Đánh giá chất lượng cuộc sống của sinh viên trong kí túc xá - Pdf 18

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KTX : Ký túc xá
DV : Dịch vụ
ĐH : Đại học
QTKD : Quản Trị Kinh Doanh
HSSV : Học sinh sinh viên
TP : Thành phố
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1: Sự ưa thích sống tại KTX của sinh viên 4 trường ĐH.
Biểu đồ 2: Mức độ tin cậy của sinh viên dành cho 4 trường ĐH.
Biểu đồ 3: Mức độ đáp ứng về trang thiết bị, cơ sở vật chất của 4 trường ĐH
Biểu đồ 4: Năng lực phục vụ của 4 trường ĐH
Biểu đồ 5: Sự quan tâm của nhà trường và ban quản lý KTX.
Biểu đồ 6: Mức giá cả trong các dịch vụ của 4 trường ĐH.
Bảng 1: Khả năng đáp ứng dịch vụ của 4 trường ĐH
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, nền giáo dục đại học ngày càng
được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm phát triển. Bên cạnh việc đầu tư xây
dựng các giảng đường, công trình phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa học,…
việc tạo chỗ ở an toàn, sạch đẹp cho sinh viên cũng đang được chú trọng. Hiện
nay, hầu hết các trường đại học ở Việt Nam đều có Kí túc xá (KTX) dành riêng
cho những sinh viên ở xa nhà, không có điều kiện đi lại nhờ vậy đã giúp họ yên
tâm học tập, sinh hoạt và nâng cao trình độ.
Đại học Thái Nguyên là một trong những chiếc nôi đào tạo nguồn lực cho
khu vực Miền núi và trung du phía Bắc. Cơ cấu tổ chức với nhiều trường ĐH
thành viên, đào tạo đa dạng ngành nghề phục vụ nhu cầu của xã hội. Bên cạnh
vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, Ban lãnh đạo đã tạo điều kiện cải thiện chất
lượng cuộc sống sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngoại tỉnh. Hiện nay, KTX dành

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các sinh viên của 4 trường ĐH sống
trong khu KTX của ĐH Thái Nguyên tại xã Quyết Thắng, TP Thái Nguyên.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2013
Số liệu sơ cấp được khảo sát trong năm 2012.
3.2.2. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành điều tra nghiên cứu 400 sinh viên của 4 trường ĐH
Kinh Tế & QTKD, ĐH Nông Lâm, ĐH Khoa Học, Khoa Ngoại Ngữ, sống trong
khu KTX của ĐH Thái Nguyên.
4. Đóng góp của đề tài
Qua quá trình nghiên cứu và kết quả thu được, nhóm nghiên cứu hy vọng
đề tài nghiên cứu của nhóm sẽ :
4
Giúp các cấp quản lý KTX giải thích một cách khoa học về các nguyên
nhân dẫn đến tình trạng thừa phòng như hiện nay, từ đó có giải pháp khắc phục
tình trạng này.
Là cơ sở giúp Ban quản lý KTX có báo cáo chính xác nhằm giảm nhẹ
được một phần lo lắng của Ban lãnh đạo nhà trường.
Phản ánh chất lượng cuộc sống cũng như những nguyện vọng của các bạn
sinh viên trong KTX đến Ban quan lý KTX.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng cuộc sống của sinh viên trong khu ký túc xá của
ĐH Thái Nguyên
Chương 3: Một số giải pháp cụ thể
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

