nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của mắt cận thị cao ở người trưởng thành và kết quả điều trị bằng phương pháp tán nhuyễn thể thủy tinh - Pdf 24

Đặt vấn đề
Cận thị là một tật khúc xạ hay gặp nhất, chiếm khoảng 25% tổng dân số
trên thế giới. Cận thị gồm cận thị sinh lý (cận thị đơn thuần) và cận thị bệnh lý
(cận thị cao). Theo thống kê, nhóm cận thị bệnh lý chiÕm 2,1% ở Mỹ, 1,6% -
2,1% tổng dân số ở Châu Âu [8]. Đây là tình trạng bệnh lý nặng, do sù kéo dài
quá mức của trục nhãn cầu, thường kèm theo những biến chứng nghiêm trọng.
Cận thị bệnh lý là nguyên nhân đứng thứ 7 gây mù loà ở Mỹ, là gánh nặng kinh
tế và xã hội đáng kể [9]. Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã đưa ra mục tiêu toàn cầu
thanh toán mù loà gây ra do các bệnh có thể tránh được vào năm 2020, trong đó
tật khúc xạ được ưu tiên hàng đầu.
Cận thị cao gây ra những biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và phức tạp ở
hầu nh tất cả các thành phần trong nhãn cầu. Việc thăm khám lâm sàng một cách
có hệ thống toàn bộ nhãn cầu kết hợp với siêu âm, điện võng mạc (ĐVM)… rất
quan trọng trong việc chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh, tiên lượng bệnh cũng
như xác định phương hướng điều trị thích hợp.
Từ trước đến nay, có nhiều phương pháp điều trị cận thị nặng như: mang
kính gọng, mang kÝnh tiếp xúc, đắp củng mạc (Epikeratomileusis), Laser
Excimer, đặt thể thủy tinh nhân tạo trong tiền phòng, hậu phòng, lấy thể thủy
tinh còn trong và đặt thể thủy tinh nhân tạo thay thế … Mỗi phương pháp đều có
những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, đứng trước mỗi trường hợp, người
thầy thuốc cần phải xem xét thận trọng lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp.
Vì những đặc điểm bệnh lý nặng và những nguy cơ biến chứng có thể xảy ra
trong và sau mổ lấy thể thủy tinh trên mắt bị cận thị cao nên trước đây, các nhà
nhãn khoa thường chỉ định mổ lấy thể thủy tinh ở giai đoạn rất muộn khi thể
thủy tinh đã đục nhiều. Ngày nay, với những ưu thế lớn của phương pháp mổ tán
1
nhuyễn thể thủy tinh bằng siêu âm (phacoemulsification), với những ưu việt của
dịch nhầy các tác giả đã chỉ định mổ lấy thể thủy tinh rất sớm, ngay cả khi thể
thủy tinh còn trong hoặc chỉ đục rất Ýt để điÒu trị cận thị, phục hồi thị lực, mang
lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh, góp phần giải phóng mù loà.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng tán nhuyễn thể thủy tinh và

1,336 và độ tụ của quang hệ là 45D.
- Lưỡng chất cầu thủy tinh thể trước: là quang hệ tạo nên do mặt cong
trước thủy tinh thể ngăn cách thủy dịch với thủy tinh thể. Bán kính cong mặt
trước thủy tinh thể khoảng 10 mm, chiết suất trung bình 1,388 và độ hội tụ của
quang hệ là 7D.
- Lưỡng chất cầu thủy tinh thể sau: là quang hệ tạo nên do mặt cong phía
sau thủy tinh thể ngăn cách thủy tinh thể với dịch thủy tinh. Bán kính cong mặt
sau thủy tinh thể khoảng 8mm, chiết suất dịch thủy tinh là 1,36 và độ hội tụ của
quang hệ khoảng 12D.
