Nghiên cứu đặc điểm và giá trị tiên lượng của xạ hình tưới máu cơ tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim - Pdf 18

1
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhồi máu cơ tim (NMCT) là một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong ở các nước phát triển cũng như ở Việt Nam. Theo
thống kê của Hội Tim mạch Hoa Kỳ có 8.500.000 bệnh nhân (BN)
NMCT, tử vong 141.462 người. Ở Việt Nam, NMCT ngày càng gia
tăng trong cơ cấu bệnh tật điều trị nội trú và ngoại trú. Mặc dù đã có
nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị NMCT cấp, đặc biệt can
thiệp động mạch vành (ĐMV) thì đầu. Tuy nhiên, những BN sau
NMCT còn có một tỷ lệ đáng kể các tai biến tim mạch do tình trạng
thiếu máu cơ tim tồn dư, rối loạn chức năng thất trái và loạn nhịp tim …
Vì vậy, cần phải có các thăm dò đánh giá và phân tầng nguy cơ của
BN sau NMCT để có các biện pháp điều trị thích hợp.
Xạ hình tưới máu cơ tim (XHTMCT) là phương pháp thăm dò
không chảy máu, có giá trị rất cao trong chẩn đoán bệnh ĐMV. Đối
với BN sau NMCT, phương pháp này có thể đánh giá được tình trạng
tưới máu cơ tim tại vùng nhồi máu, cạnh vùng nhồi máu và vùng cơ
tim do tổn thương các nhánh ĐMV khác. Đặc biệt, cho phép phân
biệt sẹo NMCT (tổn thương không hồi phục) với vùng cơ tim thiếu
máu nặng (tổn thương có thể phục hồi sau điều trị). Sử dụng kỹ thuật
Gated SPECT cho phép đánh giá vận động vùng thành tim, xác định
kích thước, chức năng tâm thu của thất trái. Các đặc điểm trên có giá
trị trong chẩn đoán các tổn thương của cơ tim và tiên lượng ở BN sau
NMCT. Các nghiên cứu trong nước còn ít và chưa chi tiết, đầy đủ về
xạ hình Gated SPECT tưới máu cơ tim trên các BN sau NMCT.
2. Mục tiêu nghiên cứu
1. Nghiên cứu đặc điểm tổn thương trên xạ hình Gated SPECT
tưới máu cơ tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim.
3

cục bộ liên tục quay trở lại mô bình thường hoặc ngược lại chuyển
thành tổn thương, vùng tổn thương thì lập tức hoặc quay trở lại thiếu
máu cục bộ, hoặc "chết" (hoại tử). Cả 3 vùng đó, khi khởi phát
thường phát triển từ lớp cơ tim sát nội tâm mạc tiến tới lớp cơ tim sát
thượng tâm mạc. Hơn nữa, xơ vữa động mạch (ĐM) thường gây tổn
thương hẹp nhiều đoạn của ĐMV thủ phạm gây nhồi máu và/hoặc ở
các nhánh ĐMV khác, các vùng cơ tim được chi phối bởi các ĐM
này có khả năng bị thiếu máu nên BN dễ có cơn đau thắt ngực
(CĐTN) và NMCT tái phát. Quá trình tái cấu trúc thất trái diễn ra
ngay sau NMCT bao gồm giãn rộng vùng nhồi máu, giãn vùng không
hoại tử và phì đại thất trái. Hậu quả là tăng áp lực, thể tích cuối tâm
thu và cuối tâm trương thất trái, giãn rộng buồng tim, giảm phân số
tống máu dẫn tới suy tim.
1.2. Xạ hình tưới máu cơ tim
1.2.1.Nguyên lý của phương pháp chụp xạ hình tưới máu cơ tim
Ghi lại bằng hình ảnh mức độ tập trung và mật độ phân bố dược
chất phóng xạ tại cơ tim, sự phân bố này phụ thuộc dòng máu cung
cấp bởi ĐMV. Dựa trên sự khác biệt về mật độ phân bố phóng xạ của
cơ tim giữa pha gắng sức và pha nghỉ, XHTMCT có thể phát hiện,
đánh giá vị trí, mức độ, độ rộng cũng như khả năng hồi phục của tổn
thương thiếu hụt phóng xạ của cơ tim. Khi gắng sức thể lực tần số
tim tăng, nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ tim tăng, nếu ĐMV bị hẹp, khả
năng đáp ứng tăng cung cấp oxy cho cơ tim không tương ứng, làm
bộc lộ các tổn thương thiếu máu cơ tim (TMCT). Gắng sức bằng
thuốc giãn mạch làm tăng lưu lượng máu đến cơ tim nhiều hơn, ở các
5
ĐMV bị vữa xơ đáp ứng giãn mạch kém, gây nên sự khác biệt rõ rệt
về tưới máu giữa các vùng cơ tim bình thường và bệnh lý.
1.2.2.Các kỹ thuật chụp xạ hình tưới máu cơ tim
- Kỹ thuật chụp planar: chụp hình phẳng cho phép ghi nhận hình ảnh tĩnh.