“Dorm” – “A building consisting of sleeping quarters, usually for university
students.”
Có nghĩa là : “Tòa nhà chứa phòng ngủ, thường cho sinh viên đại học.”
Ở Hoa Kỳ ký túc xá là một nơi cư trú bao gồm các khu phòng ngủ hoặc
toàn bộ các tòa nhà chủ yếu cung cấp nhu cầu về chổ ngủ cho số lượng lớn sinh
viên thường học nội trú, trường cao đẳng hoặc đại học.
Tại Anh, thuật ngữ ký túc xá đề cập cụ thể tới một phòng cá nhân, trong
đó nhiều người ngủ, thường tại một trường nội trú.
1.1.2. Đặc điểm ký túc xá
 Ký túc xá thường được xây dựng trong một khuôn viên tương đối độc
lập và thiết kế theo dạng nhà ở tập thể với nhiều phòng và nhiều
giường trong một phòng hoặc giường tầng, cùng với hệ thống nhà vệ
sinh công cộng, nhà tắm công cộng hoặc các công trình tập thể khác.
 Hầu hết các trường cao đẳng và các trường đại học cung cấp các phòng
đơn hoặc phòng đại trà cho sinh viên của họ, thường là với chi phí nhất
định. Những công trình này bao gồm nhiều phòng như vậy, giống như
một tòa nhà hay căn hộ.
 Hầu hết các ký túc xá rất gần với khuôn viên của nhà trường hơn so
với nhà ở tư nhân. Sự thuận tiện này là một nhân tố chính trong sự lựa
chọn của nơi ở, đặc biệt là đối với sinh viên năm đầu.
1.2. Khái niệm chất lượng cuộc sống và dịch vụ ký túc xá
1.2.1. Chất lượng cuộc sống
1.2.1.1. Khái niệm
Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung
nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi
toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng (well-being)
hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội.
7
Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh
thần. Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống

1.2.2. Dịch vụ ký túc xá
1.2.2.1. Khái niệm
Có 2 cách hiểu phổ biến về dịch vụ:
Định nghĩa 1: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích được một bên cung
cấp cho bên kia.
Quá trình cung dịch vụ có thể liên quan đến những yếu tố hữu hình nhất
định, nhưng về bản chất thì dịch vụ thường là vô hình và không được tạo ra từ
sự sở hữu của bất kỳ yếu tố sản xuất nào.
Định nghĩa 2 : Dịch vụ là một hoạt động kinh tế tạo ra giá trị và những lợi
ích cho người tiêu dùng tại một thời điểm và địa điểm nhất định nhằm mang lại
những sự thay đổi mong muốn có lợi cho người tiêu dùng.
Mục đích của việc tương tác này là nhằm thõa mãn nhu cầu và mong
muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị
cho khách hàng. Dịch vụ là một quá trình có mức độ vô hình cao. Việc tạo ra
hay hình thành một dịch vụ thường xảy ra trong quá trình tương tác giữa khách
hàng với tổ chức, thậm chí có những dịch vụ sẽ không xảy ra nếu không có sự
hiện diện của khách hàng.
Dựa theo định nghĩa về dịch vụ của Zeithaml & Britner có thể định nghĩa
dịch vụ Ký túc xá là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện các hoạt động
liên quan đến KTX tạo ra giá trị sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của sinh viên.
Dựa theo Kotler & Armstrong có thể định nghĩa dịch vụ ký túc xá là bất
kỳ hành động hay lợi ích về các hoạt động ký túc xá mà nhà trường có thể cung
cấp cho sinh viên và ngược lại mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở
hữu nào cả.
1.2.2.2. Đặc trưng của dịch vụ ký túc xá:
Vì dịch vụ ký túc xá cũng là một loại dịch vụ bởi vậy nó cũng có những
đặc trưng của dịch vụ như sau:
 Vô hình (Intangibility): không có hình hài rõ rệt.
9
Không thể thấy trước khi tiêu dùng. Khác với các sản phẩm vật chất, các

trường hợp tiêu thụ dịch vụ đòi hỏi có sự thực hiện cả người cung cấp và người
tiêu thụ. Cho nên, muốn có dịch vụ tốt cần phải có sự thực hiện tốt từ cả hai phía.
Đặc tính không có quyền sở hữu. Thật vậy, với các dịch vụ như dạy học,
khách sạn, hãng hàng không khi sử dụng xong, chúng ta không mang theo
được phòng học hay chỗ ngồi, chỗ nằm trên máy bay hay trong khách sạn để
làm của riêng mà chỉ mua quyền sử dụng của những thứ đó.
1.2.2.3. Phân loại dịch vụ ký túc xá
Có nhiều ngành dịch vụ:
• Cung cấp điện, nước
• Y tế, chăm sóc sức khỏe
• Giáo dục, thư viện
• Thông tin, bưu chính, internet
• Giao thông, vận tải
• Giải trí, thể dục thể thao
• Ăn uống
• Sửa chữa, lắp đặt
1.2.2.4. Thang đo chất lượng dịch vụ
Thang đo được sử dụng nhiều nhất hiện nay là SERVQUAL do
Parasuraman và cộng sự đề xuất năm 1988.
Mô hình Parasuraman:
Để có thể thực hành được, Parasuraman đã cố gắng xây dựng thang đo
dùng để đánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ, theo ông bất kỳ dịch vụ nào
chất lượng cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên:
- Mức độ tin cậy
- Các phương tiện hữu hình.
- Khả năng đáp ứng
- Năng lực phục vụ
- Sự cảm thông
- Giá cả
11

