Điện từ sinh học/Hiện tượng màng tế bào ( phần 3 )
3.4.2 Giá trị của điện thế nghỉ, phương trình Goldman-Hodgkin-Katz
Mối quan hệ giữa điện thế màng và dòng ion là cực kì quan trọng. Để
nghiên cứu về mối quan hệ này ta có một số giả thuyết: thứ nhất, đó là
màng sinh học là đồng chất và trung lập ( giống như một mảnh kính
mỏng); thứ hai, vùng nội bào và ngoại bào hoàn toàn đồng nhất và không
đổi. Ví dụ kiểu được miêu tả ở đây là kiểu khuyếch tán điện tử. Các kiểu
này được mô tả bởi Goldman-Hodgkin-Katz trong phần này.
Do màng sinh học rất mỏng như đã nói ở bên, chúng ta sẽ xem như bất kì
một nguyên tố nào của màng dưới góc độ hai chiều. Giả sử theo kiểu
Goldman-Hodgkin-Katz thì màng tế bào là đồng nhất, hai chiều và vô
hạn ở bên. Nếu trục x thường được chọn để biểu diễn màng tế bào gốc tại
bề mặt của màng trong vùng ngoại bào và độ dày màng là h, thì khi x = h
xác định bề mặt của màng trong vùng nội bào. Vì giả sử như đồng nhất
như ở bên, sự thay đổi của trường điện thế Φ và nồng độ ion c trong
màng chỉ là hàm của x. Giả thiết cơ bản dưới kiểu Goldman-Hodgkin-
Katz là trường bên trong màng là hằng số, do đó:
(3.24)
trong đó
φ
o
= điện thế tại bề mặt ngoài của màng
φ
h
= điện thế tại ề mặt trong của màng
V
m
= điện thế chuyển màng
h = độ dày màng
Sự xấp xỉ này lần đầu được đưa ra bởi David Goldman (1943) Phương
trong đó,
= nồng độ của math>k^{th}</math> ion tại x = h
= nồng độ của k
tk
tại x=0
Cả hai có thể biến đổi được xác định trong màng.
Từ phương trình 3.28 suy ra j
k
,
(3.29)
Nồng độ của k
th
ion trong phương trình 3.29 là trong màng tế bào. Tuy
nhiên, nồng độ được tính ở đây là ở trong không gian nội bào và ngoại
bào. Lúc này, tỉ lệ mật độ ngoài và trong màng được mô tả bởi hệ số phân
số , β, có nhiều giả định giống như trên bề mặt của trong và ngoài màng
tế bào. Do đó, khi x = 0 tại bề mặt ngoài màng tế bào và x = h tại bề mặt
trong màng, chúng ta có
(3.30)
trong đó,
β = hệ số phân chia
c
i
= Nồng độ ion đo dược trong nội bào
c
o
= Nồng độ ion đo dược trong ngoại bào
Mật độ dòng điện J
Trong phương trình 3.34, Biểu thức cường độ dòng ion natri cũng tương
tự như với kali (trừ ra sự chuyển đổi Na - K); tuy nhiên, biểu thức yêu
cầu với clo phải thay đổi theo hàm mũ, phản ánh hóa trị âm.
Mẫu số có thể được bỏ đi từ phương trình 3.34 bằng cách nhân cả tử số
và mẫu số với hệ số và sau đó nhân với 1 - -
e^\frac{FV_{m}}{RT} Do đó chúng ta có
(3.35)
Nhân với hệ số thấm màng và tổng hợp lại ta có
(3.36)
Từ phương trình này, chúng ta có thể tính được hiệu điện thế V
m
qua
màng tế bào như dưới:
(3.37)
Trong đó V
m
bằng điện thế trog màng trừ đi điện thế ngoài màng (ví dụ
điện thế chuyển màng). Phương trình này được gọi la phương trình
Goldman-Hodgkin-Katz. Nó bắt nguồn dựa trên công sức của David
Goldman (1943) và Hodgkin, Katz (1949). Lưu ý đầu tiên trong phương
trình 3.37 là đóng góp tỉ đối của mỗi ion đặc biệt với điện thế nghỉ là
tương đối bởi sự thấm của các ion này. Với sợi trục mực ống, chúng ta
chú ý rằng ( phần 3.5.2) P
Na
bị tăng lên hoặc giảm đi khi màng tế bào cho thấm qua hai dạng ion A
+
và B
+
và tỉ lệ thấm của các ion này là P
A
/P
B
, điện thế nghị được xác định
bằng phương trình
(3.39)
Phương trình này tương tự như phương trình Nenst (3.21), nhưng nó gồm
hai dạng ion. Đây là dạng đơn giản nhất của phương trình Goldman-
Hodgkin-Katz (phương trình 3.37).