cứu của Zhang X.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Thị Minh Bảo, Lê Ngọc Hà
và cs (2002) thấy rằng XHTMCT gắng sức bằng dobutamine có độ
nhạy là 91,6%, độ đặc hiệu 70% trong chẩn đoán bệnh ĐMV. Theo
Đặng Vạn Phước, Trịnh Thị Minh Châu và cs (2002), XHTMCT rất
có giá trị trong chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn. Đào Tiến
Mạnh (2006) nhận thấy XHTMCT có độ nhạy 91,7%, độ đặc hiệu
66,7%, độ chính xác 84,5%, giá trị dự báo dương tính 87,3% và
giá trị dự báo âm tính 72,2%. Lê Mạnh Hà và cs thấy độ nhạy
95,2%, độ đặc hiệu 78,6% và độ chính xác 91,1% trong chẩn đoán
bệnh ĐMV khi chụp XHTMCT Tc
99m
- sestamibi sử dụng dipyridamole.
Nhìn chung, các nghiên cứu về xạ hình SPECT tưới máu cơ tim ở
Việt Nam còn ít và chưa chọn lọc, giai đoạn đầu chưa thống nhất về
quy trình, tiến hành trên máy gamma camera 1 đầu, trên đối tượng là
bệnh ĐMV nói chung, nhưng trên các BN sau NMCT còn ít và chưa
phân tích đầy đủ về các đặc điểm tổn thương, tình trạng sống còn của
cơ tim , cũng như giá trị tiên lượng các biến cố tim mạch giai đoạn
sau NMCT. Đó chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài này.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 139 BN sau NMCT điều trị tại khoa Nội tim mạch và chụp
xạ hình Gated SPECT tưới máu cơ tim bằng Tc99m-sestamibi tại
7
khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện TƯQĐ 108 từ tháng 01 năm 2007
đến tháng 09 năm 2010.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
+ Các BN đã được chẩn đoán NMCT cấp theo tiêu chuẩn của Tổ

- Chụp XHTMCT Tc99m - MIBI theo phương pháp Gated SPECT
pha nghỉ và pha gắng sức theo hướng dẫn của Hội tim mạch hạt nhân
Hoa Kỳ (2007). Gắng sức thể lực sử dụng bộ thảm lăn Schiller CS 200
của Cộng hòa liên bang Đức hoặc gắng sức bằng dipyridamole.
. Dược chất phóng xạ: Technetium-99m gắn với sestamibi.
. Phương tiện: Máy SPECT Gamma camera 2 đầu (dual head) có
phần mềm xử lý hình ảnh kèm theo.
. Chụp XHTMCT được tiến hành sau khi tiêm dược chất phóng xạ
45 - 60 phút. Thu nhận hình ảnh SPECT được thực hiện với
collimator song song, năng lượng thấp, độ phân giải cao, thu nhận ở
32 vị trí, theo quỹ đạo quay của đầu colimator 180
0
từ 45
0
chếch
trước phải đến vị trí 45
0
chếch sau trái, 25 giây/1 ảnh, chế độ ECG
Gated SPECT, ma trận 128 x 128. Hình ảnh được xử lý theo phần
mềm cho các lớp cắt theo trục ngắn, trục dài thẳng đứng và trục dài
nằm ngang.
- Kết quả hình ảnh XHTMCT được phân tích đánh giá theo hướng
dẫn của Hội tim mạch hạt nhân Hoa Kỳ (2007).
2.2.4. Theo dõi các biến cố tim mạch
Các BN được theo dõi diễn biến lâm sàng và làm các xét nghiệm
cần thiết, điện tim, siêu âm, X quang tim phổi, đăng ký vào hồ sơ theo
dõi theo mẫu thống nhất qua thăm khám trực tiếp định kỳ (6 tháng/lần)
và/hoặc tái nhập viện sau khi chụp XHTMCT. Các biến cố tim mạch
9
chính được ghi nhận là: cơn đau thắt ngực, NMCT tái phát, suy tim,

