở hữu của các tập
ñoàn tư bản Pháp. Chúng liên tục khai thác phục vụ chủ yếu cho sản xuất ở chính quốc và xuất
khẩu, một phần sử dụng cho công nghiệp chế biến ñáp ứng nhu cầu tại chỗ. Tuy vậy, các tài liệu
nghiên cứu ñáng tin cậy về lĩnh vực này ñược lưu lại cho tới ngày nay rất ít. Đây chính là một
khó khăn cho việc phát triển khai thác và sử dụng khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh,
nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam.
I. Các yếu tố ñịa chất.
Yếu tố ñịa chất có vai trò rất lớn trong việc hình thành các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm,
thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta. Các quá trình ñịa chất không chỉ tạo ra các ñá gốc có giá trị mà nó
còn là tiền ñề cho các quá trình phong hoá, phá huỷ tạo nên các khoáng sản.
1. Yếu tố kiến tạo.
Lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam theo 3 giai ñoạn lớn là: giai ñoạn tiền Cambri, giai
ñoạn cổ kiến tạo, và giai ñoạn tân kiến tạo.
1.1. Giai ñoạn tiền Cambri.
Vào giai ñoạn này nước ta có các dịa khối cổ: vòm sông Chảy, dãy Hoàng Liên Sơn, cánh
cung sông Mã, ñịa khối Pu Hoạt, Pulaileng - Rào Cỏ và ñịa khối Kon Tum còn sót lại.
Nhờ những hoạt ñộng nâng lên hạ xuống của vỏ Trái Đất mà ñất ñá bị xáo trộn, mắc ma phun
trào, xâm nhập, các ñá biến chất phát triển.
Trên vùng nền móng cổ tiền Cambri ñã hình thành các mỏ kaolin Phú Thọ, Sơn Tịnh song
khoáng sản nói chung, khoáng sản nguyên liệu gốm sứ, thuỷ tinh, chịu lửa nói riêng hình thành
vào thời kì này khá nghèo nàn.
1.2. Giai ñoạn cổ kiến tạo.
Trong giai ñoạn này bề mặt ñịa hình nước ta nhiều lần biến ñổi bởi các quá trình biển tiến,
biển lùi, các quá trình sụt lún kèm theo sự bồi lấp trầm tích, các qúa trình nâng lên và uốn nếp
kèm theo hiện tượng xâm nhập phun trào mácma, các quá trình ngoại lực dẫn ñến hạ thấp ñịa
hình.
Vào chu kỳ kiến tạo Paleozoi, các hoạt ñộng tạo lục nhẹ cũng ñã nâng ñịa khối cổ lên chút ít
và ñã thúc ñẩy các quá trình xâm thực, bào mòn, bồi tích các trầm tích lục nguyên cho vùng
trũng. Ngoài ra hiện tượng biển lùi và các pha uốn nếp khá mạnh ñã hình thành các ñá xâm nhập
granit, ñá phun trào ryolit và andêzit, ñược phân bố rộng rãi ở miền Bắc và miền Trung nước ta
hiện nay.
Qua quá trình phong hoá, các lớp trầm tích, các ñá này lại tiếp tục bị phá huỷ, chia cắt thành
các vật liệu nhỏ hơn hoặc hoà tan trong nước gặp ñiều kiện sẽ tích tụ lại hình thành các mỏ
khoáng sản như sét gốm (Đồng Gianh, Núi Hồng, Hợp thành…), kaolin (Đatala, Đồng Hới…).
lập và là bộ phận chủ yếu tạo nên vỏ Trái Đất.
Dựa vào nguồn gốc ñá ñược phân ra ba nhóm là ñá macma, ñá trầm tích và ñá biến chất. Cả
ba loại ñá gốc này ñều có liên quan tới quá trình hình thành các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm,
thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam.
2.1. Đá macma.
Được thành tạo do sự ñông cứng của nhiều khối hợp chất silicat nóng chảy trong vỏ hoặc trên
bề mặt Trái Đất. Những khối silicat nóng chảy ñó ñược gọi là macma.
Đá macma xâm nhập là các ñá macma ñược thành tạo trong vỏ Trái Đất khi macma chưa lên
mặt ñất, lộ ra trên mặt ñất do chịu tác ñộng của quá trình xâm thực lâu dài. Đó là ñá granit ở
Phia Uăc, Thái nguyên, Móng cái (Quảng ninh), ñá xâm nhập bazơ là gabro, peridotit ở Cao
bằng, dải Trường sơn Bắc, dải Trường sơn Nam có những ngọn núi cấu tạo bằng granit, ryolit.
Đá macma dưới tác dụng của quá trình phong hoá phun trào là các ñá macma ñược tạo từ bên
trong, ñược ñưa ra ngoài mặt ñất và ñông cứng lại. Đó là ñá macma phun trào axit (ryolit) ở Cao
bằng, Lạng sơn, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Quảng Ninh và vòm sông Chảy Đá macma phun trào
bazan phân bố ở Thanh Hoá, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh ñặc biệt là miền Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên.
Đá macma chính là nguồn gốc cho việc hình thành các tụ khoáng như tụ khoáng sét gốm
Đông Gianh, Núi Hồng, tụ khoáng felspat Minh tân, Phú toản, Núi Bà ñất, các tụ khoáng kaolin
ở Phú thọ, tụ khoáng kaolin Trực bình, Tân thịnh, Trại Mát, Đatala
2.2 Đá trầm tích.
Được hình thành do sự phá huỷ các ñá có trước và tích tụ các vật liệu trầm lắng ở vùng trũng
thấp, ñáy biển, sông, hồ bị biến ñổi lâu dài dưới nhiệt ñộ, áp suất khác nhau.
Hầu hết các tụ khoáng sét gốm, cát thuỷ tinh ñược thành tạo từ các trầm tích Tân sinh. Các tụ
khoáng khác như ñolomit Thạch bình, La giang, Ba bể, Yên ñộng ñược hình thành từ các trầm
tích cacbonat, kaolin Đồng hới ñược thành tạo từ trầm tích lục nguyên, sét chịu lửa Trúc thôn
trong trầm tích biển Pleistosen thượng, sét chịu lửa Thị Cầu trong vỏ phong hoá trầm tích
lục nguyên Mz
2.3 Đá biến chất.
