Nghiên cứu đặc điểm và giá trị xã hội của thể thao giải trí ở hà nội - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
–––––––––––––––––––––

LÊ HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA
THỂ THAO GIẢI TRÍ Ở HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

BẮC NINH, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
–––––––––––––––––––––

LÊ HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA
THỂ THAO GIẢI TRÍ Ở HÀ NỘI

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số:
62 14 01 03
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS.TS DƯƠNG NGHIỆP CHÍ



1

Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

4

1.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội của Hà Nội.

4

1.1.1. Vị trí địa chính trị, địa kinh tế và tổ chức hành chính

4

1.1.2. Tiềm năng và lợi thế về kinh tế

5

1.1.3. Tiềm năng về xã hội

6

1.2. Khái quát về thể thao giải trí

8

1.2.1. Một vài khái niệm có liên quan

8


34

2.1.2.Phương pháp phỏng vấn

34

2.1.3. Phương pháp điều tra xã hội học

34

2.1.4. Phương pháp chuyên gia

34

2.1.5. Phương pháp toán học thống kê

35

2.2. Tổ chức nghiên cứu

36


2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

36

2.2.2. Khách thể nghiên cứu


thể thao giải trí
3.1.4. Bàn luận về thực trạng thể thao giải trí

68

3.2. Đặc điểm hoạt động của các tổ chức thể thao giải trí ở các quận

71

của Hà Nội
3.2.1. Mô hình tổ chức tập luyện thể thao giải trí ở các quận

71

3.2.2. Đặc điểm hoạt động của các tổ chức thể thao giải trí ở Hà Nội

73

3.2.3. Bàn luận về loại hình tổ chức thể thao giải trí

91

3.3. Giá trị của thể thao giải trí ở Hà Nội

95

3.3.1. Giá trị về sức khỏe thể chất của thể thao giải trí

96



BQ

Bình quân

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CLB

Câu lạc bộ

CSVN

Cộng sản Việt Nam

DS

Dân số

GDTC

Giáo dục thể chất

HDKH

Hướng dẫn khoa học

HLV


TT

Thể thao

UBND

Ủy ban nhân dân

VĐV

Vận động viên

XHH

Xã hội hóa


DANH MỤC BẢNG, BIỀU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Thể loại

Số TT

Nội dung

Trang

1.1

Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế Hà Nội thời kỳ 20052012

Mức độ tham gia các hoạt động giải trí ngoài trời
Các nguyên nhân khó khăn không thường xuyên tham
gia các hoạt động thể thao giải trí
Các hoạt động giải trí trong nhà ưa thích trong năm của
người tập thể thao giải trí

6

1.2
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
Bảng
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
Bảng


3.21
3.22
3.23
3.24
3.25
3.26
3.27
3.28
3.29
3.30

3.31
3.32
3.33
Biểu
đồ

3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8

thao giải trí
Đánh giá về hệ thống công viên, dịch vụ giải trí và các
vấn đề liên quan
Khảo sát thu nhập cá nhân của người tập thể thao giải

giải trí
Địa điểm của những người tham gia tập luyện thể thao
giải trí
Thời điểm tập luyện thể thao giải trí của người dân
Hoạt động của người tập thể thao giải trí vào ngày nghỉ
cuối tuần
Thời gian tập luyện trong tuần của người tham gia thể

Sau
tr.64
66
72
75
78
81
84
87
89
90

96
103
107
47
53
54
54
55
56
57

Tình hình ăn ngủ của những người tập thể thao giải trí
Hiện trạng nhịp thở và huyết áp của những người tập thể
thao giải trí
Tình trạng bệnh tình của những người tập thể thao giải trí
Khả năng vận động của những người tập thể thao giải trí
Tự đánh giá về trạng thái sức khỏe của người tập thể thao
giải trí
Tự đánh giá của người tập thể thao giải trí về một vài đặc
điểm của quá trình tâm lý
Khả năng tự lượng sức mình và làm chủ bản thân của
người tập thể thao giải trí
Một vài cảm xúc của người tập thể thao giải trí
Thái độ đối với công việc của những người tập thể thao
giải trí
Năng lực làm việc của những người tập thể thao giải trí
Những người tập thể thao giải trí trong cuộc sống gia
đình và xã hội
Phân loại giải trí
Mô hình tổ chức thể thao giải trí ở các quận nội thành
Hà Nội