Khuyết xạ có hồi phục 89 64
Khuyết xạ cố định 24 17,3
Kết hợp 26 18,7
Mức độ
khuyết xạ*
Nhẹ 6 4,3
Vừa 21 15,1
Nặng 112 80,6
10
Độ rộng
khuyết xạ*
Hẹp 3 2,2
Trung bình 31 22,3
Rộng 105 75,5
Cơ tim sống Có 79 56,8
Không 60 43,2
* Mức độ khuyết xạ đánh giá theo tổn thương có mức độ nặng nhất
Khuyết xạ có hồi phục, mức độ nặng và diện rộng chiếm đa số là
64%, 80,6% và 75,5% . 79 BN chiếm 56,8% có vùng cơ tim còn khả
năng sống.
Bảng 3.7. Các thông số định lượng, phân số tống máu, thể tích
và điểm vận động thành thất trên xạ hình tưới máu cơ tim
Các thông số định lượng
Số BN (n =
139)
Tỷ lệ (%)
Tổng số điểm
tưới máu khi
nghỉ (SRS)
X ± SD 13,5 ± 5,38

- Chủ yếu gặp ở nhóm SRS > 13 (52,5%) và SSS > 13 (66,2%).
- Nhóm SDS 2 - 6 là 68,3% và SDS ≥ 7 có tỷ lệ là 12,3%.
- 79 BN có ESV > 70 ml chiếm 56,8% và EF ≤ 40% là 34,5%.
3.2.2. Mối liên quan giữa các thông số định lượng trên xạ hình
tưới máu cơ tim với ESV, EF% và WMS
Bảng 3.12. Liên quan giữa các thông số định lượng và ESV
Các thông số
định lượng
ESV ≤ 70 ml
(n = 60)
ESV > 70 ml
(n = 79)
p
n % n %
SRS
X ± SD 10,5 ± 4,46 15,8 ± 4,89 < 0,001
≤ 8 24 40 4 5,1
< 0,0019 – 13 19 31,7 19 24,1
> 13 17 28,3 56 70,8
SSS
X ± SD 13,8 ± 4,70 19,5 ± 5,04 < 0,001
≤ 8 8 13,3 1 1,3
< 0,001
9 – 13 29 48,3 9 11,4
> 13 23 38,3 69 87,3
SDS
X ± SD 3,5 ± 2,14 3,6 ± 1,98 > 0,05
0 – 1 12 20 15 19
> 0,052 – 6 39 65 56 70,9
≥ 7 9 15 8 10,1