 Số liệu thứ cấp: Thông qua tài liệu, sách báo, trang web và thông tin
thu thập từ ĐH Thái Nguyên.
1.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu đã công bố: Thu thập được chúng tôi tiến hành kiểm tra độ tin cậy
sau đó thống kê dưới dạng bảng để phân tích các vấn đề liên quan
- Số liệu điều tra: Toàn bộ số liệu được xử lý trên máy tính theo các chỉ tiêu
điều tra trên phần mềm bảng tính Excel.
1.3.3. Phương pháp phân tích
 Phương pháp thống kê mô tả
- Phân tổ thống kê: theo trường học.
- So sánh: So sánh giữa các chỉ tiêu nghiên cứu để tính được mức độ điển hình.
 Phương pháp tổng hợp số liệu
Tổng hợp: Vận dụng các chỉ tiêu số bình quân, quy đổi ra tỷ lệ phần trăm
để thấy được tính trùng lặp của kết quả, từ đó có những kết luận cụ thể.
• Phương pháp phân tổ thống kê: Thông qua các tiêu chí để phân tổ để sử
dụng việc tập hợp các số liệu đồng thời xử lý những tài liệu đó. Cụ thể phân tổ
thống kê theo các trường ĐH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trực thuộc trường
đại học Thái Nguyên.
• Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp nhằm phân biệt sự giống và
khác nhau giữa các hiện tượng kinh tế đồng thời chỉ xu hướng của hiện tượng
hay mức độ thay đổi của hiện tượng là như thế nào? Trong đề tài sử dụng
phương pháp này để so sánh mức độ hài lòng của những sinh viên sinh sống
trong khu KTX của trường đại học Thái Nguyên.
• Phương pháp đồ thị: Sử dụng các dạng đồ thị từ bảng tính EXCEL để tiến
hành phân tổ giữa sinh viên các trường ĐH. Cụ thể biểu đồ hình tròn thể hiện cơ
cấu các loại và biểu đồ hình cột để thấy rõ hay mô tả các chỉ tiêu so sánh.
13
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA SINH VIÊN SỐNG
TRONG KHU KÝ TÚC XÁ CỦA ĐH THÁI NGUYÊN

- Nhà Xuất bản
- Trung tâm Học liệu
- Trung tâm Hợp tác Quốc tế
- Trung tâm Giáo dục Quốc phòng
2.1.2. Sứ mệnh và tầm nhìn
2.1.2.1. Sứ mệnh
Đại học Thái Nguyên là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng
cao cho các tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề trên địa bàn, đồng thời thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển
giao công nghệ; góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của
vùng trung du miền núi phía Bắc – vùng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống,
có truyền thống đấu tranh cách mạng, giàu tiềm năng phát triển và có địa bàn
chiến lược dặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối
ngoại của cả nước.
2.1.2.2. Tầm nhìn
Đại học Thái Nguyên trở thành đại học vùng đa ngành, đa lĩnh vực có quy
mô lớn nhất cả nước. Đại học là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng
cao; nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ và quản lý tiên tiến; tham gia
thẩm định và đề xuất các giải pháp, chính sách phát triển phục vụ cho công cuộc
phát triển kinh tế xã hội bền vững của khu vực trung du miền núi phía Bắc, góp
phần đưa vùng phát triển cùng với tiến trình phát triển chung của đất nước theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”. Đồng thời, góp phần đưa giáo dục đại học nước
ta tiến kịp và hội nhập với giáo dục đại học thế giới.
2.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của khu KTX ĐH Thái Nguyên
2.1.4.1. Lịch sử hình thành
15
Theo thống kê, Thái Nguyên là trung tâm giáo dục lớn thứ 3 toàn quốc,
sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Hiện nay trên địa bàn thành phố có gần 30
trường ĐH, Cao Đẳng và Trung học chuyên nghiệp thuộc các ngành Giáo dục,