Là kết quả của quá trình biến ñổi sâu sắc ở trạng thái cứng của các ñá có trước dưới tác ñộng
của các quá trình ñịa chất.
ñọng lại. Các tụ khoáng sét gốm (Đông Quan, Việt Dân), sét chịu lửa (Trúc Thôn, Yên Sơn),
chính là ñược hình thành ở trong những vung trũng sét như vậy. 2. Yếu tố khí hậu.
Khí hậu là cơ sở cho quá trình phong hoá ñá gốc ñể tạo các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm,
thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta. Việt Nam có khí hậu nhiệt ñới ẩm gió mùa là ñiều kiện thuận cho
quá trình phong hoá phát triển.
Do vị trí ñịa lý của Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến của bán cầu Bắc từ 8
0
30’ B -
23
0
22’ B ñồng thời lại nằm gọn trong vùng hoạt ñộng của gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu
Việt Nam mang ñặc ñiểm chung nhất là nội chí tuyến gió mùa ẩm, thể hiện:
Nhiệt ñộ trung bình cả năm trong toàn quốc cao trên 23
0
C, mỗi năm có trên 1200 giờ nắng.
Cán cân bức xạ quanh năm dương: 75 kcal/cm
2
/năm.
Tổng nhiệt ñộ hoạt ñộng 8.000
0
C -:- 10.000
0
C.
Tổng xạ quanh năm cao: 120 kcal/cm
2
/năm.
Do vậy ta có thể nói rằng Việt Nam có khí hậu nhiệt ñới gió mùa ẩm với lượng mưa hàng
và các chất hoá học khác trong không khí của khí quyển tạo ra các dung dịch axit
và kiềm có khả năng hoà tan khoáng vật và ñá. Trong loại phong hoá này, ñá và các khoáng vật
của nó bị biến ñổi chủ yếu về mặt thành phần hoá học (ví dụ felspat bị phong hoá thành sét
kaolin).
K(AlSi
5
O
8
) + mH
2
O + nH
2
O → Al(OH)
8
(Si
4
O
10
) + SiO
2
+ K
2
CO
3
+ nH
2
O
(octola) (kaolin) (thạch anh)
Phong hoá sinh học: là sự phá huỷ ñá và các khoáng vật của nó dưới tác ñộng của các sinh
vật, vi khuẩn, nấm mốc, rêu, rễ cây Các sinh vật này len lỏi vào các kẽ ñá, tiết ra dung dịch
Quá trình phong hoá ñá, khoáng vật xảy ra ở mọi nơi, mọi ñiều kiện song ở những vùng nhiệt
ñới có khí hậu nóng ẩm thì quá trình phong hoá xảy ra triệt ñể nhất.
Al
4
(Si
10
O
8
) + CO
2
+ H
2
O → Al
4
(OH)
8
(Si
4
O
10
) + SiO
2
+ K
2
CO
3
+ H
2
O
Tóm lại khí hậu có vai trò quan trọng trong quá trình phong hoá. Nó giữ vai trò phá huỷ các
chất bị hoà tan số còn lại thì ñược cuốn trôi theo dòng nước, gặp ñiều kiện thuận lợi thì sẽ tích tụ
lại. Quá trình tích tụ là giai ñoạn cuối cùng trong quá trình thành tạo các trần tích khoáng sản.
Tuỳ thuộc vào ñiều kiện tự nhiên mà hình thành nên sa khoáng tàn tích, sườn tích, lũ tích hay trầm tích
sông
Hầu hết các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta là các mỏ ngoại sinh
có nguồn gốc hình thành là trầm tích và sa khoáng nên phân bố chủ yếu dọc theo các sông và
ven biển. Còn lại ñược phân bố trên các khu vực khác nhau song chủ yếu là khu vực ñồi núi, ñịa
hình có sự cắt xẻ mạnh. Từ ñó, ta thấy rõ ñược vai trò của yếu tố thuỷ văn trong việc hình thành
các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta.
4. Yếu tố hải văn.
Tóm lại, tiền ñề lý thuyết cho sự thành tạo các mỏ khoáng sản ngoại sinh nói chung, khoáng
sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa nói riêng ñó là thời kỳ thành tạo vỏ phong hoá hoá
học dày của khí hậu, và thời kỳ rửa trôi, chọn lọc và tích tụ của hệ thống sông ngòi. Đây chính
là cơ sở cho việc hình thành các mỏ, tụ khoáng, ñiểm quặng có giá trị công nghiệp ở nước ta.
Chương II. Đặc ñiểm và phân bố nhóm khoáng sản nguyên liệu
sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam.
1. SÉT GỐM.
I. Đặc ñiểm, thành phần.
Sét gốm là loại sét gồm các khoáng vật nhóm hyñroalumosilicat có ñộ hạt nhỏ (0,01mm), lúc
ẩm dễ tạo hình, ñến lúc khô vẫn giữ nguyên hình thể và sau khi nung ñến nhiệt ñộ thích hợp thì
trở nên rắn, không trở lại ñặc tính ban ñầu do các khoáng vật sét mất nước trong mạng lưới kết
tinh khi bị sứ hoá.
Các khoáng vật của sét bao gồm kaolinit, haloysit, monmorionit, alophan, beiñelit,
monothermit, hyñromica, palygorskit.
II. Ứng dụng.
Sét gốm dùng ñể sản xuất ñồ gốm chịu axit, ñồ gốm mỏng, ñĩa mài, ñồ sành và các vật liệu
xây dựng thông thường (gạch lát, gạch xây, ngói …).
III. Đặc ñiểm hình thành và phân bố
Sét gốm ở nước ta hiện nay có ñược là do sự bồi lắng trong các lớp trầm tích và do sự phong
1000 ngàn tấn.
1.2. Sét gốm trong trầm tích Pleistocen trung - thượng (Q
II-III
).
Được thành tạo thành tạo cách ñây 1,5÷2 triệu năm chủ yếu phân bố ở ven châu thổ các sông
lớn, các thềm bậc 2, 3 và thềm biển có ñộ cao 5÷10 m.