3.3. Giá trị tiên lượng các biến cố tim mạch của xạ hình tưới máu
cơ tim
Trong số 139 BN, chúng tôi theo dõi được 136 BN, thời gian
trung bình 20,5 ± 11,18 tháng. Tái tưới máu mạch vành là 40,4%,
CĐTN và/hoặc NMCT tái phát 33,1%, 16 BN tử vong (11,8%).
3.3.1. Giá trị tiên lượng của XHTMCT đối với biến cố tim mạch chung
Bảng 3.20. Các thông số trên xạ hình tưới máu cơ tim ở nhóm
không và có biến cố tim mạch chung
Các thông số
định lượng
Biến cố chung
pKhông (n = 33) Có (n = 103)
n % n %
SRS
X ± SD 11,8 ± 4,59 14,2 ± 5,55 < 0,05
≤ 8 7 21,2 20 19,4
< 0,019 - 13 16 48,5 20 19,4
> 13 10 30,3 63 61,2
SSS
X ± SD 14,5 ± 4,77 18 ± 5,67 < 0,01
≤ 8 3 9,1 6 5,8
< 0,019 - 13 16 48,5 20 19,4
> 13 14 42,4 77 74,8
SDS
X ± SD 3 ± 1,75 3,8 ± 2,11 < 0,05
0 - 1 8 24,2 18 17,5
> 0,052 - 6 24 72,4 69 67
≥ 7 1 3,1 16 15,5
ESV, EF, WMS đánh giá bằng Gated SPECT
ESV X ± SD 64,1 ± 20,7 70,3 ± 21,22 > 0,05

SRS
X ± SD 12,4 ± 5,29 16,1 ± 4,83 < 0,001
≤ 8 24 26,4 3 6,7
< 0,01
9 - 13 28 30,8 8 17,8
> 13 39 42,8 34 75,5
SSS
X ± SD 15,4 ± 5,37 20,8 ± 4,32 < 0,001
≤ 8 9 9,9 0 0
< 0,0019 - 13 33 36,3 3 6,7
> 13 49 53,8 42 93,3
SDS X ± SD 3,1 ± 1,79 4,6 ± 2,2 < 0,001
0 - 1 22 24,2 4 8,9
< 0,01
2 - 6 64 70,3 29 64,4
14
≥ 7 5 5,5 12 26,7
ESV, EF, WMS đánh giá bằng Gated SPECT
ESV X ± SD 65,2 ± 21,56 76,1 ± 18,59 < 0,01
EF % X ± SD 50,4 ± 16,87 45,8 ± 15,69 > 0,05
WMS X ± SD 12,7 ± 6,94 16,3 ± 4,63 < 0,01
Điểm SDS trung bình và tỷ lệ BN có SDS ≥ 7 cao hơn rõ rệt ở
nhóm có biến cố CĐTN và/hoặc NMCT tái phát.
Bảng 3.24. Nguy cơ của các tổn thương trên xạ hình với
biến cố cơn CĐTN và/hoặc NMCT tái phát
Tổn thương trên XHTMCT RR 95% CI p
Khuyết xạ có hồi phục 3* 1,01 - 8,88 < 0,05
Khuyết xạ mức độ nặng 2,42 0,95 - 6,16 > 0,05
Khuyết xạ diện rộng 3,28* 1,27 - 8,48 < 0,05
SRS > 13 2,67* 1,48 - 4,81 < 0,01

15
2 - 6 74 74 19 52,8
≥ 7 12 12 5 13,9
ESV, EF và WMS đánh giá bằng Gated SPECT
ESV X ± SD 65,1 ± 21,03 79,3 ± 18,12 < 0,001
EF % X ± SD 51 ± 16,25 43,2 ± 16,34 < 0,05
WMS X ± SD 12,5 ± 6,19 17,8 ± 5,67 < 0,001
Giá trị trung bình của SRS, SSS, ESV, WMS cao hơn và EF thấp
hơn rõ rệt ở nhóm suy tim (p < 0,001 và < 0,05). Tỷ lệ BN có SRS > 13
và SSS > 13 cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có suy tim.
Bảng 3.27. Nguy cơ của các tổn thương trên xạ hình với biến cố suy tim
Tổn thương trên XHTMCT RR 95% CI p
Khuyết xạ cố định 4,18* 2,58 - 6,78 < 0,001
Khuyết xạ mức độ nặng 4,02* 1,03 - 15,6 < 0,05
Khuyết xạ diện rộng 3,52* 1,16 - 10,7 < 0,05
SRS > 13 4,32* 1,92 - 9,69 < 0,001
SSS > 13 3,07* 1,28 - 7,35 < 0,05
EF ≤ 40% 2,05* 1,18 - 3,56 < 0,05
ESV > 70 ml 2,30* 1,17 - 4,51 < 0,05
Cơ tim sống còn 0,74 0,43 - 1,30 > 0,05
* Nguy cơ tương đối tăng có ý nghĩa thống kê
Khuyết xạ cố định, mức độ nặng, diện rộng, điểm SRS > 13, SSS > 13,
EF ≤ 40% và ESV > 70 ml làm tăng nguy cơ suy tim (p < 0,05).
3.3.4. Giá trị tiên lượng của XHTMCT đối với biến cố tử vong
Bảng 3.29. Các thông số trên xạ hình tưới máu cơ tim ở nhóm
không và có biến cố tử vong
Các thông số
định lượng
Tử vong
pKhông (n = 120) Có (n = 16)