67
91

98
98
99
100
101
102

mẽ. Thể thao giải trí đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên
cứu, đem lại những kết quả tốt, tuy nhiên còn cần tiếp tục nghiên cứu để phát
triển. Trong các kết quả nghiên cứu về thể thao giải trí chưa thấy nghiên cứu
sâu về đặc điểm, giá trị của thể thao giải trí. Trong khi đó đây lại là những vấn
đề quan trọng, cần thiết làm rõ để có căn cứ và tính kích thích tiếp tục phát
triển thể thao giải trí đạt hiệu quả cao hơn.
Thể thao giải trí được xác định giữ vị trí quan trọng nhất trong thể dục
thể thao quần chúng, cần nghiên cứu ngày càng sâu hơn. Chính vì vậy, tôi lựa
chọn đề tài khoa học: “Nghiên cứu đặc điểm và giá trị xã hội của thể thao
giải trí ở Hà Nội”.
Đây là một đề tài khoa học cần thiết nhưng tương đối rộng, vì vậy tác giả
giới hạn một số vấn đề trọng tâm cần nghiên cứu như dưới đây:


2

Nghiên cứu đặc điểm xã hội của thể thao giải trí giới hạn ở các đặc điểm
có liên quan tới hoạt động thể thao giải trí trong xã hội.
Thứ hai, nghiên cứu giá trị xã hội của thể thao giải trí tức là nghiên cứu
những giá trị đối với sức khỏe thể chất (bao gồm sức khỏe tâm, sinh lý); sức
khỏe tinh thần và giá trị xã hội của thể thao giải trí có liên quan đến công việc
lao động, học tập, năng lực lao động, quan hệ xã hội...
Chính nhờ những giá trị đối với xã hội của thể thao giải trí, lĩnh vực này
mới có triển vọng phát triển mạnh mẽ sau này.
Mục đích nghiên cứu :
Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực tiễn phát triển thể thao giải
trí, một bộ phận quan trọng của thể dục thể thao quần chúng để làm sáng tỏ đặc
điểm, giá trị đối với xã hội của thể thao giải trí ở Hà Nội, tạo bước tiến có hiệu
quả cho sự phát triển thể thao giải trí.
Nhiệm vụ nghiên cứu :

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội của Hà Nội.
1.1.1. Vị trí địa chính trị, địa kinh tế và tổ chức hành chính.
Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện
tích và thứ hai về dân số với 6,449 triệu người. Thuộc đồng bằng sông Hồng
trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ
những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu
tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên
Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh
thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền
Bắc. Khi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và
Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.
Nằm ở phía Tây Bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị
trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp
với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam, Hòa Bình phía Nam;
Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông; Hòa Bình, Phú Thọ phía Tây.
Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện
nay có diện tích 3.324,92 km², gồm một thị xã, 12 quận và 18 huyện ngoại
thành. Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả nước. Theo số liệu năm
2000, GDP của Hà Nội chiếm 7,22% của cả quốc gia và khoảng 41% so với
toàn vùng Đồng bằng sông Hồng. Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà
Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu. Năm
2008, GDP của thành phố tăng khoảng 10,6%, GDP bình quân đầu người đạt
1069 USD/năm [70], [71]. Hà Nội có vị trí địa chính trị, địa kinh tế tạo ra nhiều
tiềm năng và lợi thế cho phát triển thể dục thể thao trong bối cảnh kinh tế trong
nước tăng trưởng khá, tăng cường toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.


5



6

trung tâm thể thao giải trí mới được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu tập luyện,
nhu cầu giải trí thư giãn của người dân thành phố như: Hà Nội Club (76 Yên
Phụ) là địa điểm tập Golf trên mặt hồ Tây; Star Bow (Phường Kim Liên, Đống
Đa) là trung tâm vui chơi giải trí bao gồm Bowlling, thể dục thẩm mỹ, thể dục
thể hình, game...; câu lạc bộ mô hình Tàu thủy sinh hoạt vào các chiều thứ 6 tại
hồ Đống Đa gồm khoảng trên 100 thành viên; câu lạc bộ mô hình Ôtô do
những người ưu thích môn thể thao này thành lập và sinh hoạt tại Sân vận
động Mỹ Đình vào các sáng chủ nhật; Câu lạc bộ mô hình Máy bay, nhảy dù
và dù lượn sinh hoạt vào các ngày thứ 7 tại quận Long Biên, Trượt cỏ ở Láng
Hòa Lạc…
Là trung tâm văn hóa chính trị của cả nước, Hà Nội là nơi tập trung rất
nhiều lao động trí óc, với đặc thù này nhu cầu giải trí ngày một tăng cao. Các
dịch vụ cho giải trí như vậy cũng ngày càng phát triển theo nhằm đáp ứng nhu
cầu vui chơi giải trí, thư giãn của người dân.
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế Hà Nội thời kỳ 2005-2012 [70]