Do khí hậu nước ta thời kì này còn tương ñối lạnh nên ngoài thành phần Al
2
O
3
= 17%, Fe
2
O
3
=
2,7% thì tích tụ silic khá phát triển với thành phần SiO
2
=70%. Độ hạt nhỏ dần khi thu hồi qua
rây 0,05 mm là 68÷80%.
Các tụ khoáng có quy mô từ nhỏ ñến lớn với trữ lượng mỗi tụ khoáng từ 300 ÷ 100 000 ngàn
tấn, phân bố rải rác từ Bắc vào Nam với các tụ khoáng như Thị Cầu ( Hà Bắc), Định Trung (Phú
Yên), Đại Mỹ (Quảng Ngãi), Blao (Lâm Đồng), Suối Đôi (Bình Dương) và Đức Tu (Thành phố
Hồ Chí Minh).
1.3. Sét gốm trong trầm tích Pliocen - Pleistocen hạ (N
2
-Q
1
).
Chủ yếu phân bố trên phần ñịa hình cao của các tỉnh Tây Ninh - Đồng Nai - Bình Dương với
các tụ khoáng Tân Uyên (Đồng Nai), Bến Cát (Bình Dương), Đông Ba, Khiên Hạnh, Thuận
2.1. Sét gốm thành tạo trong vỏ phong hoá ñá gabro.
Gabro là một nhóm các ñá macma xâm nhập gồm các ñá như gabropyroxenit, gabronorit,
gabro phức hệ Núi Chúa… Việc phong hoá các ñá này ñã tạo các tụ khoáng sét gốm có giá trị ở
nước ta như Đồng Gianh (Tuyên Quang), Núi Hồng (Thái Nguyên).
Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt ñới gió mùa, lượng nhiệt, ẩm lớn là ñiều kiện thuận lợi cho
quá trình phong hóa phát triển (phong hóa lý - hóa - sinh học) phá hủy các ñá tạo các lớp trầm
tích. Do ñó các tụ khoáng thành tạo trong vỏ phong hóa ñá gabro thường có trữ lượng lớn như
Đồng Gianh (5026 ngàn tấn), Núi Hồng (7680 ngàn tấn).
2.2. Sét gồm thành tạo trong vỏ phong hóa ñá trầm tích lục nguyên:
Sang T
1-2
chế ñộ ñịa máng hồi sinh ñiển hình là sự mở rộng sụt lún ở Lạng Sơn, An Châu,
sông Hiến và việc tạo ra các miền vòng Mường Tè – Sầm Nưa. Đây là ñiều kiện thuận lợi của
việc hình thành các trầm tích lục nguyên. Sang T
3
vận ñộng tạo núi Inñôxini làm cho những khu
vực này nâng cao thành lục ñịa. Các trầm tích lực nguyên là các tập sét, bột kết, sét kết của hệ
tầng Mẫu Sơn và Quy Lăng với thành phần khoáng vật chủ yếu là hyñrômica, kaolinit, haloysit,
monmorilonit ñã bị phong hóa (vật lý - hóa học) tạo thành các tụ khoáng sét gốm. Các tụ
khoáng Hợp Thành (Lạng Sơn), Rú Rồng (Nghệ An) chính là sản phẩm phong hóa tàn dư của
các tập sét, bột kết, sét kết này.
Nói chung trữ lượng của các tụ khoáng kiểu này thường không lớn.
Việc xác ñịnh thành phần % của Fe
2
O
3
trong các tụ khoáng sét gốm có ý nghĩa rất quan
trọng, quyết ñịnh việc khai thác và sử dụng nguồn khoáng sản này. Với hàm lượng Fe
2
O
Đolomit là loại ñá tương ñối phổ biến trên thế giới. Ở nước ta ñolomit chủ yếu ñược thành
tạo trong trầm tích do các quá trình hóa học gồm hai loại là ñolomit trầm tích nguyên sinh và
ñolomit trầm tích biến chât.
1. Đolomit trầm tích nguyên sinh.
Đolomit nguyên sinh ñược thành tạo từ con ñường vô cơ. Điều kiện quan trọng nhất cho kết
tủa ñolomit là áp suất CO
2
mà trong ñiều kiện ñịa chất xa xưa thì khí quyển rất giầu CO
2
ñủ khả
năng cho kết tủa ñolomit.
Ở nước ta ñolomit trầm tích nguyên sinh chủ yếu trong trầm tích carbonat tuổi từ Trias ñến
Đevon.
Hình thành sớm nhất là vào D
1-2
có tụ khoáng Ba Bể ( thuộc hệ tầng Đại Thị), D
2-3
có tụ
khoáng La Khê (hệ tầng Cù Bai), Sơn Lâm, Suối Ba, Núi Han (hệ tầng Dưỡng Động). Tới C-P
có các tụ khoáng La Giang, Làng Lai, Mật Sơn, La Khê (hệ tầng Bắc Sơn). Gần ñây nhất là vào
T
2
ñã hình thành các tụ khoáng Thạch Bình, Mật Sơn, Yên Động, Hạnh Lâm (hệ tầng Đồng
Dao).
Do có nhiều ñiều kiện thuận lợi nên các tụ khoáng ñolomit trong các trầm tích nguyên sinh
thường có trữ lượng lớn. Ví dụ tụ khoáng Thạch Bình ( Ninh Binh ) có trữ lượng 95 000 ngàn
tấn.
2. Đolomit trong trầm tích biến chất.
Được thành tạo sớm hơn ñolomit trầm tích nguyên sinh tức là có tuổi từ Proterozoi (PR) ñến
Paleozoi giữa (O-S) do ñolomit hóa các ñá vôi thành ñá hoa, ñolomit bị tái kết tinh.
trong nước nhưng khi lộ ra ngoài mặt ñất chịu tác ñộng của không khí và nước felspat cũng bị
phân giải, sau một thời gian sẽ trở thành ñất sét trắng.
II. Ứng dụng.
Felspat dùng ñể làm giảm nhiệt ñộ nóng chảy, kéo dài khoảng nhiệt biến mềm và tăng ñộ sệt
của phối liệu sản phẩm là nguyên liệu của các ngành sứ gốm, thuỷ tinh, sản xuất xà phòng, bột
mài, làm răng giả, chế tạo thuỷ tinh opal, xi măng, thuốc nhuộm, gạch tráng men.