* Nguy cơ tương đối tăng có ý nghĩa thống kê
Điểm SRS > 13, SSS > 13, EF ≤ 40% và ESV > 70 ml làm tăng
nguy cơ tử vong với RR lần lượt 6,04; 7,42; 4,03 và 11,5 (p < 0,05).
3.3.5. Giá trị tiên lượng của XHTMCT đối với biến cố tái tưới máu
Bảng 3.32. Các thông số trên xạ hình tưới máu cơ tim ở nhóm
không và có tiến hành tái tưới máu
Các thông số
định lượng
Tái tưới máu mạch vành
p
Không (n = 81) Có (n = 55)
n % n %
SRS
X ± SD 14,4 ± 5,39 12,5 ± 5,31 > 0,05
≤ 8 11 13,6 16 29,1
> 0,059 - 13 24 29,6 12 21,8
> 13 46 56,8 27 49,1
SSS
X ± SD 17,4 ± 5,79 16,9 ± 5,49 > 0,05
≤ 8 5 6,2 4 7,3
> 0,059 – 13 21 25,9 15 27,3
> 13 55 67,9 36 65,4
SDS
X ± SD 2,9 ± 1,9 4,5 ± 1,93 < 0,001
0 - 1 23 28,4 3 5,5
< 0,0012 - 6 53 65,4 40 72,7
≥ 7 5 6,2 12 21,8
17
ESV, EF, WMS đánh gía bằng Gated SPECT
ESV X ± SD 72,4 ± 21,66 63,6 ± 19,52 < 0,05

sống
(n = 77)
p
n % n %
Biến cố chung 41 70,7 62 79,5 > 0,05
CĐTN và/hoặc
NMCT tái phát
13 22,4 32 41 < 0,05
18
Suy tim 18 31 18 23,1 > 0,05
Tử vong 9 15,5 7 9 > 0,05
Tái tưới máu 10 17,2 45 57,7 < 0,001
Tỷ lệ biến cố CĐTN và/hoặc NMCT tái phát (41%), phải tiến
hành tái tưới máu (57,7%) cao hơn rõ rệt ở nhóm có vùng cơ tim còn
sống với p < 0,05 và p < 0,001.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Tuổi trung bình của các BN nghiên cứu là 64,5 ± 11,93. Chủ yếu
nam giới (85,6%). Yếu tố nguy cơ hay gặp nhất là tăng huyết áp
(60,4%), rối loạn lipid máu có 41 BN (29,5%), thừa cân 48 BN
(34,5%), hút thuốc lá 30,9%, 15,1% đái tháo đường (bảng 3.1).
4.2. Đặc điểm tổn thương trên xạ hình tưới máu cơ tim
Trong số 139 BN nghiên cứu được chụp XHTMCT vào thời điểm
15,1 ± 1,09 ngày sau NMCT cấp, 114 BN (82%) gắng sức bằng
dipyridamole và 25 BN (18%) gắng sức thể lực.
4.2.1. Một số đặc điểm chung của tổn thương trên XHTMCT
Mức độ tổn thương trên XHTMCT thể hiện bằng mức độ giảm
mật độ tập trung phóng xạ tại cơ tim, điều này phản ánh tình trạng
tưới máu cơ tim. Khuyết xạ có hồi phục là khi độ tập trung mật độ
phóng xạ tại vùng khuyết xạ ở pha gắng sức cải thiện rõ so với pha