Ba lưỡng chất cầu trên có cùng trục chính và hợp lại thành một hệ quang
học. Hệ này coi nh được ghép bởi ba hệ quang học có chiết suất khác nhau. Ánh
sáng xuyên vào mắt sẽ bị khúc xạ khi truyền qua ba lưỡng chất cầu và cuối cùng
sẽ tác dụng lên các tế bào thần kinh ở võng mạc. Nh vậy hệ quang học của mắt
3
H×nh 1.1. Con m¾t íc lîc
sẽ có một tâm điểm duy nhất. Nhờ đặc điểm này mà chúng ta có thể thay thế ba
hệ quang học gồm ba lưỡng chất cầu bằng một lưỡng chất cầu tổng hợp còn gọi
là con mắt ước lược (Hình1.1).
Lưỡng chất cầu tổng hợp: có mặt cầu ngăn cách môi trường không khí với
môi trường bên trong mắt. Mặt cầu khúc xạ có mặt lồi quay ra phía trước, bán
kính cong 5mm, đỉnh cách giác mạc 2mm, quang tâm cách giác mạc 7mm và
cách võng mạc 15mm, chiết suất của quang hệ là 1,333.
Vì hệ quang học này có môi trường thứ nhất là không khí, môi trường thứ
hai là môi trường bên trong mắt có chiết suất xác định là n nên tiêu cự của lưỡng
chất cầu tổng hợp được tính theo công thức sau:
mm
n
nR
f 20
1333,1

trước võng mạc. Tương tự, viễn điểm của mắt sẽ tạo ảnh ở trước võng mạc, giữa
giác mạc và vô cực quang học [5], [14].
Hình 1.3. Mắt cận thị
5
1.2. cận thị cao :
1.2.1 Định nghĩa cận thị cao:
Cận thị cao (cận thị bệnh lý) là một tình trạng bệnh lý của mắt do có sự
kéo dài quá mức của trục nhãn cầu và thường kèm theo những biến chứng
nghiêm trọng [2], [51].
Có rất nhiều quan điểm định nghĩa thế nào là cận thị cao. Theo phân loại
của Curtin B.J (1985), cận thị được phân ra làm 3 mức độ [51]:
Cận thị thấp <-3 D
Cận thị vừa -3 D ÷ <- 6 D
Cận thị cao ≥ - 6 D
Trong nghiên cứu năm 1998, G.Mackensen lại cho rằng phải cận thị trên
-10D mới được coi là cận thị cao.
Tuy nhiên, phần lớn các bác sỹ nhãn khoa trên thế giới đều thống nhất
mắt cận thị trên -6D và trục nhãn cầu trên 26 mm là mắt cận thị cao [45], [47],
[51]
Cận thị cao ở Việt Nam hiện nay chưa có thống kê chính thức nào [15],
[17]. So với tật khúc xạ nói chung, nó chiếm một tỉ lệ không lớn nhưng thường
gây ra các biến đổi trong nhãn cầu, đặc biệt ở hắc võng mạc. Theo thống kê ở
Mỹ, tỷ lệ mắc cận thị bệnh lý chiếm khoảng 2,1% [9]. Ở các nước Tây Âu, tỷ lệ
này cũng thay đổi từ 1,6 đến 2,1% [9].
Trên mắt bị cận thị bệnh lý, do giãn lồi của vùng hậu cực ra phía sau, nên
dễ gây ra biến chứng ở hắc võng mạc. Chính các biến đổi bất thường này của
đáy mắt có thể gây mù loà. Ở Mỹ, cận thị bệnh lý là nguyên nhân thứ 7 gây mù
loà, nguyên nhân thứ 2 ở Anh và xứ Gall, thứ 9 trong các nguyên nhân gây mù
loà ở người lớn ở mét số nước khác [9] Mù do cận thị thường xảy ra sớm,
6

định, mất dạng cấu trúc của các bó sợi gây kéo dài các sợi củng mạc, sự thay đổi
này cũng gặp trong các bệnh khác như bong võng mạc, teo nhãn cầu.