Trung tâm Giáo dục quốc phòng Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên).
Ngày 16/6/2009, UBND tỉnh Thái Nguyên và trường ĐH Thái Nguyên đã
khởi công xây dựng khu nhà ở sinh viên ĐH Thái Nguyên tại khu đất trong
khuôn viên trường ĐH Nông Lâm thuộc ĐH Thái Nguyên do Tổng công ty xây
dựng Hà Nội làm chủ thầu. Gồm 16 khối nhà 5 tầng, diện tích xây dựng gần
35.000 m
2
. Và đến tháng 8 - 2010 là phải hoàn tất để đưa vào sử dụng.
Sáng ngày 06/6/2010 tại Khu liên hợp ký túc xá các trường ĐH Thái
Nguyên tọa lạc trên khuôn viên của trường ĐH Nông – Lâm Thái Nguyên, Công
ty CP Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ Xây Dựng (CJSC) – Nhà thầu BOT
dự án Nhà dịch vụ Sinh viên – Đại học Thái Nguyên đã long trọng tổ chức Lễ
khởi công dự án.
Được biết, sau lễ động thổ này, CJSC sẽ cùng với các đơn vị thi công tiến
hành các thủ tục pháp lý cần thiết để nhanh chóng triển khai dự án thành hiện
thực. Dự kiến công trình sẽ được xây dựng trong thời gian là 100 ngày.
Theo đúng tiến độ, công trình xây dựng nhà ký túc xá sinh viên được khởi
công tháng 9/2009, đến tháng 6/2010 là phải bàn giao.
Tuy nhiên, ngay tại thời điểm thi công nhà thầu đã đưa ra nhiều lí do nên
chủ đầu tư đã phải cho lùi tiến độ đến tháng 10/2010.
Tính đến nay, khu KTX đã được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất trong từng
tòa nhà để phục vụ cho cuộc sống của sinh viên các trường. Đặc biệt khu nhà
Dịch vụ sinh viên đã đi vào hoạt động và đáp ứng được phần nào nhu cầu của
sinh viên. Song, khuôn viên của khu KTX vẫn đang trong quá trình xây dựng và
hoàn thành.
2.2. Đánh giá chung về cuộc sống của sinh viên tại khu KTX
Sau khi từ giã mái trường PTTH, các bạn học sinh sẽ bước vào giảng
đường đại học và trở thành sinh viên. Nơi đây sẽ tập hợp nhiều bạn trẻ đến từ
nhiều vùng miền, văn hóa khác nhau, do đó, các bạn sẽ phải thích nghi với
những vấn đề mới.