Năm
1. GDP
2. GDP bình quân đầu
người (tr.đồng)
3. Tốc độ tăng trưởng
(%/năm)

2005
92.425

2010

hội hóa. Tất cả những yếu tố trên tạo thành tiềm năng và lợi thế kinh tế của Hà
Nội trong phát triển sự nghiệp TDTT.
1.1.3. Tiềm năng về xã hội.


7

Hà Nội có truyền thống lịch sử ngàn năm văn hiến, nơi tập trung nhiều di
sản văn hoá vật thể và phi vật thể nổi trội, đặc sắc của vùng đồng bằng sông
Hồng và của cả nước, nên có tiềm năng và lợi thế lớn về xã hội cho phát triển
TDTT, thể hiện bằng những đặc trưng chủ yếu sau:
Quy mô dân số lớn, tăng nhanh và đô thị hóa diễn ra nhanh: Hà Nội có
quy mô dân số lớn thứ hai trong số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc TW (sau TP.
Hồ Chí Minh). Dân số năm 2012 có 6.957,3 nghìn người, chiếm 7,84% tổng dân
số cả nước. Dân số tăng nhanh, trong thời kỳ 2006-2016 là 2,4%/năm, có năm
lên đến 3,1% (năm 2008) và tăng qua các năm, chủ yếu do tăng cơ học (di cư).
Bảng 1.2. Dân số Hà Nội thời kỳ 2005-2012 [70]
2005

2010

2011

2012

5.910,2

6.617,9

6.779,3


38,92

42,56

42,49

42,52

3.609,9

3.801,4

3.898,7

3.999,2

61,08

57,44

57,51

57,48

1. Tổng dân số (1000 ng)

4. Dân số thành thị (1.000 ng)
- % so tổng DS
5. Dân số nông thôn (1000 ng)

100 nghìn sinh viên trung cấp chuyên nghiệp và hàng chục cơ sở dạy nghề.
Lực lượng học sinh, sinh viên vừa là chủ thể hoạt động TDTT rất tích cực, vừa
là đối tượng thụ hưởng các dịch vụ TDTT, vừa là nguồn vận động viên tài
năng, vận động viên dự bị để tuyển chọn đào tạo ra những vận động viên tài
năng trong tương lai.
Hà Nội là trung tâm khoa học - công nghệ của cả nước, nơi tập trung
nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học lớn trong đó có nhiều cơ sở liên quan đến
hoạt động TDTT. Vì vậy, Hà Nội dễ dàng phối hợp với các cơ sở nghiên cứu
ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ và y sinh học thể thao trong quá
trình phát triển sự nghiệp TDTT của thành phố.
1.2. Khái quát về thể thao giải trí.
1.2.1. Một vài khái niệm có liên quan.
Vui chơi thư giãn:
Vui chơi thư giãn là đặc trưng của hoạt động giải trí, nó là một nhu cầu
của con người. Thoả mãn nhu cầu này là để đạt được niềm vui. Nghiên cứu về
vui chơi thư giãn, chính là quá trình làm thế nào để có được niềm vui. Niềm
vui và hạnh phúc càng nhiều thì tâm lý, tinh thần càng được thoả mãn. Nó


9

được xây dựng trên nền tảng vật chất nhất định, đồng thời là điều kiện của
niềm vui, hạnh phúc của mọi người.
Mục đích của vui chơi thư giãn là niềm vui, mà niềm vui là một trong
những trạng thái lý tưởng của cuộc sống. Niềm vui thúc đẩy sự khoẻ mạnh của
tâm hồn và thể chất. Nghiên cứu về vui chơi thư giãn từ góc độ sinh lý và tâm
lý, có thể thúc đẩy hoạt động TDTT phát triển.
Từ một góc độ nào đó thì thể thao và thư giãn là một. Niềm vui chính là
một loại cảm giác, nó là sự ước vọng của mọi người, dần dần trở thành một lời
cầu chúc trong cuộc sống và hoạt động thể thao dân gian phương Đông đa số là