III. Đặc ñiểm hình thành và phân bố.
Nguồn cung cấp các khoáng vật felspat vụn ñể hình thành các tụ khoáng là granit và gơnai.
1. Felspat trong pegmatit granit.
Pegmatit granit là ñá macma xâm nhập các sản phẩm phong hoá từ pegmatit granit thường
cho felspat sạch với chất lượng cao. Cấu trúc của pegmatit granit thành tạo lên felspat gồm có 2
loại chính:
Thể pegmatit xuyên cắt: thường gặp trong các trầm tích biến chất tuổi Proterozoi, Proterozoi
muộn - Paleozoi sớm. Các mạch có phương trùng với phương cấu tạo của ñá thường có kích
thước lớn còn loại có xuyên cắt có ñá vây quanh thì có kích thước nhỏ hơn. Chủ yếu phân bố ở
Vĩnh Phú, Lào Cai, Yên Bái.
Mạch pegmatit dạng thấu kính: thấy ở tụ khoáng Đầm Du (Bình Thuận), Ea Knop (Đắc Lắc).
Khi bị lộ ra khỏi mặt ñất felspat bị phong hoá thành kaolin song vỏ phong hoá này phân bố
không ñều mà có xu hướng giảm từ Nam ñến Bắc.
2. Felspat của các ñá macma khác.
Thường thì felspat có trong các tụ khoáng kiểu này bao gồm các ñá có thành phần chủ yếu là
felspat và thạch anh như keratophyr thạch anh, felsit, aplit… có dạng thấu kính, dạng mạch cắm
dốc từ 70÷80
0
. Song ở từng tụ khoáng lại có thành phần khoáng vật, màu sắc của ñá và trữ
lượng khác nhau, thay ñổi từ Bắc vào Nam.
Keratophyr Minh Tân (Hải Dương) ñá có màu xám xanh gồm các khoáng vật felspat, thạch
anh, khoáng vật phụ turmalin, apatit, zircon, magnetit. Phần trên bị phân hoá thành kaolin với
chiều dày 15÷30 m. Keratophyr Minh Tân chủ yếu ñược dùng ñể sản xuất xi măng.
Felsit Phú Toản (Quảng Nam), ñá có màu trắng xám phớt xanh. Các khoáng vật bao gồm
1. Quarzit trong trầm tích biến chất Neopretorozoi - Paleozoi hạ.
Các thành tạo Neopretorozoi - Paleozoi hạ ñược phân chia dựa theo ñặc ñiểm thạch học và
quan hệ ñịa tầng. Đó là các ñá phiến thạch anh - mica, sericit, clorit, các tập quarzit có chiều dày
khác nhau của hệ tầng sông Chảy, amphibolit, quarzit, ñá hoa olivin thuộc hệ tầng Núi Vú…
Chiều dày của thành tạo Neopretorozoi - Paleozoi hạ từ 1 000÷3 000 m. Tuổi của các ñá phiến
là 1 231 triệu năm.
Quarzit trong trầm tích biến chất Neopretorozoi - Paleozoi hạ thường nằm xen trong ñá phiến
thạch anh- mica tạo thành các tập dày vài chục mét, kéo dài vài trăm ñến hàng nghìn mét.
Các tụ khoáng quarzit hình thành trong thời kỳ này thường có trữ lượng lớn, chất lượng cao,
chủ yếu ñược sử dụng làm vật liệu chịu lửa cho ngành công nghiệp luyện kim> Điển hình cho
các tụ khoáng kiểu này là tụ khoáng Đồn Vàng (Phú Thọ), phân bố ở phần trên của hệ tầng sông
Chảy. Tụ khoáng gồm 3 vỉa với tổng chiều dày khoảng 100m, kéo dài 3 000 m.Phần trên mặt bị
phong hoá thành cát. Tổng trữ lượng của tụ khoáng này là 565 000 ngàn tấn.
2. Cát kết dạng quarzit trong trầm tích biến chất Paleozoi hạ - trung.
Cát kết dạng quarzit trong trầm tích biến chất Paleozoi hạ - trung khá phổ biến trên một số hệ
tầng cùng với các trầm tích khác. Có mặt cùng với bột kết, ñá phiến, sét… Trong hệ tầng Mỏ
Đồng (∈
∈∈
∈
1
), với quarzit, ñá phiến trong hệ tầng Bến Khế (∈
∈∈
∈
1
- O, với cát kết, bột kết, ñá phiến sét,
ryolit… ở hệ tầng sông Cả (D
3
-S) ñá phiến sét, cát bột kết, ñá phiến vôi, ñá vôi tướng biển ở hệ
tầng Mia Lé và Đại Thị (D
1-2
thấu kính nằm xen kẹp trong ñá phiến thạch anh- sericit và cát kết với chiều dài các thấu kính từ
80÷ 400 m, rộng 4÷ 8 m, phần trên bị phong hoá có chiều dày 2÷ 4 m. Magnesit có màu xanh
nhạt lốm ñốm nâu, có cấu tạo khối. Các khoáng vật của magnesit Bản Phúng là magnesit (53÷
60%) chlorit, ñolomit, thạch anh, các khoáng vật quặng ít.
Các ứng dụng của magnesit trong công nghiệp là rất lớn song do khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ
tầng của Việt Nam còn hạn chế nên chúng ta mới chỉ khai thác magnesit phục vụ cho sản xuất
vật liệu xây dựng. Magnesit Bản Phúng ñã ñược xí nghiệp gang thép Thái Nguyên sản xuất ra
gạch chịu lửa có chất lượng cao.
⁄
⁄⁄
⁄ 6. KAO LIN.
I. Đặc ñiểm thành phần.
Kaolin là ñá sét sáng màu, thành phần chủ yếu là kaolinit, một ít nacrit, ñickit và haloysit có
nguồn gốc khác nhau. Vật chất lẫn trong ñá có pirit, siderit, thạch anh, felspat, mica…
Thành phần hoá học chủ yếu của kao lin là Al
2
O
3
, SiO
2
, ngoài ra cón có K, Na, Ca, Mg với
lượng thấp.