* Khiếm khuyết của tổ chức ngoại bì và trung bì: Vogt là người đầu tiên
đưa ra khái niệm cận thị là do rối loạn phát triển các mô của mắt. Tăng phát triển
củng mạc kèm theo giảm phát triển võng mạc gây ra sự giãn thụ động của hai tổ
chức này. Thực sự, võng mạc là mô quan trọng nhất của mắt, sự phát triển của
nhãn cầu tương ứng với các giai đoạn phát triển tích cực của võng mạc. Nhưng
theo nghiên cứu của Columbe thì sự phát triển của dịch kính và võng mạc không
thể gây ra giãn nở của nhãn cầu, hơn nữa cũng chưa bao giờ có bằng chứng về tổ
chức học và sự phát triển quá mức của võng mạc ở mắt cận thị. Gần đây, mét lý
thuyết mới xuất hiện cho rằng biểu mô sắc tố bất thường gây ra củng mạc và hắc
mạc thiểu phát. Nó có thể là một khiếm khuyết của ngoại bì và trung bì ở bán
phần sau xảy ra đầu tiên ở vùng ora serata hoặc khiếm khuyết này khu trú vùng
hậu cực làm giãn lồi hậu cực trong cận thị bệnh lý [51] .
1.2.2.2. Tăng lực giãn nở:
- Tăng nhãn áp: Một ví dụ kinh điển là cận thị thứ phát trong glôcôm
người trẻ. Nhãn áp cao gây kéo dài trục nhãn cầu theo từng giai đoạn. Cấu trúc
giải phẫu và sinh lý của củng mạc cho khả năng thích ứng với những biến dạng
bằng cách khôi phục lại kích thước hình thể ban đầu. Trong trường hợp có cấu
trúc bất thường thì khả năng này bị giảm đi, củng mạc thường xuyên chịu biến
đổi về độ căng khi nhắm mắt hoặc liếc mắt sang bên hoặc nhìn quy tụ có thể làm
tăng nhãn áp tới 40 mmHg. Nghiệm pháp Valsalva có thể làm tăng nhãn áp đến
60 mmHg, nhắm mắt chặt có thể làm tăng nhãn áp lên tới 70 mmHg hoặc 110
mmHg. Dụi mắt mạnh là một thói quen xấu hay gặp ở người cận thị nên cũng có
thể làm nhãn áp tăng cao hơn nữa. Những tác động này hoàn toàn có thể gây ra
những biến đổi không hồi phục kể cả ở củng mạc bình thường.
1.2.3. Những biểu hiện lâm sàng của cận thị cao :
8
1.2. 3.1. Thoái hoá dịch kính:
Trên mắt cận thị thoái hoá dịch kính thường xuất hiện sớm luôn gây ra hiện

khởi đầu cho sự hình thành chấm Fuchs. Đó là những tổn thương màu đen hình
tròn hoặc hình elip ở vùng hoàng điểm đôi khi nó có thể lệch về phía mũi, nó
thường nhô cao và có bờ rõ, kích thước khoảng một đường kính gai thị. Theo
thời gian sắc tố có thể bị hấp thụ và di cư đến gây xơ hóa màng tân mạch, có thể
làm bong võng mạc cảm thụ và thay đổi thành dạng chấm Fuchs cũng như màu
sắc chuyển sang màu vàng, đỏ hoặc xanh ngọc do biến đổi Hemoglobin, sau
nhiều năm chấm Fuchs bị phá vỡ cấu trúc trở thành dẹt hơn, bờ không rõ ràng và
mất sắc tố, xung quanh có quầng teo. Ở giai đoạn cuối có thể chỉ còn hình ảnh
của một vài đám sắc tố ở vùng hoàng điểm. Ở người cận thị càng cao thì tỷ lệ
chấm Fuchs càng lớn, đa số các nghiên cứu thấy chấm Fuchs ở phụ nữ nhiều
hơn nam giới với tỷ lệ 2/1 hoặc 3/2, gặp trong 5 - 10% các trường hợp cận thị
nặng, thường xuất hiện cả hai mắt. Tuy nhiên có sự chênh lệch về thời gian từ
vài tháng đến 15 năm (trung bình 2,4 năm). Trong trường hợp cận thị không đều
nhau, mắt cận thị cao hơn thì có nguy cơ tổn hại hoàng điểm lớn hơn, tiên lượng
thị lực ở mắt bị chấm Fuchs rất tồi, thường dẫn tới mù loà [12], [13], [51].