hơn rõ rệt ở nhóm ESV > 70ml và EF ≤ 40% (p < 0,01). Có tương quan
thuận giữa điểm SRS và SSS với ESV (r = 0,74; p < 0,001 và r = 0,73; p <
0,001) và WMS (r = 0,72; p < 0,001và r = 0,69; p < 0,001). Trái lại, SRS,
SSS có tương quan nghịch với EF (r = - 0,5; p < 0,001 và r = - 0,47; p <
0,001). Nghiên cứu của Chareonthaitawee P. và cs cho thấy có sự
tương quan thuận giữa kích thước vùng nhồi máu và ESV. Ndrepepa
20
G. và cs nghiên cứu trên 626 BN sau NMCT thấy có sự tương quan
nghịch giữa EF% và mức độ khuyết xạ.
4.3. Giá trị tiên lượng một số biến cố tim mạch của XHTMCT
XHTMCT là phương pháp thăm dò an toàn và chính xác, để phân
tầng nguy cơ và quyết định chiến thuật điều trị ở những BN sau
NMCT. Nhìn chung, các BN sau NMCT được chia làm 3 nhóm:
nhóm có nguy cơ tai biến tim mạch cao thường có biểu hiện suy chức
năng thất trái, thiếu máu tồn dư trên XHTMCT và loạn nhịp phức
tạp. Ngược lại, những BN có nguy cơ thấp có chức năng thất trái bảo
tồn, không có biểu hiện thiếu máu khi làm các nghiệm pháp gắng sức
và không có bằng chứng của loạn nhịp phức tạp. Những BN có nguy
cơ trung bình thường có 1 hoặc hơn các đặc điểm nêu trên. Khi nguy
cơ thấp, bác sỹ tim mạch thường lựa chọn phương pháp điều trị nội
khoa và cho xuất viện sớm. Với những BN có khuyết xạ diện rộng
mà do sẹo nhồi máu thì điều trị nội khoa bảo tồn là tối ưu. Trái lại,
những BN có vùng thiếu máu cơ tim rộng biểu hiện bằng vùng
khuyết xạ có hồi phục thì biện pháp tái tưới máu là cần thiết.
Trong số 139 BN sau chụp XHTMCT trong nghiên cứu của chúng
tôi, có 136 BN theo dõi được trong thời gian trung bình 20,5 ± 11,18
tháng. Biến cố tim mạch thường gặp nhất là phải tiến hành tái tưới
máu (40,4%), CĐTN và/hoặc NMCT tái phát (33,1%) và suy tim
(26,5%). Có 16 BN tử vong chiếm 11,8%. BN có biến cố tim mạch
chung là nếu sau NMCT xảy ra ít nhất 1 trong 4 biến cố trên .