II. Công dụng.
Trong số các nguyên liệu khoáng sản không kim loại và vật liệu xây dựng ở Việt Nam thì kao
lin là một trong những khoáng sản ñược sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực ñặc biệt là từ năm
1975 trở lại ñây. Ngoài việc sản xuất ra các loại gốm sứ phục vụ nhu cầu nhân dân thì kao lin
còn ñược dùng trong công nghiệp ñể sản xuất gạch sa mốt chịu lửa, bột mài, làm chất ñộn cho
giấy, cao su, da nhân tạo, sơn, xà phòng, thuốc trừ sâu…
III. Đặc ñiểm hình thành và phân bố.
Kaolin ñược hình thành trong ñiều kiện nóng ẩm do quá trình phân huỷ của khoáng vật
2
O + Na
2
O càng tăng lên.
Đới phong hoá mạnh có Kaolin màu vàng.
Đới phong hoá trung bình có Kaolin màu trắng khoáng vật kaolinit dưới rây 0,21 mm từ
8086%.
Đới phong hoá yếu có kaolin màu trắng, hạt thô với khoáng vật chủ yếu là felspat, kaolinit
và ít hyñromica.
Các tụ khoáng kaolin kiểu này thường có quy mô trung bình và nhỏ song ñều rất có triển
vọng. Kaolin có chất lượng rất tốt nên thường ñược sử dụng trong sản xuất các vật liệu sứ cao
cấp, sứ cách ñiện, chất ñộn, vật liệu chịu lửa Các tụ khoáng Hữu Khánh, Đồi Đao, Ba Bò, Mỏ
Ngọt chính là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công ty sản xuất sứ cao cấp và vật liệu cách ñiện,
công ty giấy của tỉnh Phú Thọ.
1.2. Kaolin trong vỏ phong hoá các macma xâm nhập axít.
Các ñá macma xâm nhập axit ñể hình thành cho kaolin này có tuổi từ Paleozoi ñến Kainozoi
thuộc phức hệ Sông Chảy, Đại Lộc, Ngân Sơn, PhuSaPhin, Cà Ná, với thành phần khoáng vật
trong kaolin là kaolinit, haloysit, metahaloysit, thạch anh, felspat Vỏ phong hoá các macma
xâm nhập axit thường gồm 3 ñới:
Đới phong hoá mạnh: dày 1030 m cho kaolin màu vàng nâu, nâu nhạt.
Đới phong hoá trung bình: 112 m cho kaolin màu vàng nhạt, trắng phớt xám.
Đới phong hoá yếu: 07 m cho kaolin phần trên có dạng bột, cục, dưới ñá gốc vỡ vụn.
Các tụ khoáng kaolin này rất có giá trị công nghiệp và hiện ñang ñược khai thác như tụ
khoáng Định Trung (Vĩnh Phúc), Trại Mát (Lâm Đồng), Đèo Le (Quảng Nam), Cà Đáo (Quảng
Ngãi), Phù Cát, Long Mỹ (Bình Định) Tuy nhiên hầu hết các tụ khoáng này ñều có trữ lượng
nhỏ ngoại trừ mỏ Trại Mát có trữ lượng lớn (khoảng 33 000 ngàn tấn).
Kaolin hình thành trong vỏ phong hoá các macma xâm nhập axit nói chung có chất lượng tốt,
ñáp ứng các yêu cầu sản xuất sứ gốm. Hiện tại ñã có nhiều xí nghiệp khai thác sử dụng nguồn
nguyên liệu này ñể làm ñồ sứ chất lượng cao.
1.3. Kaolin trong vỏ phong hoá các ñá phun trào axit:
Nam Bộ. Chúng ñược hình thành trong các ñiều kiện phát triển sông, sông - biển, sông - hồ gắn
bó với các thành tạo trầm tích của tường gần bờ trong môi trường axit nên chủ yếu ở trên các
thung lũng giữa núi, các bặc thềm sông, thềm bờ ven biển: ở Vĩnh Phú, Hà bắc, Hải dương,
Hưng yên, Thanh hoá, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng bình
2.2. Kaolin tái trầm tích có trong trầm tích Pleistocen giữa - muộn, Pleistocen - Pliocen:
Hình thành trên các thềm với tướng sông, sông - biển, biển - sông, phân bố ở các ñịa hình
ñồng bàng có ñộ cao 1530 m.
Thành phần trầm tích là bột sét, bột cát sạn, sỏi, cát lẫn kaolin, các lớp kaolin, sét trắng
trong trầm tích Pleistocen nguồn gốc sông phân bố chủ yếu ở ñồng bằng Tây Nam Bộ với các
mỏ Bến Cát, Chánh lưu, Thủ Dầu Một, Long thành, Thủ ñức, Đất Cuốc Hầu hết các xí nghiệp
gốm sứ ở Bình dương - Thủ dầu Một ñã khai thác loại kaolin này ñể sản xuất ñồ sứ ñạt chất
lượng tốt. Điển hình cho loại kaolin này là kaolin Đất Cuốc, Chánh lưu (tỉnh Bình Dương) hình
thành trong trầm tích Neogen - Đệ Tứ trên ñồi thoải với trữ lượng lớn từ
8 000 20 000 ngàn tấn.
Kaolin trong trầm tích Pleistocen trên, nguồn gốc sông - biển tuy ít gặp nhưng có phân bố ở
một số nơi như tụ khoáng Nội bài (Bắc bộ), Đồng khang tỉnh Thanh hoá. Kiểu kaolin này
thường có lượng oxyt sắt cao, chất lượng thấp, quy mô nhỏ bé chỉ dùng ñể sản xuất ñồ sứ giá trị
thấp.
Kaolin thành tạo do tái trầm tích thường ñược hình thành trong nhiều môi trường khác nhau
song nhình chung loại này thường có chất lượng thấp, có lẫn nhiều vật liệu vụn nhất là trong
trầm tích proluvi.