1.2.3.3. Các biến đổi của hoàng điểm:
Hoàng điểm có một vài biến đổi có thể xuất tiết, xuất huyết do màng tân
mạch ngoài ra có thể liên quan đến quá trình teo hắc, võng mạc hoàng điểm.
Mặc dù có thể được cấp máu nhiều từ võng mạc nhưng cũng dễ tạo thành những
vùng teo, những vết rạn ở vùng hoàng điểm là tiền đề cho những tổn thương teo
về sau.
Biến đổi nhẹ nhất của hoàng điểm là tăng sắc tố dạng hạt vùng hoàng
điểm, ánh hoàng điểm cũng khó nhìn thấy hơn do võng mạc và mắt bị dẹt ra
vì tiến triển của dãn lồi củng mạc. Thoái hoá hoàng điểm do cận thị xảy ra
sớm hơn 16 năm so với thoái hoá hoàng điểm tuổi già, nó thường xảy ra cả
hai mắt và gặp ở phụ nữ nhiều hơn. Khi cận thị từ - 20D trở lên thì mắt luôn
có thoái hoá hoàng điểm.
Lỗ hoàng điểm cũng hay gặp trong cận thị cao, các lỗ lớp hoàng điểm
hình tròn cũng có thể gặp ở mắt bình thường do hậu quả của thoái hoá, bệnh
mạch máu võng mạc, viêm, chấn thương v.v

- Thoái hoá đá lát
- Thoái hóa bọt sên
Mỗi loại có hình thái riêng biệt và thay đổi theo thời gian.
* Các vết trắng không Ên là những vùng màu trắng hoặc xám chạy vòng
xung quanh võng mạc vùng chu biên, chúng có thể phẳng hoặc nhô lên như dạng
bãi cát hoặc bãi tuyết, chúng thường có hình dạng không đều phủ hầu như toàn
bộ vùng chu biên, hoặc khu trú chủ yếu ở góc 1/4 thái dương dưới, trong trường
hợp tổn thương phẳng thì có thể lan rộng về phía sau tới xích đạo hoặc các mao
12
mạch phía sau vùng hậu cực. Trên bề mặt của vết trắng không Ên có nhiều chấm
màu trắng vàng hoặc các đường mảnh. Các bệnh nhân có vết trắng không Ên
này đều có bong dịch kính phía sau ở ngoài vùng vết trắng không Ên.
Đa số các chuyên gia về võng mạc đều cho rằng: nguyên nhân của vÕt
trắng không Ên là do co kéo dịch kính võng mạc. Nó chiếm tỉ lệ khoảng 35% ở
người cận thị nặng [51]. Đây là một tổn thương lành tính, tuy nhiên khi nhô cao
chúng thường gây ra những chỗ rách nhỏ và gây bong võng mạc có dịch kính
dưới màng bong.
* Thoái hoá rào:
Là tổn thương quan trọng nhất ở võng mạc chu biên mắt cận thị. Thoái
hóa này Ýt gặp nhất nhưng thường phối hợp với rách và bong võng mạc. Thoái
hoá rào thường lan rộng theo hướng vòng quanh nhãn cầu và xuất hiện vùng
thoái hoá mới đặc biệt trên người trẻ.
Tỉ lệ thoái hoá rào thường xuất hiện ở hai mắt và ở góc thái dương trên.
Những tổn thương thẳng không có sắc tố mà có dạng xương còn gọi là thoái hoá
dạng bọt sên thường được coi là biến đổi của thoái hoá rào do chúng cùng có
cùng vị trí và kèm theo hiện tượng hoá lỏng dịch kính và rách võng mạc lớn hơn.
[20], [51].
* Thoái hoá sắc tố: là loại thoái hoá Ýt được nghiên cứu và tìm hiểu nhất,
nó nhiều lên khi trục nhãn cầu tăng lên. Trục nhãn cầu 21mm có tỉ lệ 0,8% và tới
75% thoái hóa sắc tố ở mắt có trục nhãn cầu >30mm. Tuổi cũng là một yếu tố

bào võng mạc cho đến tận vùng kết thúc đường dẫn truyền thị giác ghi lại được
14
trên lâm sàng, các tác giả đưa ra hệ thống cấu trúc, chức năng của đường dẫn
truyền thần kinh thị giác . Những công trình này là kết quả của quá trình nghiên
cứu trên người và động vật cấp cao có hệ thống thị giác gần với con người.