trái. Theo thời gian, sự xơ hóa và thoái hóa các tế bào cơ tim làm
giảm khả năng giãn và co bóp của thất trái dẫn tới suy tim. Trên
XHTMCT, khuyết xạ cố định thường là biểu hiện của sẹo NMCT, độ
rộng khuyết xạ phản ánh kích thước vùng nhồi máu. Chúng tôi thấy
tỷ lệ BN có tổn thương khuyết xạ cố định, mức độ nặng và diện rộng
cao hơn rõ rệt ở nhóm có biến cố suy tim. Điểm SRS, SSS, ESV,
22
WMS trung bình cao hơn và EF thấp hơn cũng như tỷ lệ BN có SRS >
13 và SSS > 13 cao hơn có ý nghĩa ở nhóm suy tim (p < 0,05) (bảng
3.26). Khuyết xạ cố định, mức độ nặng, diện rộng, điểm SRS > 13, SSS
> 13, EF ≤ 40% và ESV > 70 ml làm tăng nguy cơ xảy ra suy tim với
RR lần lượt là 4,18; 4,02; 3,52; 4,32; 3,07; 2,05 và 2,3 (p < 0,05) (bảng
3.27).
4.3.4. Giá trị tiên lượng của XHTMCT đối với biến cố tử vong
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mức độ tổn thương bằng định
tính, cho điểm định lượng cùng với thể tích và chức năng thất trái trên
XHTMCT là những yếu tố tiên lượng nguy cơ tử vong sau NMCT.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi gặp 16 BN tử vong, đều có khuyết xạ
diện rộng. Giá trị trung bình của SRS, SSS, ESV, WMS cao hơn và EF
thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm tử vong so với nhóm sống sót lần lượt là
(16,5 ± 5,13 so với 13,2 ± 5,35), (19,9 ± 4,82 so với 16,8 ± 5,69),
(84,6 ± 12,33 so với 66,7 ± 21,27), (18 ± 5,02 so với 13,3 ± 6,48)
và (37,2 ± 13,54 so với 50,5 ± 16,37) với p < 0,05 (bảng 3.29).
Điểm SRS > 13, SSS > 13, ESV > 70 và EF ≤ 40% làm tăng nguy
cơ tử vong với RR tương ứng là 6,04; 7,42; 11,5 và 4,03 ( p < 0,05)
(bảng 3.30). Nghiên cứu MPRG trên 799 BN và TIMI trên 2.567 BN
sau NMCT cho thấy mức độ suy chức năng thất trái liên quan với tỷ lệ
tử vong.
4.3.5. Giá trị tiên lượng của XHTMCT đối với biến cố tái tưới máu
Theo Mahmarian J.J. cs thì những BN sau NMCT có khuyết xạ

phương pháp Gated SPECT và theo dõi một số biến cố tim mạch của
136 BN trong thời gian trung bình 20,5 ± 11,18 tháng, chúng tôi có
một số kết luận sau:
1. Đặc điểm tổn thương trên xạ hình Gated SPECT tưới máu cơ
tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim
24
- Các tổn thương khuyết xạ mức độ nặng chiếm tỷ lệ 80,6%, diện
rộng 75,5%, tổn thương nặng với điểm SRS > 13 có tỷ lệ 52,5% và
SSS > 13 là 66,2%. Tỷ lệ tổn thương khuyết xạ thiếu máu có hồi
phục là 64% và điểm chênh lệch giữa hai pha SDS từ 2 - 6 là 68,3%,
SDS ≥ 7 là 12,3%.
- Có mối tương quan chặt chẽ giữa các thông số định lượng
tưới máu và thông số đánh giá chức năng thất trái theo phương
pháp Gated SPECT (p < 0,001). Điểm SRS, SSS trung bình và tỷ lệ
BN có SRS > 13, SSS > 13 cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm
ESV > 70 ml và EF ≤ 40% so với nhóm ESV ≤ 70 ml và EF > 40%
(p < 0,01).
- Tỷ lệ BN có vùng cơ tim còn khả năng sống trên XHTMCT là
56,8%. Tổn thương đa mạch chiếm tỷ lệ 61,2%. Bên cạnh tổn thương
NMCT tại vùng cơ tim được chi phối của động mạch vành thủ phạm
gây nhồi máu, XHTMCT còn phát hiện thêm 54,4% số BN sau
NMCT có TMCT tại các vùng chi phối bởi các nhánh ĐMV khác.
2. Giá trị tiên lượng một số biến cố tim mạch của tổn thương trên
xạ hình Gated SPECT tưới máu cơ tim ở bệnh nhân sau nhồi
máu cơ tim
- Điểm trung bình của SRS, SSS, SDS và WMS cao hơn có ý
nghĩa ở nhóm có biến cố tim mạch so với nhóm không có biến cố tim
mạch (p < 0,05). Điểm SRS > 13 và SSS > 13 làm tăng nguy cơ xảy
ra biến cố tim mạch sau NMCT (RR = 1,36 và 1,46; p < 0,01).
- Các đặc điểm khuyết xạ có hồi phục, điểm SDS ≥ 7 và tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status