Hai là, giải trí liên quan tới văn hóa. Giải trí này thường gắn liền với các
sản phẩm văn hóa giải trí như chiêu đãi, đón tiếp, xem ca nhạc, kịch xiếc, điện
ảnh, tivi....
Ba là, giải trí hiện thực thông thường. Đó là giải trí có tính phổ cập, chủ
yếu bao gồm du lịch giải trí, văn hóa giải trí, xổ số, đặt cược, thể thao giải trí
[9, trg 21-22].
Thể thao giải trí không chỉ bao hàm các phương tiện hoạt động thể lực,
còn bao hàm các phương tiện hoạt động trí tuệ, thư giãn, thưởng thức thi đấu
biểu diễn, cổ vũ thi đấu biểu diễn. Như vậy, thể thao giải trí được coi là
phương thức sinh hoạt giải trí, văn minh, sức khỏe và khoa học của con người.
Ở nước ta, một số nội dung các loại hình thể thao giải trí mới được hình
thành và phát triển chủ yếu ở thành thị: Bowlling, Golf, bóng chuyền mềm, thể
thao dưới nước, thể thao điện tử, du lịch thể thao…; Tại một số Trường đại học
TDTT đã bắt đầu đào tạo cán bộ về thể thao giải trí (Trường đại học TDTT
thành phố Hồ Chí Minh; Trường đại học TDTT Đà Nẵng).
Phân loại giải trí, theo Trương Hồng Đàm, giải trí có thể phân làm hai
loại lớn: giải trí thưởng thức và giải trí thao tác [100].
Giải trí thưởng thức có thể bao gồm thưởng thức bằng mắt, thưởng thức
bằng tai và thưởng thức tổng hợp. Giải trí thao tác tùy theo mức độ tham gia
hoạt động của cơ thể mà có thể phân thành hai loại: giải trí tùy cảm và giải trí
hậu cảm. Giải trí tùy cảm đó là sự cảm nhận sự khoan khoái ngay trong quá


11

trình phát huy thể năng, nỗ lực ý chí của mình. Còn giải trí hậu cảm, đó là sự
cảm nhận khoan khoái khi phát huy cao độ thể năng và nỗ lực ý chí trong quá
trình hoạt động và mang lại thành công.
Cũng theo Trương Hồng Đàm, giải trí liên quan đến thể dục, thể thao,
chủ yếu là giải trí thao tác, còn giải trí thưởng thức đại bộ phận thuộc về người

hậu cảm

Sơ đồ 1.1. Phân loại giải trí (theo Trương Hồng Đàm [100])

Theo Trương Hồng Đàm thì thể thao giải trí là thuộc phạm trù của giải
trí, bao gồm cả giải trí thưởng thức và giải trí thao tác. Tất nhiên, giải trí thao
tác gắn liền với hoạt động TDTT, còn giải trí thưởng thức thì nằm ngoài hoạt
động TDTT.
Như vậy, giải trí thao tác là sự giải trí, trong đó yêu cầu người tham gia
phải dùng những phương tiện có liên quan (bài tập thể lực) để tiến hành hoạt
động, nghĩa là phải tập luyện, qua đó mà cảm nhận được những khoái cảm của
mình trong vận động hoặc sau vận động.


12

Còn giải trí thưởng thức là giải trí được tạo nên bởi những hoạt động
TDTT của người khác (thi đấu, biểu diễn) mà cảm nhận được những khoái
cảm khác nhau. Giải trí thưởng thức trong trường hợp này không khác gì
giải trí phổ biến trong văn hóa, nghệ thuật như xem văn nghệ, đọc sách, xem
biểu diễn...Do đó giải trí thưởng thức có thể bao gồm giải trí thưởng thức
bằng văn hóa, giải trí thưởng thức bằng nghệ thuật và giải trí thưởng thức
bằng TDTT. Hay nói một cách khác, đó là sự hưởng thụ về văn hóa, nghệ
thuật, TDTT...[100].
Thể thao giải trí và sự gắn kết giải trí với TDTT.
Không ít tác giả cho rằng TDTT không chỉ để phát triển thể chất, nâng
cao sức khỏe thể chất mà còn để phát triển sức khỏe tinh thần, thỏa mãn đời
sống tinh thần của con người [9], [11], [13], [35], [92],[97], [101].
Những khái niệm về các lĩnh vực TDTT khác đã có khá nhiều người đề
cập như TDTT, GDTC, TDTT trường học, thể thao...[52], [55], [59].