Hình 1.5. Cấu trúc của đường dẫn truyền thần kinh thị giác.
EMC (2005) “Exploration Ðlectrophysiologiques sensorielles”, Masson Paris.
Quang hóa và hình thành điện sinh học của tế bào thần kinh võng mạc:
Thần kinh võng mạc chứa hai hệ thống thị giác: một là pha sáng hai là pha
tối. Nguồn gốc của pha sáng là tế bào nón được biểu hiện bằng những kích thích
ở mức ánh sáng cao (pha sáng) còn loại thứ hai là những tế bào que được thể
hiện bằng những kích thích ở mức ánh sáng yếu ( pha tối). Hai hệ thống của lớp
tế bào cảm thụ quang nằm ở lớp đầu tiên của võng mạc. Chúng tạo ra lớp rối
15
TÇng 1:Líp tÕ bµo c¶m
thô quang ( tÕ bµo nãn vµ
tÕ bµo que)
CPE: Líp rèi ngoµi.
TÇng 2: Líp tÕ bµo hai
cùc.
CPI: Líp rèi trong.
TÇng 3: Líp tÕ bµo h¹ch
A: TÕ bµo Amacrine.
MB: TÕ bµo hai cùc lïn.
FB:TÕ bµo hai cùc táa lan
cña tÕ bµo nãn.
RB: TÕ bµo hai cùc cña tÕ
bµo que.
H:TÕ bµo n»m ngang.
MG: TÕ bµo h¹ch lïn.

Khi tế bào nón L hay M bị kích thích, năng lượng quang tử được dẫn
truyền bởi quang sắc tố, những tế bào nón trong tình trạng khử cực. Khi không
có kích thích ánh sáng các tế bào này trong trạng thái phân cực cao. Những tế
bào hai cực và những bộ phận tạo thành các synap được khử cực để tế bào hai
cực lùn mở, trả lời cho những kích thích do tăng tần số tạm thời của điện thế
hoạt động. Ngược lại, tạo thành các synap với tế bào hai cực lùn đóng để trả lời
khi giảm tần số của điện thế hoạt động.
Những sợi trục của tế bào hạch lùn đóng và mở tạo thành khoảng 80% sợi
trục của thần kinh thị giác sau khi myelin hóa ở trong lá sàng. Nó theo đường
dẫn truyền P tạo nên đường dẫn truyền tế bào nhỏ (parvollulaire) đến thể gối hai
bên.
Đường dẫn truyền thần kinh M thu nhận những thông tin phối hợp có
nguồn gốc từ tế bào nón M và L. Nó cũng được tạo nên bởi hai loại tế bào hai
cực một là loại mở hai là loại đóng. Khác với đường P những tế bào hai cực ở
khắp nơi. Những sợi trục của tế bào hạch toả lan đóng và mở tạo nên khoảng
20% sợi trục của thần kinh thị giác, chúng cũng theo đường dẫn truyền thần kinh
M tạo nên đường dẫn truyền tế bào lớn (magnocellulaire) đến thể gối hai bên.
17
S, L, M: C¸c lo¹i tÕ
bµo nãn.
B: TÕ bµo que.
P, M, K : Ba ®êng
dÉn truyÒn cña TK
thÞ gi¸c.
Hình 1.6. Đường dẫn truyền của TK thị giác
EMC (2005) “Exploration Ðlectrophysiologiques sensorielles”, Masson Paris.
Đường dẫn truyền K tạo nên những tín hiệu có nguồn gốc trực tiếp từ tế
bào nón S bởi tế bào hai cực mở riêng rẽ (tế bào hai cực của tế bào nón S) và
gián tiếp với tế bào nón L và M bởi những tế bào hai cực tỏa lan tạo thành.