3. Kaolin pyrophylit nhiệt dịch biến chất trao ñổi trong ñá phun trào axit.
Các thân kaolin - pyrophylit thành tạo do biến chất trao ñổi giữa các dung dịch nhiệt dịch với
các ñá phun trào ryolit, ryolit porphyr, felsit, tyf của hệ tầng Khôn Làng Bình Liêu tuổi Trias
giữa; Nam Du (tuổi từ S - D). Các thân quặng lớn có giá trị công nghiệp với thành phần khoáng
vật là kaolinit, pyrophylit, sericit, alunit, thạch anh.
Kiểu kaolin này ñược phát hiện ở một số nơi như Tấn Mài, Bình liêu, Ba chẽ (Quảng ninh) A
ray (Quảng nam - Đà nẵng) song ñiển hình là mỏ Tấn Mài (Quảng ninh).
Kaolin Tấn Mài nằm trong ñá phun trào hệ tầng Khôn Làng gồm 6 thân quặng chính có chiều
dài 5002000 m, dày 1040 m, sâu 100400 m với thành phần khoáng vật chủ yếu là pyrophylit,
ñồ gốm, sứ, bột mài
III. Đặc ñiểm hình thành và phân bố.
Các tụ khoáng và ñiểm cát thuỷ tinh ở nước ta phân bố trên các bãi bồi sông, biển ñặc biệt là
dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam song tập trung chủ yếu ven bờ biển Trung Bộ. Hầu hết các tụ
khoáng và ñiểm quặng này có nguồn gốc trầm tích.
1. Cát trầm tích deluvi - proluvi.
Đây là sản phẩm của nhóm các thành tạo lục ñịa, chủ yếu ñược tích luỹ ở sườn dốc và chân
núi, khoảng thấp sát ñường chia nước. Ở chân núi các trầm tích hợp thành nón phóng vật nối
liền nhau. Các trầm tích này chủ yếu là do nước mưa rửa trôi các sản phẩm phong hoá xốp rời từ
trên các khoảng cao hơn ñưa xuống. Tuỳ thuộc vào thành phần ñá gốc, cấu tạo ñường chia nước,
sườn dốc, ñộ dốc của sườn mà thành phần của cát có sự phân biệt. Ở nước ta cát thuỷ tinh trong
trầm tích deluvi - proluvi thường tạo thành các dải cát quanh rìa các chân núi với thành phần cát
kết, cuội kết, granit là sản phẩm của quá trình sườn tích và lũ tích.
Một trong những tụ khoáng cát thuỷ tinh hình thành từ các trầm tích deluvi - proluvi là tụ
khoáng Thôn Bùng (Bắc Giang). Quá trình phong hoá mạnh làm cho các ñá cuội kết sáng màu
tuổi Nori vụn bở và trôi xuống tích tụ thành ñai cao hơn mặt ruộng 3 m bao quanh các chân ñồi.
Cát ở ñây có ñộ hạt lớn, hàm lượng SiO
2
cao (91,5%). Trữ lượng 140 ngàn tấn.
2. Cát trầm tích bãi bồi sông.
Phân bố chủ yếu ở các bãi bồi sông cổ và sông hiện ñại. Theo quy luật thì bên trên là lớp hạt
mịn, các lớp bên dưới thì chứa các thành phần hạt thô hơn. Do trong quá trình bồi tích trải qua
một thời gian dài, vật liệu bồi tích phong phú, phức tạp ñặc biệt vào thời kỳ mưa lũ do vậy trong
cát có lẫn nhiều sạn sỏi và tạp chất, ñộ chọn lọc kém, chiều dày mỏng, quy mô mỏ nhỏ nên khả
năng sử dụng rất hạn chế.
3. Cát trầm tích biển, gió tuổi Holocen trung - thượng.
Đây là loại chiếm phần lớn trữ lượng cát thuỷ tinh ở nước ta.
Nước ta có ñường bờ biển kéo dài từ Móng Cái ñến Hà Tiên với tổng chiều dài là 3260 km.
Dọc theo bờ biển cứ 10 km lại gặp một cửa sông. Với ñiều kiện khí hậu sạch nhiệt ñới ẩm gió
mùa làm cho các quá trình phong hoá ở nước ta rất phát triển. Mặt khác dọc khu vực miền
C có thể
lớn hơn 1800
0
C làm tăng ñộ bền vững của sản phẩm.
III. Đặc ñiểm hình thành.
1. Đisthen.
Trong tự nhiên ñisthen ñược thành tạo trong ñá trầm tích biến chất và sa khoáng. Ở từng tụ
khoáng với ñiều kiện ñá gốc, ñịa hình khác nhau thì thành phần quặng ñisthen có sự khác
nhau.
Trong hệ tầng sông Chảy (PR
3
- €
1
) chủ yếu là ñisthen có thành phần ñá phiến thạch anh,
mica, granat.
Trong hệ tầng Núi Voi (PR
3
- €
1
): ñisthen là sản phẩm phong hoá từ ñá phiến thạch anh, ñá
hoa.
Các tụ khoáng ñisthen sa khoáng thường có trữ lượng lớn hơn ñisthen trong ñá trầm tích biến
chất. Lớn nhất là tụ khoáng Sơn vi (Phú thọ) với trữ lượng 80 ngàn tấn, là kết quả của quá trình
tàn tích và sườn tích. Khoáng vật quặng chủ yếu của tụ khoáng này là kyanit có chất lượng tốt.
2. Silimanit.
Hiện nay chúng ta mới chỉ phát hiện ñược 4 ñiểm khoáng silimanit trong các ñá trầm tích
biến chất như ñá phiến thạch anh, gneis biotit ở Yên bái, Lào cai, Quảng nam, Quảng ngãi.
Silimanit thường tập trung thành lớp dày có khi lên tới hàng nghìn mét. Hàm lượng silimanit
trong các ñiểm khoáng này dao ñộng từ 2045% tồn tại dưới dạng xâm tán trong ñá hoặc tập
trung trên mặt lớp.
1. Sét chịu lửa trong trầm tích biển Pleistocen thượng (mQ
III
).
Kiểu sét chịu lửa thành tạo trong trầm tích biển Pleistocen thượng ở nước ta mới chỉ ñiều tra,
phát hiện và thăm dò ñược 3 tụ khoáng là Thượng lát (Bắc giang), Trúc Thôn (Hải dương), Tân
Phước khánh (Đồng nai).