Trong bài viết của Lương Kim Chung có giới thiệu nhận định của nhà xã
hội học J.R Jelly về thể thao giải trí như sau: “người tham gia thể thao giải trí
có thể tự do lựa chọn môn thể thao mình thích và cảm thấy thoải mái khi chơi
môn thể thao đó” [13, trg 41]. Và ông cũng giới thiệu quan niệm về những
môn thể thao giải trí của hiệp hội chấn hưng thể thao giải trí Nhật Bản cho
rằng: “thể thao giải trí là những môn thể thao mang tính giải trí cao. Ví dụ:
golf, đua xe, lướt sóng...Lúc chơi nó mang lại sự vui vẻ, thoải mái, sự cởi mở
cho tâm hồn, tiêu tan đi mệt mỏi. Và theo Lương Kim Chung, “bất luận môn
thể thao nào rèn luyện sức khỏe thường nhật hàng ngày và lý tưởng nhất đều
có ý nghĩa về mặt giải trí” [13, trg 42].
1.2.2. Sơ lược lý luận về thể thao giải trí:
Thể thao giải trí xuất hiện và phát triển khi thu nhập của người dân tăng
cao, thời gian nhàn rỗi nhiều. Vì vậy nó đươc nhiều quốc gia nghiên cứu từ
thập niên 80 của thế kỷ trước. Nói cách khác, giải trí có trước còn thể thao giải
trí có sau [9].
Do sự phát triển công nghiệp, điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu của mọi
người dân ở nhiều quốc gia khác nhâu nên khái niệm, phân loại thể thao giải trí
ở các nước cũng chưa thống nhất hoàn toàn.


14

Thể thao giải trí là loại hình hoạt động thể dục thể thao quần chúng có ý
thức, có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần của con người, được tiến hành
trong thời gian tự do ngoài giờ làm việc [103].
Theo sự phát triển khoa học kỹ thuật, thời gian tự do tăng, dẫn đến sự
biến đổi quan niệm giá trị và phương thức hoạt động của con người, cần sử
dụng thời gian có lợi. Khi ấy thể thao trở thành công cụ giải trí, trở thành tiêu
chí của đời sống văn minh. Thể thao giải trí ra đời có tác dụng ngày càng lớn
đối với văn hóa – xã hội. Thể thao giải trí chính là thể thao trong thời gian tự

Phương pháp kinh tế được dùng để nghiên cứu những quy luật về kinh tế và
giá trị kinh tế của thể thao giải trí. Phương pháp văn hóa học thường để nghiên
cứu nguồn gốc văn hóa và giá trị văn hóa của thể thao giải trí. Phương pháp
mỹ học được dùng để nghiên cứu các góc độ mỹ học, nhu cầu mỹ học, giá trị
thưởng thức thẩm mỹ của thể thao giải trí. Các phương pháp lý luận chung
cũng thường dùng để nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành thể thao giải trí, các
loại hình thể thao giải trí mới [103].
1.2.2.1. Vị trí và đặc điểm của thể thao giải trí:
Ngay từ những năm 60-70 của thế kỷ trước, thế giới đã bắt đầu nhận biết
chức năng về giải trí và hồi phục sức khoẻ của TDTT. Nhận thức này đã ảnh
hưởng đến TDTT nước ta, thể thao giải trí bước đầu được khẳng định có vị trí
trong nền TDTT nước ta tại bộ “Luật thể dục, thể thao” được Chủ tịch Nước
CHXHCN Việt Nam ký lệnh công bố số 22/2006/L-CTN ngày 12 tháng 12
năm 2006 đã coi thể thao giải trí như là một bộ phận cấu thành của TDTT quần
chúng (chương II) và đã xác định ở điều 18 là:
Nhà nước tạo điều kiện phát triển các môn thể thao giải trí nhằm đáp
ứng nhu cầu giải trí của xã hội.
Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao có trách nhiệm hướng dẫn
hoạt động thể thao giải trí.
Đồng thời tại điều 11 của Luật cũng đã xác định: “Nhà nước có chính
sách đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển thể dục, thể thao quần
chúng, tạo cơ hội cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sức khỏe,
tình trạng khuyết tật được thực hiện quyền hoạt động thể dục, thể thao để nâng
cao sức khỏe, vui chơi, giải trí” [54].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status