Đường này cũng đi từ lớp trong lá sàng đến thể gối hai bên. Đường dẫn truyền

- Sóng B: Là sóng dương, rộng và nhanh, xuất phát từ lớp tế bào hai cực,
có thể bắt đầu do các tế bào Muller.
- Sóng C: Là sóng lên chậm do phản ứng của biểu mô sắc tố võng mạc.
- Sóng D: Chủ yếu là hiệu ứng tắt của kích thích ánh sáng, như hình ảnh
phản chiếu của sóng A, có giá trị dương.
Trên lâm sàng người ta thường ghi sóng A và sóng B trong môi trường
sáng và tối. Do vậy có thể nghiên cứu riêng biệt chức năng của tế bào nón và tế
19
bào que. Các sóng này thường phức tạp và tạo thành nhiều sóng nhỏ. Điện võng
mạc của mắt cận thị nặng đều tổn hại cả trong 2 pha sáng và pha tối[134]. Tuy
nhiên, có sự thống nhất chung là giảm điện thế trên những mắt cận thị nặng và
khi cận thị tiến triển, có nhiều tổn hại tăng lên thì đáp ứng điện võng mạc có thể
mất hoàn toàn. Ở những bệnh nhân có giảm sút trầm trọng hoặc tiêu huỷ điện
võng mạc thì phải luôn luôn xem xét khả năng phối hợp với thoái hoá sắc tố
võng mạc. Mặc dù điện võng mạc giảm tương ứng với thoái hoá đáy mắt nhưng
không có sự liên quan nhiều với mức độ cận thị. Một số tác giả cho rằng giảm
sóng B có liên quan đến mức độ cận thị [45].
1.2.4.2. Siêu âm:
Siêu âm là một khám nghiệm hết sức cần thiết trong cận thị nặng để theo
dõi tiến triển của bệnh và phát hiện các tổn thương bất thường ở dịch kính võng
mạc. Có 2 loại siêu âm mode A và mode B. Siêu âm A (Amptitude) là đo biên
độ sóng phản xạ, dùng để đo trục nhãn cầu, còn siêu âm B (Brightness) là hình
ảnh thể hiện 2 chiều dùng để khám xét phần sau nhãn cầu.
* Siêu âm mode A:
Áp dụng đo sinh học bằng siêu âm A được Gernet (1965) [6] mô tả lần
đầu tiên, từ đó kỹ thuật này luôn được sử dụng trong nhãn khoa và nó chiếm một
tỷ lệ lớn trong chỉ định siêu âm mắt. Gần đây, siêu âm A là phương pháp đo trục
nhãn cầu và tính công suất IOL trong phẫu thuật thể thủy tinh, đặt thể thủy tinh
nhân tạo. Có rất nhiều phương pháp tính công suât IOL đã được sử dụng, việc
tính toán này dựa vào khúc xạ giác mạc (D) và chiều dài trục nhãn cầu (mm) đo

thường khá lớn, hiển thị rõ hơn trên màn hình siêu âm. Những phản hồi siêu âm
về dịch kính thường thay đổi, di động theo năng lượng của siêu âm, đặc biệt khi
màng dịch kính bị bong. Mối liên quan khi khám dịch kính bằng sinh hiển vi và
21
siêu âm là rất rõ ràng. Siêu âm hữu hiệu hơn sinh hiển vi khi những môi trường
nhãn cầu không còn trong suốt, nó cũng hữu Ých trong việc thăm khám dịch
kính ở vùng chu biên võng mạc.
Sự lão hóa của dịch kính xuất hiện trên màn hình siêu âm bằng những
chấm nhỏ, nó trở nên nhiều và di động hơn khi dịch kính hóa lỏng. Bình thường
hình ảnh của màng hyaloide sau là một màng mỏng Ýt gây phản xạ trên siêu âm,
mềm mại và đều đặn, chỗ nối của nó với màng dịch kính khá rõ. Trong một vài
trường hợp, đặc biệt là cận thị nặng, màng này xuất hiện không liên tục và không
đều đặn.