Tụ khoáng Trúc Thôn (Hải dương) có trữ lượng lớn nhất (11 420 ngàn tấn) nằm trong trũng
chứa sét Chí linh - Đông triều. Tầng sét chịu lửa dày 15 m, dài 7504750 m, rộng 2001950 m.
Sét có màu trắng xám, xám sáng, mịn dẻo với thành phần khoáng vật chủ yếu là kaolinit và
hyñromica. Các sản phẩm tích tụ mịn, ñộ chịu lửa cao (15801730
0
C).
2. Sét chịu lửa trong các trầm tích Neogen.
Được thành tạo từ trầm tích Neogen trong hệ tầng Nà dương và Di linh, các thân sét có dạng
lớp hoặc thấu kính dày từ 830 m, màu trắng xám, xám xanh, xám tro. Sét chịu lửa kiểu này
thường có ñộ chịu lửa cao, chất lượng tốt.
Tụ khoáng Yên sơn (Tuyên quang) ñược thành tạo từ các khoáng vật chính là kaolinit và oxyt
nhôm tự do dưới dạng hyñrargilit, ít thạch anh, hyñromica, rutil, zircon. Phân bố trên vùng ñồi
thoải. Lớp sét chịu lửa có màu trắng xám, xám vàng lẫn tàn dư thực vật. Tổng trữ lượng 250
ngàn tấn.
Ngoài tụ khoáng Yên sơn (Tuyên quang) ta còn phát hiện và ñã ñánh giá trữ lượng của tụ
khoáng Blao (Lâm ñồng).
3. Sét kết chịu lửa trong trầm tích chứa than tuổi Trias.
Sét kết chịu lửa ñã ñược ñánh giá ở 3 mỏ, tụ khoáng: Thị cầu (Bắc ninh), Mạo khê, Yên tử
(Quảng ninh).
Trong Trias, võng sông Đà bị sụt lún mạnh tạo ñiều kiện cho các trầm tích lục nguyên hình
thành. Tại khu vực nền móng Calêñôni Đông Bắc có trầm tích lục ñịa chứa than. Các trầm tích
này chính là các tụ khoáng sét kết chịu lửa ngày nay. Trong các tụ khoáng sét kết chịu lửa ñã
ñược phát hiện thì mỏ sét chịu lửa Thị cầu (Bắc ninh) là lớn nhất với tổng trữ lượng là 260 ngàn
tấn nằm trên các khu vực ñồi thấp.
chung của nền kinh tế ñất nước.
Việc khai thác các mỏ, tụ khoáng, ñiểm quặng của nhóm khoáng sản này sẽ là nguồn cung
cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân khác (công nghiệp, giao thông vận tải ), phục
vụ ñắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện ñại hoá ñất nước. Đây chính là nguyên liệu chủ
yếu trong sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ thuỷ tinh Nước ta ñã sản xuất ñược các sản
phẩm gốm sứ cách ñiện, ñồ sứ cao cấp, sứ vệ sinh, kính xây dựng gốm ceramic, xi măng, gạch
công nghiệp, gạch men, gạch ốp lát, gạch chịu lửa không những ñã góp phần quan trọng trong
xây dựng cơ sở hạ tầng ñáp ứng sự ña dạng về nhu cầu của thị trường mà còn hạn chế ñược
nhập các sản phẩm này từ nước ngoài, bình ổn nền kinh tế. Hiện chúng ta ñã có một số nhà máy,
xí nghiệp như xí nghiệp kính Đáp cầu (Bắc ninh) công suất 28 triệu m
2
/năm, xí nghiệp sản xuất
gạch gốm, sứ vệ sinh Thiên thanh và Ceramic 1 (Bình dương), công ty sứ vệ sinh Thanh trì (Hà
nội)
Không chỉ ñáp ứng các nhu cầu trong xây dựng mà hiện nay các sản phẩm ñồ sứ, thuỷ tinh
gia dụng, trang trí với chất lượng cao, mẫu mã ñẹp, phong phú ñã và ñang ñáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người dân. Các cơ sở sản xuất mặt hàng này phân bố chủ yếu ở Bát tràng (Hà nội),
Hải dương, Móng cái, Đồng nai, Bình dương
Trong các ngành công nghiệp khác (luyện kim, hoá chất ) thì nguồn khoáng sản này ñóng
vai trò là nguồn cung cấp chất phụ gia, trợ dung cho sản xuất. Trong sản xuất giấy thì sử dụng
magnesit, kaolin làm chất phụ gia, magnesit, kaolin, felspat là phụ gia làm tăng ñộ mịn cho sản
xuất xà phòng, quarzit và ñolomit là chất trợ dung cho công nghiệp luyện kim Tuy rằng trong
những ngành công nghiệp này khối lượng sử dụng các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ
tinh, chịu lửa không nhiều song ñây lại là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất ñể làm tăng giá
trị của sản phẩm.
Đối với nông nghiệp thì các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa chỉ có ảnh
hưởng gián tiếp. Từ magnesit và kaolin người ta có thể sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu là các
sản phẩm quan trọng trong nông nghiệp. Đặc biệt là trong quá trình sản xuất thâm canh cao như
hiện nay thì các sản phẩm này ñóng vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất.
Ngoài ra, một số khoáng sản như cát thuỷ tinh còn ñược khai thác và trực tiếp sử dụng trong
khẩu. Tức là sản xuất không chỉ phục vụ cho thị trường trong nước với 80 triệu dân mà phải
cung cấp hàng hoá tới thị trường của các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế
giới. Phát triển sản xuất hướng ra xuất khẩu cũng là giai ñoạn ba của quá trình công nghiệp hoá
ở các nước Đông Nam Á nói chung. Định hướng này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển
của nền kinh tế nước ta ñồng thời cũng giúp chúng ta hoà nhập với xu hướng quốc tế hoá của
nền kinh tế thế giới.