đóng cổng của các trường là từ 5 giờ – 22 giờ 30 ( đối với mùa hè) và từ 5
giờ 30 phút - 22 giờ 30 ( đối với mùa đông). Đó là thời gian tương đối
hợp lí để sinh viên có thể tự do học tập, làm việc mà mình muốn. Ngoài
18
ra, ở KTX cũng có quy định là nghiêm cấm uống rượu, ai vi phạm sẽ bị
xử lý theo quy định. Đây là quy định rất tốt nhằm bảo vệ sức khoẻ cho
sinh viên và cũng là để tránh xảy ra hiện tượng say rượu gây mất trật tự án
ninh như: ồn ào, cãi nhau, đánh nhau làm ảnh hưởng đến sinh hoạt
những sinh viên khác cùng sinh sống.
• Một thuận lợi khi sống trong KTX là các sinh viên có thể dễ dàng tham
gia học nhóm, thảo luận ngoài giờ hoặc tổ chức các hoạt động ngoại
khóa, giúp các bạn bổ sung kiến thức học được trên ghế giảng đường.
• Gần gũi các bạn trong lớp, khoa, trường, tiện lợi trong việc trao đổi, giao
lưu, học tập, rèn luyện cách sống.
• Dễ dàng nhận biết được các thông tin cần thiết của lớp, khoa, trường do
kênh thông tin "truyền miệng", thuận tiện việc sắp xếp thời gian, công
việc của mình phù hợp.
• Những người bạn cùng phòng trong ký túc coi nhau như một gia đình.
Những khi đau ốm có người ở bên chăm sóc, gặp chuyện không vui có
người ở bên an ủi, sẻ chia.
• Có sân thể thao, bạn sẽ tập luyện cùng mọi người thường xuyên. Tham
gia dễ dàng vào các hoạt động giúp tăng khả năng giao tiếp, các mối quan
hệ, thậm chí là các kĩ năng cần thiết qua các hoạt động như: Sinh nhật bạn
bè, sinh hoạt Câu lạc bộ, hội đồng hương, nhóm học tập
• Dễ trao đổi bài vở: Kí túc xá gồm nhiều bạn học các lớp khác nhau, nên
việc trao đổi bài tập, giáo trình, ngay cả bài kiểm tra cũng nhiều thuận lợi.
• Khi cả phòng học bài nó tạo nên một môi trường nghiêm túc, là động lực
để bạn thi đua, cố gắng học hành. Việc ở gần bạn bè giúp sinh viên có thể
trao đổi kiến thức, cùng nhau giải đáp những thắc mắc bài vở trên lớp.
2.2.2. Nhược điểm

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành lấy phiếu điều tra của 800 bạn sinh viên
với giới tính và lứa tuổi khác nhau thuộc các trường sinh sống tại đây, cụ thể:
• 200 sinh viên trường ĐH Kinh Tế và QTKD
• 200 sinh viên trường ĐH Nông Lâm
• 200 sinh viên trường ĐH Khoa Học
20
• 200 sinh viên trường ĐH Ngoại Ngữ
Sau quá trình tổng hợp, phân tích và tính toán nhóm nghiên cứu đã tổng
hợp được kết quả điều tra theo các tiêu chí:
2.3.1.1. Sự ưa thích sống tại KTX
Qua biểu đồ 1, nhóm nghiên cứu nhận thấy trong số các bạn sinh viên
đang cư trú tại KTX có đa số các bạn thích sống trong KTX. Trong 4 trường thì
ĐH Kinh tế và QTKD tỷ lệ sinh viên thích sống trong KTX chiếm 56% số bạn
được hỏi. Với ĐH Nông Lâm tỷ lệ này là 53%, cao hơn trường ĐH Khoa Học có
tỷ lệ 41% và ĐH Ngoại Ngữ đạt 36% so với số bạn được hỏi.
Biểu đồ 1: Sự ưa thích sống tại KTX của sinh viên 4 trường ĐH
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Sở dĩ có sự chênh lệch trên là do:
 Trường ĐH Kinh tế và QTKD :
 Sinh viên sống trong KTX luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ
nhà trường và ban quản lý KTX.
 Xung quanh giảng đường GK1 và GK2 của trường vẫn chưa có
nhiều nhà trọ xây dựng hoặc có nhà trọ nhưng giá thành quá cao.
 Trong KTX sinh viên được cung cấp đầy đủ các dịch vụ thiết yếu
nếu cần; có bạn cùng lớp học cùng phòng thuận tiện cho việc trao
đổi bài và thông tin của trường.
21
Nguyễn Thị Thủy, tân sinh viên Trường đại học Kinh tế, thuộc diện con
thương binh cho biết : “KTX rất sạch sẽ và đầy đủ mọi tiện nghi, giá lại rất rẻ,
chỉ có 80.000 đồng/tháng. Ở đây có quầy tạp hóa giá cả cũng hợp lý, có phòng