Khi bong màng dịch kính sau toàn bộ, màng hyaloide sau là một đường
thẳng mềm mại, phản xạ yếu khi đi qua phía trên của thị thần kinh không bị
bong ra. Mặt sau của màng hyaloide khó quan sát trên siêu âm. Thông thường
người ta sẽ tìm thấy một vòng quanh gai thị dưới dạng một hoặc hai chấm có độ
phản âm cao ở cạnh gai thị, một điểm phản âm rất nhiều theo đường của màng
hyaloide hoặc hiếm hơn nữa là một vòng thực sự rõ ràng trên siêu âm. Chỉ
những lát cắt kinh tuyến mới có thể khẳng định bong màng dịch phía sau có gắn
với bong màng hyaloide sau ở màng dịch kính [130]
Khi bong màng dịch kính sau từng phần, màng hyaloide sau chỉ bong
từng phần, trong một hoặc nhiều góc phần tư ở ngoại vi võng mạc hoặc ở
vùng hậu cực.
Bong màng dịch kính sau gần toàn bộ khi người ta nhìn thấy bong màng
hyaloide sau ở tất cả các góc phần tư võng mạc nhưng nó vẫn còn hoặc bám ở
gai thị hoặc dính với dịch kính võng mạc ở vùng hậu cực .
1.2.4.3. Chụp cắt lớp võng mạc (Optical coherence Tomography-OCT):
Chụp cắt lớp quang học kết hợp (OCT) dựa trên nguyên lý giao thoa kết
hợp sang ngắn của Michelson: Mét tia sáng phát ra từ nguồn sáng sẽ đi vào

Điều trị cận thị cao có thể nhằm 3 mục đích:
 Phục hồi chức năng thị giác.
 Phòng ngừa tiến triển.
 Xử lý các biến chứng.
1.3.1. Phương pháp quang học:
1.3.1.1. Mang kính gọng:
Ưu điểm: Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền. Những vùng rìa của kính
dầy có thể điều chỉnh bằng cách nhuộm bờ của kính giống màu gọng hoặc xoay
mặt vát của bờ kính ra trước. NÕu kính quá dày không chấp nhận về mặt thẩm
mỹ có thể sử dụng loại kính có chỉ số khúc xạ cao (siêu mỏng). Mắt kính nhựa
an toàn hơn so với mắt kính thường. Điều này rất quan trọng vì những người bị
cận thị nặng dễ bị chấn thương do dùng kÝnh nhiều gấp 3 lần so với tật khúc xạ
khác nh viễn thị,loạn thị [51].
Nhược điểm: Những thay đổi về bán kính cong và độ dày mắt kính sẽ làm
thay đổi hình dạng và kích thước của hình ảnh, làm cho bệnh nhân không chịu
được kính. Điều này có thể xảy ra ngay cả khi kính cải thiện chức năng thị giác.
Hình ảnh bị thu hẹp khoảng từ 20 đến 35%. Thị trường bị thu hẹp, nhận thức
chiều sâu bị thay đổi, đồng thời yếu tố thẩm mỹ do mang kính quá dày cũng
ảnh hưởng nhiều đến tâm lý và sinh hoạt cả bệnh nhân. Một số bệnh nhân
không được đeo kính do nghề nghiệp cũng như khi hai mắt chênh lệch khúc
xạ quá lớn[10], [11] .
1.3.1.2. Mang kính tiếp xúc (kính áp tròng):
Loại kính này đặc biệt có giá trị trong cận thị nặng. Chúng cải thiện về mặt
thẩm mỹ bên ngoài và tăng thị lực bằng cách giảm hiện tượng thu nhỏ hình ảnh.
Chúng cũng làm mở rộng thị trường. Trong trường hợp cận thị -20D đeo kính
tiếp xúc làm tăng kích thước hình ảnh 27% so với kính thường, tương ứng với
tăng một dòng trên bảng thị lực. Mặt khác có tác giả cũng thấy rằng đối với cận
24
thị từ -15D trở lên đeo kính tiếp xúc cũng làm tăng thị lực hơn mức tăng về mặt
lý thuyết. Điều này có thể được giải thích ngoài việc tăng kích thước hình ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status