3.5 Dòng ion qua màng
3.5.1 Sự dịch chuyển của các hệ số ion khi qua màng
Trong phần này, ta sẽ khảo sát sự thay đổi của dòng ion qua màng tế bào
dưới điều kiện nghỉ thông thường. Dòng ion này qua màng tế bào phụ
thuộc vào ba yếu tố:
1. Tỉ lệ của nồng độ ion trên cả hai mặt của màng tế bào
2. Điện thế qua màng và
3. Độ thấm màng
Hiệu ứng của sự chênh lệch nồng độ và điện thế màng trong dòng ion tỉ lệ
với nhau, thay cho tỉ lệ nồng độ nồng độ là điện thế Nernst tương ứng
được quan tâm. Lực tác động lên các ion tỉ lệ với sự chênh lệch điện thế
màng và điện thế Nernst.
Về độ thấm màng, chúng tôi lưu ý rằng liệu màng sinh học chỉ gồm có
hai lớp lipit như được miêu tả một cách dễ dàng không, tất cả các dòng
5.5 150
Cl
−
125 9
Với mỗi ion, điện thế cân bằng ở dưới có thể tính được nhờ phương trình
Nernst
V
Na
= − 61log
10
(15 / 150) = 61mV =
V
K
= − 61log
10
(150 / 5.5) = − 88mV
V
Cl
= + 61log
10
(9 / 125) = − 70mV
Điện thế nghỉ của tế bào đo được là -70mV
Bây giờ, chúng ta sẽ nghiên cứu các phần tử ion khác nhau một cách chi
tiết hơn. Hodgkin and Huxley đã mô tả các thuộc tính dòng điện của sợi
trục bắt đầu từ những năm 1950 (xem chương 4), họ tin rằng hai đến ba
dạng kênh ion khác nhau (Na+, K+, and Cl-) là đầy đủ với thuộc tính của
trạng thái tế bào kích thích. Tuy nhiên, số các kênh ion khác nhau là rất
lớn. Vào năm 1984, , Bertil Hille (Hille, 1984/1992) đã tổng kết lại những
gì mà ông ấy biết vào thời gian này về kênh ion. Ông ấy quan tâm tới bốn
đến năm dạng kênh ion cùng có trong tế bào và gen có mã là tổn của 50
dòng điện màng phải bằng 0. Với natri và kali, điều đó cũng có nghĩa là
tổng các dòng trong và ngoài phải bằng nhau về độ lớn. Khi lực truyền
với kali lớn gấp 6.5 lần natri. Bởi vì, độ thấm nghỉ yếu nên sự đóng góp
của ion natri với điện thế chuyển màng nghỉ thi thoảng không được nhắc
đến như xấp xỉ. Trong ví dụ ở trên, nồng độ và độ thấm ion được chọn
cho tế bào thần kinh vận động của mèo. Trong sợi trục của mực ống, tỉ lệ
của độ thấm màng nghỉ của kali, natri và clo là
P
K
:P
Na
:P
Cl
= 1:0.04:0.45
3.5.3 Bơm Na-K
Với cấu trúc của các ion của không gian trong và ngoài màng tế bào được
duy trì bởi bơm Na-K. Giống như chú ý ở trên, trong trạng thái ổn định,
tổng cường độ các dòng điện bị động bằng 0. Dòng ngoài và dòng trong
của kali bằng nhau và ngược dấu (khi chúng cùng có thành phần ion). Khi
bơm Na-K được tin rằng sẽ trao đổi 1 mol kali cho 1 mol natri, không có
dòng điện thực nào được mong đợi ở đây. Tuy nhiên, những chứng minh
mới đây cho thấy bới 2 mol kali bơm vào sẽ cho ra 3 mol natri. Một cái
bơm như vậy được gọi là gien điện tử và nó phải xét đến trong bất kì một
kiểu về lượng nào của cường độ dòng tế bào (Junge 1981)
3.5.4 Hình minh họa của dòng ion màng tế bào
Dòng ion của natri và kali qua màng tế bào và gradient điện hóa được
minh họa trong hinh 3.5. Với mỗi ion, các sợi rõ ràng miêu tả các dòng
ion, độ rộng của viền và số lượng của dòng và độ dốc, độ bền của
gradient điện hóa. Như trong hình 3.2, trục tung chỉ ra điện thế và trục
hoàng là khoảng các thông thường tới màng. Hơn nữa, ΔV dương (hướng