Tóm lại từ ñịnh hướng phát triển chung thì trong mỗi giai ñoạn, với mỗi loại khoáng sản khác
nhau, tình hình sử dụng và nhu cầu khác nhau chúng ta lại có những kế hoạch khai thác và sử
dụng cụ thể, tỉ mỉ hơn khi ñó khai thác tài nguyên thiên nhiên không chỉ phục vụ cho phát triển
công nghiệp, phát triển kinh tế trước mắt mà phải ñảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, khai
thác tiết kiệm kết hợp với bảo vệ tài nguyên và môi trường giúp nền kinh tế phát triển ổn ñịnh
lâu dài.
KẾT LUẬN.
Sau một thời gian thực hiện ñề tài “ Đặc ñiểm và sự phân bố nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ
gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam” ñã hoàn thành. Qua quá trình thực hiện ñề tài, em rút ra
một số kết luận sau:
I. Một số kết luận chủ yếu.
1. Quá trình hình thành khoáng sản nguyên liệu sứ, gốm thuỷ tinh, chịu lửa gồm 3 giai
ñoạn.
Giai ñoạn phá huỷ ñá gốc (macma, trầm tích, biến chất): trong giai ñọan này, quá trình phong
hoá và nhân tố khí hậu có tính chất quyết ñịnh.
Giai ñoạn vận chuyển vật liệu: ñược thực hiện chủ yếu bởi các yếu tố nước mặt. Tuỳ thuộc
ñộng lực dòng chảy và trọng lượng vật liệu mà sự phân bố các trầm tích có sự khác nhau, gần
hoặc xa ñá gốc.
Giai ñoạn tích tụ: Quá trình tích tụ phụ thuộc nhiều vào ñịa hình thuận lợi cho sự tích tụ. Đó
là các sườn dốc, vùng trũng trước núi, bậc thềm sông biển
2. Vai trò của các yếu tố tự nhiên tới sự hình thành khoáng sản.
Trong việc hình thành các khoáng sản nguyên liệu, sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
thì các yếu tố tự nhiên( ñịa chất ñịa hình, khí hậu, thuỷ văn ) có vai trò rất lớn. Mỗi yếu tố này
chúng có vai trò khác nhau, tác ñộng lẫn nhau, quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời
tối ña các khoáng vật phụ kèm theo ñể tiết kiệm trong chi phí kinh tế và ñể sử dụng trong các
ngành công nghiệp khác của nước ta.
Thiết kế các công trình xử lý bụi, khí ñộc hại và nước thải.
Việc khai thác phải ñi ñôi với việc bảo vệ môi trường ñặc biệt là môi trường ven biển và các
cảnh quan ven biển. Khi khai thác cát thuỷ tinh ven biển có những tụ khoáng có ñộ sâu lớn (tụ
khoáng Thuỷ triều tỉnh Khánh Hoà) nên khi khai thác sẽ ảnh hưởng ñến cảnh quan môi trường
ven biển ñặc biệt là cảnh quan ven biển còn ñể du lịch, nghỉ ngơi giải trí. Vì vậy việc bảo vệ môi
trường cảnh quan vùng biển trong quá trình khai thác là hết sức cần thiết./.
Phụ lục 1.
Đặc ñiểm và trữ lượng một số tụ khoáng khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ
tinh, chịu lửa ở Việt Nam.
Tên kh sản
Tên tụ khoáng Đặc ñiểm, thành phần hoá học (%) Trữ lượng
Đông Quan Al
2
O
3
= 19; Fe
2
O
3
= 4 43 ngàn tấn
Việt Dân Al
2
O
3
= 17,8; Fe
2
3
=3,2 7680 ngàn tấn
Thân sét dài 60 – 1000 m, rộng 15 - 30 m, dày
2- 4m.
SiO
2
= 67,86 - 70,30
Sét gốm
Hợp Th
ành
(Lạng Sơn)
Al
2
O
3
= 16,2 - 18,5; Fe
2
O
3
=6,0 - 8,0
370 ngàn tấn
Thạch Bình CaO = 30 - 31; MgO = 20,2 - 21,4
(Ninh Bình) Fe
2
O
3
= 0,04 - 0,19; MKN = 43,57 - 55
95 000 ngàn
2
O = 2,45 - 3,8; MgO = 0,5 - 0,6
Minh Tân
(Hải Dương)
CaO = 0,65 - 2,03
5775 ngàn tấn
Phú Toản SiO
2
= 75,62; Al
2
O
3
= 15,55; Fe
2
O
3
= 1,06
(Quảng Nam) K
2
O = 3,33; Na
2
O = 4,45
1000 ngàn tấn
SiO
2
= 76,52; Al
2
O
Đồn V
àng
(Phú Thọ)
Độ chịu lửa ~ 1730
o
C
565 000 ngàn
tấn
Đại Thị SiO
2
=77 - 97; Al
2
O
3
=1-7;
Quarzit
(Tuyên Quang)
Fe
2
O
3
=0,2-0,3; CaO=0,2-0,3.
540 000 ngàn
tấn
MgO=25,58-28,25; CaO=1,34-1.91.
Fe
2
O
3
(Lâm Đồng)
Đới phong hoá trung bình: SiO
2
=47-54;
33 000 ngàn
tấn
Al
2
O
3
=0,5-2,5; K
2
O+Na
2
O=2-5;
MKN=10-13;
Đới phong hoá yếu: SiO
2
=54-65;
Al
2
O
3
=20-29; Fe
2
O
3
=0,5-1,5;
K
2
49 000 ngàn
tấn
Al
2
O
3
=10-39; SiO
2
=40-50; Ti
2
O=0,03-1;
Fe
2
O
3
=0,01-0,07; CaO=0,05-1,4;
MgO=0,05-0,5; K
2
O=0,16;
Tấn M
ài
(Quảng Ninh)
Na
2
O = 0,1-1,3; MKN=1,4-2,1
58 000 ngàn
tấn
SiO
2
2
O
3
=23,5-34; Fe
2
O
3
=2-5;
(Hải Dương) MKN=13,53; Độ chịu lửa - 1580-1730oC
11420 ngàn
tấn
SiO
2
=61-64; Fe
2
O
3
=1,5-2,5;
TiO
2
<0,7; MgO=0,3-0,5; CaO=0,5-0,7;
Sét chịu
lửa
Th
ị Cầu
(Bắc Ninh)
MKN=5; Độ chịu lửa 1580-1610oC
260 ngàn tấn