Theo nhiều bạn sinh viên phản ánh lại rằng : “Thông báo tới người quản
lý KTX nhưng đợi rất lâu mới có đội sửa chữa lên sửa và có khi tháo quạt ra
mang đi sửa nhưng phải một tuần sau mới mang đến trả”. Vào mùa hè, có
phòng hỏng cả hai cái quạt mà đội sửa chữa đều mang đi sửa nhưng không có
quạt lắp dùng tạm thời.
Chính điều đó ảnh hưởng đến lòng tin cậy của sinh viên dành cho KTX.
2.3.1.3. Khả năng đáp ứng dịch vụ
Phản ánh qua mức độ đáp ứng dịch vụ y tế - chăm sóc sức khỏe, vệ sinh,
an ninh, dịch vụ căng- tin, vui chơi – giải trí.
Ý kiến của bạn Bùi Thị Liên, tân sinh viên Trường Đại học Kinh tế và
QTKD: “Em mới vào ở đây 5 ngày. Thủ tục đăng ký vào KTX rất đơn giản.
Phòng ở rộng rãi, mát mẻ và thật thoải mái. Em chỉ mong muốn là khu KTX sẽ
có phòng chiếu phim, sân chơi thể dục thể thao phục vụ sinh viên thì thật lý
tưởng, vì ngoài nhu cầu cơ bản là ở ra tụi em còn có nhu cầu giải trí để giải tỏa
những căng thẳng sau giờ lên lớp, nhất là những căng thẳng trong mùa thi”.
Bảng 1: Khả năng đáp ứng dịch vụ của KTX
23
Trường
Dich vụ
ĐH Kinh Tế và
QTKD
ĐH Nông Lâm ĐH Khoa Học ĐH Ngoại Ngữ
Đáp
ứng
tốt
Chưa
đáp
ứng tốt
Đáp
ứng

(44%-74% chưa đáp ứng tốt nhu cầu sinh viên). Tình trạng sinh viên
mắc bệnh ngoài da, bệnh viêm da do tiếp xúc rất cao.
• Đặc biệt là trường ĐH Nông Lâm và ĐH Khoa Học có tỷ lệ
chưa đáp ứng tốt dịch vụ rất cao (73% – 74%). Qua đó cho thấy
dịch vụ y tế - chăm sóc sức khỏe ở hai trường chưa được quan
tâm đúng mức.
• Trường ĐH Kinh Tế và QTKD có tỷ lệ đáp ứng chưa tốt ở mức
58% _ đây là một con số khá cao so với trường ĐH Ngoại Ngữ
(44%). Đây cũng là một điểm lưu ý với các trường, cần tăng
cường vấn đề chăm sóc sức khỏe cho sinh viên vì có sức khỏe
tốt thì mới học tập và làm việc tốt.
 An ninh là vấn đề không thể không nhắc tới. Tình hình mất trộm thường
xuyên xảy ra. Tình trạng mất cắp xe máy, laptop , mất cắp quần áo luôn
xảy ra nhưng vẫn chưa có biện pháp giải quyết triệt để. Nói về vấn đề an
ninh thì đại đa số sinh viên của các trường đều không hài lòng, thể hiện:
24
• Tỷ lệ chưa đáp ứng tốt dịch vụ an ninh của các trường là rất cao:
trường ĐH Kinh tế và QTKD (84%); ĐH Khoa Học (68%); ĐH
Ngoại Ngữ (72%). Nhưng trường ĐH Nông Lâm con số này chỉ
còn 38%.
• Lý do có sự chênh lệch trên là do những dãy nhà KTX của
trường ĐH Nông Lâm gần với nhà dịch vụ sinh viên có khu
trông giữ xe; gần với cổng chính KTX nên lực lượng bảo vệ tập
trung tại khu vực này đông hơn ba trường còn lại. Các KTX của
trường ĐH Kinh Tế và QTKD; ĐH Khoa Học; ĐH Ngoại Ngữ ở
sâu bên trong hơn; hệ thống đèn chiếu không có, lực lượng bảo
vệ ít qua lại, rất xa khu trông giữ xe nên tình trạng mất trộm xay
ra thường xuyên hơn, đặc biệt vào buổi tối.
 Khu KTX của ĐH Thái Nguyên đang trong quá trình thi công, mặc dù
chưa hoàn thành toàn bộ các công trình phụ trợ nhưng cũng đã đáp ứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status